Góc nhìn về đổi mới tuyển sinh đại học

Đổi mới tuyển sinh cần lấy lợi ích của người học làm thước đo cuối cùng

Việc điều chỉnh những quy định trong tuyển sinh đại học như giới hạn điểm cộng, giảm số lượng phương thức xét tuyển cần được xem xét không chỉ từ yêu cầu quản lý mà trước hết từ lợi ích của hai chủ thể thụ hưởng trực tiếp là người học và các cơ sở giáo dục đại học.

Thí sinh trong mùa tuyển sinh năm 2026. (Ảnh: ĐẠI THẮNG)
Thí sinh trong mùa tuyển sinh năm 2026. (Ảnh: ĐẠI THẮNG)

Một chính sách tuyển sinh hiệu quả phải đồng thời bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục đại học công bằng, ổn định cho người học và quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học trong việc tuyển chọn thí sinh phù hợp với yêu cầu đào tạo.

Đổi mới tuyển sinh phải hướng đến hiệu quả thực chất

Những năm gần đây, tuyển sinh đại học ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo hướng đa dạng hóa phương thức xét tuyển và mở rộng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học. Bên cạnh kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông, các trường sử dụng kết quả học tập trung học phổ thông, bài thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy, chứng chỉ quốc tế và một số tiêu chí bổ sung phù hợp với yêu cầu của từng chương trình đào tạo.

Sự đa dạng này tạo thêm cơ hội lựa chọn cho người học, đồng thời giúp các cơ sở giáo dục đại học chủ động tìm kiếm những thí sinh có năng lực phù hợp. Tuy nhiên, thực tế cũng xuất hiện những bất cập như số lượng phương thức xét tuyển quá nhiều ở một số trường, tiêu chí xét tuyển phức tạp, cách cộng điểm và quy đổi kết quả thiếu nhất quán, gây khó khăn cho thí sinh trong việc xác định cơ hội trúng tuyển.

Trong bối cảnh đó, việc có những điều chỉnh là cần thiết để khắc phục những bất cập. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ mục tiêu chính sách với biện pháp quản lý. Những quy định như giảm số lượng phương thức hay giới hạn mức điểm cộng,… chỉ là những giải pháp kỹ thuật, không phải mục tiêu cuối cùng của tuyển sinh đại học.

sch.jpg
Tiến sĩ Sái Công Hồng, Viện trưởng Viện Khảo thí và Đánh giá chất lượng giáo dục, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam. (Ảnh: A.H)

Mục tiêu cốt lõi của tuyển sinh là lựa chọn được những người học có năng lực phù hợp với yêu cầu của chương trình đào tạo, đồng thời bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục đại học công bằng, minh bạch và hiệu quả.

Điều quan trọng không phải là hệ thống tuyển sinh có bao nhiêu phương thức, mà là mỗi phương thức có thực sự cần thiết, có giá trị đánh giá và góp phần nâng cao chất lượng tuyển chọn hay không.

Người học cần công bằng, cơ hội lựa chọn và sự ổn định chính sách

Đối với người học, lợi ích quan trọng nhất của chính sách tuyển sinh là được đánh giá công bằng và có cơ hội lựa chọn con đường phù hợp để tiếp cận giáo dục đại học. Những thí sinh cạnh tranh vào cùng một ngành đào tạo cần được xét tuyển bằng các tiêu chí rõ ràng, có cơ sở khoa học và bảo đảm khả năng so sánh kết quả.

Tuy nhiên, công bằng không đồng nghĩa với việc tất cả thí sinh phải được đánh giá bằng một công cụ duy nhất. Người học có những thế mạnh khác nhau, trong khi các ngành đào tạo cũng có yêu cầu đầu vào khác nhau. Một bài thi có thể đánh giá tốt kiến thức học thuật nhưng chưa chắc phản ánh đầy đủ năng lực ngoại ngữ, tư duy chuyên biệt hoặc khả năng giải quyết vấn đề cần thiết đối với một chương trình đào tạo.

Vì vậy, việc sử dụng nhiều phương thức tuyển sinh, nếu được thiết kế khoa học, có thể giúp người học có thêm cơ hội thể hiện năng lực thực chất. Vấn đề cần giải quyết là chất lượng và sự minh bạch của từng phương thức, chứ không đơn thuần là giảm số lượng phương thức.

Một yêu cầu quan trọng khác là tính ổn định của chính sách. Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, học sinh bắt đầu lựa chọn các môn học từ lớp 10. Việc lựa chọn này thường gắn với định hướng nghề nghiệp, ngành học và phương thức xét tuyển đại học. Nếu đến lớp 12, những điều kiện tuyển sinh căn bản mới thay đổi, học sinh có thể không còn đủ thời gian điều chỉnh kế hoạch học tập.

Đối với những thay đổi căn bản liên quan đến tổ hợp môn, điều kiện và phương thức xét tuyển, cần hướng tới việc công bố trước một chu kỳ học trung học phổ thông, là khoảng ba năm.

Tương tự, những học sinh đã đầu tư thời gian, công sức và nguồn lực để đạt chứng chỉ ngoại ngữ theo định hướng tuyển sinh được công bố trước đó có thể chịu tác động bất lợi khi chính sách cộng điểm thay đổi đột ngột.

Điều này không có nghĩa chính sách phải giữ nguyên trong mọi hoàn cảnh, nhưng những thay đổi ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuẩn bị của người học cần có lộ trình phù hợp.

Công bằng trong tuyển sinh vì thế phải được xem xét trên hai phương diện: Công bằng trong đánh giá và công bằng trong cơ hội chuẩn bị. Một chính sách áp dụng như nhau cho tất cả thí sinh tại thời điểm xét tuyển chưa chắc đã bảo đảm công bằng thực chất nếu một bộ phận học sinh không có đủ thời gian thích ứng.

Đối với những thay đổi căn bản liên quan đến tổ hợp môn, điều kiện và phương thức xét tuyển, cần hướng tới việc công bố trước một chu kỳ học trung học phổ thông, là khoảng ba năm. Học sinh chọn môn từ lớp 10 không thể đến lớp 12 mới biết những thay đổi căn bản về yêu cầu tuyển sinh đại học.

Cơ sở đào tạo cần quyền tự chủ để tuyển chọn đúng người

Nếu người học cần được bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục đại học công bằng thì các trường đại học cần có quyền chủ động lựa chọn những thí sinh phù hợp với mục tiêu và yêu cầu đào tạo. Đây không chỉ là quyền tự chủ mà còn là trách nhiệm của các trường đối với chất lượng đào tạo.

Các cơ sở giáo dục đại học có sứ mạng, định hướng phát triển và đặc thù ngành nghề khác nhau. Một chương trình kỹ thuật có thể chú trọng năng lực toán học và tư duy giải quyết vấn đề; một chương trình đào tạo bằng tiếng Anh cần quan tâm nhiều hơn đến năng lực ngoại ngữ; trong khi những ngành đào tạo đặc thù có thể cần thêm các công cụ đánh giá chuyên biệt.

Vì vậy, khó có thể khẳng định một giới hạn số lượng phương thức xét tuyển là tối ưu cho tất cả các trường và mọi ngành đào tạo. Việc giảm phương thức có thể giúp đơn giản hóa quy trình, giảm chi phí tổ chức và hạn chế những hình thức xét tuyển trùng lặp. Nhưng nếu giới hạn một cách cơ học, chính sách có thể thu hẹp quyền tự chủ và khả năng lựa chọn công cụ đánh giá phù hợp của các trường.

Vấn đề cốt lõi là mỗi phương thức tuyển sinh có đo lường được những năng lực cần thiết đối với chương trình đào tạo hay không. Nếu một phương thức không có giá trị tuyển chọn rõ ràng hoặc cung cấp thông tin gần như trùng lặp với phương thức khác thì việc điều chỉnh, hợp nhất hoặc loại bỏ là hợp lý. Ngược lại, nếu phương thức đó giúp nhận diện những năng lực quan trọng mà các công cụ khác chưa đánh giá được thì cần có cơ chế để tiếp tục sử dụng.

Hiệu quả của phương thức tuyển sinh có thể được nghiên cứu thông qua dữ liệu kết quả học tập của sinh viên sau khi nhập học. Các trường có thể phân tích mối liên hệ giữa kết quả đầu vào với kết quả học tập năm thứ nhất, tiến độ học tập, tỷ lệ hoàn thành học phần và các chỉ báo phù hợp khác. Những phân tích này, nếu được thực hiện trên dữ liệu đủ lớn và qua nhiều khóa tuyển sinh, sẽ cung cấp bằng chứng quan trọng để hoàn thiện phương thức tuyển chọn.

Đồng thời, quyền tự chủ tuyển sinh phải đi đôi với trách nhiệm giải trình. Các trường cần chứng minh tính phù hợp, giá trị đánh giá và hiệu quả của phương thức tuyển sinh, thay vì chỉ công bố phương thức mà thiếu căn cứ kiểm chứng. Về phía cơ quan quản lý, cần tập trung kiểm soát chất lượng và sự minh bạch, thay vì chủ yếu kiểm soát số lượng phương thức được sử dụng.

Quản lý dựa trên tiêu chuẩn chất lượng và bằng chứng

Để chính sách tuyển sinh đạt hiệu quả, cần xác định rõ vai trò của cơ quan quản lý nhà nước và trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học.

Cơ quan quản lý có trách nhiệm thiết lập những nguyên tắc chung về công bằng, minh bạch, chất lượng, trách nhiệm giải trình và bảo vệ quyền lợi người học. Đây là những yêu cầu cần được bảo đảm thống nhất trong toàn hệ thống.

Trong khi đó, việc xác định năng lực đầu vào cần thiết, lựa chọn công cụ đánh giá và xây dựng phương thức tuyển sinh phù hợp với mục tiêu đào tạo trước hết thuộc về trách nhiệm chuyên môn của các trường đại học, trong khuôn khổ pháp luật.

Nếu quản lý quá sâu vào số lượng và hình thức xét tuyển, các trường có thể bị hạn chế khả năng đổi mới trong khi vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo. Ngược lại, nếu quyền tự chủ không đi kèm yêu cầu kiểm chứng và giải trình, việc đa dạng hóa phương thức có thể dẫn đến tùy tiện, thiếu minh bạch.

Vì vậy, hướng quản lý phù hợp là chuyển trọng tâm từ kiểm soát hành chính sang quản lý dựa trên tiêu chuẩn chất lượng và bằng chứng. Các trường cần công khai cơ sở lựa chọn phương thức, nguyên tắc sử dụng kết quả và hiệu quả tuyển chọn; cơ quan quản lý thực hiện giám sát, kiểm tra và xử lý những trường hợp không đáp ứng yêu cầu.

Cách tiếp cận này vừa bảo đảm kỷ cương chung, vừa phát huy quyền tự chủ có trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học.

Đặt lợi ích của hai chủ thể thụ hưởng ở vị trí trung tâm trong đánh giá chính sách

Một chính sách tuyển sinh không thể được đánh giá đầy đủ nếu chỉ xem xét những bất cập của quy định hiện hành và lợi ích quản lý của giải pháp mới. Điều cần thiết là phải phân tích tác động thực tế đối với người học và các trường đại học.

Đối với người học, cần đánh giá chính sách ảnh hưởng như thế nào đến cơ hội trúng tuyển, khả năng lựa chọn ngành học, chi phí chuẩn bị, sự ổn định của kế hoạch học tập và mức độ công bằng giữa các nhóm thí sinh. Đối với trường đại học, cần xem xét tác động đến quyền tự chủ, chất lượng nguồn tuyển, khả năng lựa chọn đúng năng lực, chi phí tuyển sinh và việc thực hiện chiến lược phát triển đào tạo.

Cần so sánh các phương án trên cơ sở dữ liệu. Đặc biệt, những thay đổi chính sách cần được đánh giá trước khi áp dụng và tiếp tục kiểm chứng sau khi triển khai.

Lợi ích của hai chủ thể này về cơ bản có quan hệ gắn bó. Một phương thức tuyển sinh có chất lượng vừa giúp người học được đánh giá đúng năng lực, vừa giúp trường đại học lựa chọn được thí sinh phù hợp. Một chính sách ổn định và minh bạch vừa tạo điều kiện cho học sinh chuẩn bị, vừa giúp các trường chủ động xây dựng kế hoạch tuyển sinh.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chính sách cần cân bằng những lợi ích khác nhau. Việc mở rộng phương thức có thể tạo thêm cơ hội cho người học nhưng làm tăng chi phí tổ chức. Ngược lại, giảm phương thức có thể đơn giản hóa quản lý nhưng thu hẹp những công cụ tuyển chọn có giá trị. Vì vậy, cần so sánh các phương án trên cơ sở dữ liệu.

Đặc biệt, những thay đổi chính sách cần được đánh giá trước khi áp dụng và tiếp tục kiểm chứng sau khi triển khai. Hiệu quả không chỉ thể hiện ở việc giảm được bao nhiêu phương thức hay bao nhiêu điểm cộng, mà còn ở chất lượng tuyển chọn, sự công bằng trong cơ hội tiếp cận giáo dục đại học và mức độ hài lòng, thích ứng của các chủ thể liên quan.

Lấy lợi ích của người học và trường đại học làm thước đo cuối cùng

Việc giới hạn điểm cộng và giảm số lượng phương thức tuyển sinh là hướng điều chỉnh có thể ủng hộ nếu thực sự góp phần nâng cao chất lượng, minh bạch và công bằng. Tuy nhiên, cần tránh tư duy cho rằng cứ giảm điểm cộng là công bằng hơn, cứ giảm phương thức là tuyển sinh hiệu quả hơn.

Điều quan trọng là chính sách phải giải quyết đúng bản chất của những bất cập. Với điểm cộng, cần loại bỏ những lợi thế thiếu căn cứ nhưng vẫn ghi nhận đúng năng lực thực chất. Với phương thức xét tuyển, cần giảm những phương thức trùng lặp, kém hiệu quả nhưng không hạn chế những công cụ đánh giá có giá trị đối với yêu cầu đào tạo.

Đồng thời, mọi thay đổi phải có lộ trình phù hợp, bảo đảm quyền chuẩn bị của học sinh và sự chủ động của các trường đại học. Cơ quan quản lý cần tập trung thiết lập nguyên tắc, tiêu chuẩn chất lượng và cơ chế giám sát; các trường chịu trách nhiệm về lựa chọn phương thức và hiệu quả tuyển sinh.

Suy cho cùng, chất lượng của một chính sách tuyển sinh không nằm ở việc giảm được bao nhiêu điểm cộng hay bao nhiêu phương thức xét tuyển, mà ở chỗ người học có được đánh giá công bằng hơn, có cơ hội chuẩn bị và lựa chọn tốt hơn; đồng thời các trường đại học có tuyển chọn được những thí sinh phù hợp hơn với yêu cầu đào tạo hay không. Đó mới là thước đo thực chất của đổi mới tuyển sinh đại học: Lấy lợi ích của người học và các trường đại học làm trung tâm, thay vì lấy sự thuận tiện trong quản lý làm mục tiêu chủ yếu.

Có thể bạn quan tâm

Hội nghị công bố quyết định và kế hoạch giám sát đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Giáo dục và Đào tạo. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

[Infographic] Đoàn Giám sát của Ban Bí thư thực hiện giám sát chuyên đề về công tác giáo dục phổ thông

Hoạt động giám sát thực hiện theo chương trình tổng thể của Ban Bí thư, nhằm đánh giá khách quan kết quả thực hiện, làm rõ những nội dung còn hạn chế, tồn tại, những vấn đề nhân dân và hệ thống chính trị quan tâm, đề xuất giải pháp tiếp tục đổi mới giáo dục phổ thông trong thời gian tới. 

Hình ảnh tại buổi gặp mặt đội tuyển tham dự Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp thành phố năm học 2026-2027. (Ảnh: Trường THPT Việt Đức)

Hà Nội: Công bố kết quả giải thi chọn học sinh giỏi Thành phố và chọn đội tuyển dự thi cấp quốc gia

Ngày 13/10, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội công bố Quyết định công nhận học sinh đoạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi thành phố và chọn đội tuyển học sinh giỏi dự thi cấp quốc gia các môn văn hóa lớp 12 cấp trung học phổ thông năm học 2026-2027. Năm nay, thành phố có 3.331 học sinh đoạt giải. 

Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng đoàn Giám sát chủ trì hội nghị. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Giám sát việc thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị: Tập trung vào lĩnh vực giáo dục phổ thông

Ngày 13/10, tại trụ sở Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đoàn giám sát của Ban Bí thư Trung ương Đảng về triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tổ chức Hội nghị công bố quyết định và kế hoạch giám sát đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Phiên thảo luận với chủ đề "Gen Z & Dấu chân xanh” tập trung vào những vấn đề thiết thực với người trẻ trong thời đại số. (Ảnh: DƯƠNG TRIỀU)

Trang bị kỹ năng tài chính số an toàn cho sinh viên

Ngày 12/10, tại Hà Nội, báo Tiền Phong phối hợp một số đơn vị tổ chức tọa đàm “Chạm số - Sống xanh” nhằm tạo diễn đàn để sinh viên trao đổi về xu hướng thanh toán số, kỹ năng quản lý tài chính cá nhân, an toàn giao dịch, góp phần lan tỏa thông điệp về lối sống xanh, tiêu dùng có trách nhiệm trong thế hệ trẻ. 

Hoạt động nghiên cứu, thực hành tại Đại học Phenikaa. (Ảnh: THƠM VŨ)

Nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ trong giáo dục đại học

Cùng với đào tạo, công tác nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ là một trụ cột quan trọng của giáo dục đại học. Thời gian qua, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được các cơ sở giáo dục đại học tích cực triển khai nhằm góp phần tạo động lực cho phát triển kinh tế-xã hội đất nước.

Ngày hội quy tụ gần 70 trường đại học và tổ chức giáo dục hàng đầu đại diện cho 17 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu. (Ảnh: BTC)

Hợp tác giáo dục mở rộng ra nhiều cơ hội học tập cho sinh viên Việt Nam tại Liên minh châu Âu

Tuần lễ Giáo dục châu Âu 2026 đã chính thức khép lại sau chuỗi hoạt động sôi nổi diễn ra từ ngày 8-11/10 tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Sự kiện quy tụ gần 70 trường đại học, cơ sở giáo dục đến từ 17 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU), thu hút hơn 2.700 học sinh, sinh viên và phụ huynh.

Một trong 4 ưu tiên của giáo dục Việt Nam trong quá trình chuyển đổi số là đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Trong ảnh: Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cùng các đại biểu tại Triển lãm Giáo dục và công nghệ giáo dục. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Bốn ưu tiên của giáo dục và đào tạo trong quá trình chuyển đổi số

Trong bối cảnh công nghệ số và AI mở ra những cơ hội rất lớn cho giáo dục, nhưng đồng thời đặt ra các thách thức, đòi hỏi người học, người thầy, nhà trường và cả hệ thống giáo dục cũng phải chuyển đổi để không chỉ thích ứng mà còn từng bước làm chủ, định hướng việc sử dụng AI vì sự phát triển của con người.

Các học viên lớp xóa mù chữ ở bản Làng Sáng (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Quản lý bằng dữ liệu với giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ, bảo đảm quyền học tập của người dân

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng quy định về điều kiện bảo đảm, quy trình kiểm tra công nhận đạt chuẩn giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ với quan điểm xuyên suốt là bảo đảm quyền học tập của người dân, quản lý dựa trên dữ liệu, nâng cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện, duy trì kết quả giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ.

Ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác giáo dục giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

24 biên bản hợp tác được trao tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số

Trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số, 24 biên bản ghi nhớ (MOU) giữa các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục, tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác quốc tế đã được ký kết. Nội dung hợp tác tập trung vào đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực, giáo dục nghề nghiệp.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: NH)

Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực sức khỏe

Sáng 9/10, tại Hà Nội, Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội tổ chức khai mạc Hội nghị Khoa học sức khỏe với chủ đề “Chăm sóc sức khỏe toàn diện trong kỷ nguyên số”. Hội nghị diễn ra trong hai ngày 9 và 10/10 với 59 báo cáo khoa học thuộc các lĩnh vực y khoa, răng-hàm-mặt, dược và điều dưỡng.