Kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là một động lực quan trọng để phục hồi tăng trưởng. Trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam đã thực hiện chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt trong bối cảnh nền kinh tế trong nước cũng như trên thế giới gặp nhiều biến động khó lường. Kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ ở một số nước tại những thời điểm khó khăn để lại cho chúng ta nhiều bài học quý.
Trụ sở giao dịch của ngân hàng Vietcombank tại Hà Nội. Ảnh: BẮC SƠN
Trụ sở giao dịch của ngân hàng Vietcombank tại Hà Nội. Ảnh: BẮC SƠN

Ngày 15/9/2008, ngân hàng Lehman Brothers tuyên bố phá sản. Đây được coi là dấu mốc quan trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế lịch sử ở Mỹ nói riêng và cả thế giới nói chung. Dù đã nhanh chóng giảm lãi suất xuống mức 0% trong vòng ba tháng, nhưng điều này vẫn chưa đủ để cứu vãn nền kinh tế, do đó, Mỹ đã công bố chính sách “kích thích định lượng” (Quantitative Easing 1) vào tháng 11 năm đó. Đây là biện pháp mà Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) thực hiện bằng cách mua lại các tài sản có giá trị để tái tạo niềm tin trong nền kinh tế. Chương trình “kích thích định lượng” lần 1 vẫn chưa đủ, FED đã liên tiếp tiến hành chính sách “kích thích định lượng 2” vào tháng 11/2010 và “kích thích định lượng 3” vào tháng 9/2012.

Ban đầu, châu Âu đánh giá thấp cách làm của Mỹ và lo ngại rằng nó có thể gây ra lạm phát cao trong tương lai. Sau khi đạt tới giới hạn của mức chịu đựng, châu Âu cũng đã thực hiện chính sách “kích thích định lượng” vào năm 2010-2011. Suốt gần 10 năm sau, cả Mỹ và châu Âu đều không gặp vấn đề về lạm phát.

Bài học đã được áp dụng đúng?

Năm 2022, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại. Một số công ty, tập đoàn bất động sản lớn đổ vỡ để lại những ảnh hưởng nặng nề. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam gần như trở nên tê liệt. Không chỉ các doanh nghiệp bất động sản mà cả các doanh nghiệp sản xuất cũng bị ảnh hưởng. Thị trường tiêu dùng sụt giảm nghiêm trọng. Thị trường chứng khoán đã có những phiên giảm điểm nặng nề... Không chỉ vậy, bối cảnh kinh tế thế giới cũng chứng kiến những biến động lớn cả về chính trị lẫn kinh tế dẫn đến những ảnh hưởng càng nặng nề đối với nền kinh tế Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, trong quý IV/2022, lãi suất cho vay mua nhà tăng nhanh từ bình quân 8-9% lên đỉnh là 15-16% trong tháng 12/2022. Hãy thử tưởng tượng nếu hai vợ chồng có tổng thu nhập 60 triệu đồng/tháng và đang vay 2,5 tỷ đồng mua chung cư, chi phí trả nợ ngân hàng của họ tăng đâu đó từ 21 triệu lên gần 33 triệu đồng mỗi tháng. Trước đó họ có 65% thu nhập dành cho chi tiêu khác, thì thời điểm này họ chỉ còn 45% thu nhập, một con số eo hẹp và đầy rủi ro, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế khó khăn. Cách điều hành lãi suất như vậy thật sự gây sốc không chỉ cho từng gia đình như trong thí dụ nêu trên mà còn cho cả nền kinh tế. Trong khu vực và các nước tiên tiến, chưa có nước nào trong khoảng thời gian rất ngắn tăng lãi suất như vậy.

Thủ tướng Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo giảm mạnh lãi suất và tăng cấp tín dụng để phục hồi nền kinh tế. Đến tháng 2/2023, NHNN Việt Nam mới bắt đầu giảm lãi suất. Đây có thể xem là phản ứng chậm chạp, một phần do mối lo lắng về lạm phát. Trong bối cảnh một nền kinh tế mà nhu cầu chi tiêu xuống thấp, việc cung tiền và giảm lãi suất tạo ra lạm phát gần như không thể. Nhìn ở góc độ khác, NHNN và hệ thống các ngân hàng đã quá tập trung vào các chỉ tiêu riêng như lạm phát mà gần “bỏ quên” các yếu tố vĩ mô quan trọng khác như tăng trưởng.

Trên thực tế, NHNN đã công khai thể hiện nỗi lo về lạm phát trong bối cảnh giá cả năng lượng thế giới tăng cao trở lại. Tuy nhiên, tình hình ở một số quốc gia khác dường như đang có những diễn biến trái với nhận định này. Nhìn vào lạm phát của Mỹ, Nick Timirao, Kinh tế trưởng của tờ Wall Streets Journal, tính toán cho thấy lạm phát của Mỹ chỉ còn 2,2% trong tháng 8. Hiệu chỉnh tính thời vụ, sau đó điều chỉnh về cơ sở hằng năm thì chỉ số lạm phát ba tháng gần nhất đã về mức FED mong muốn. Lạm phát ở khu vực châu Âu cũng giảm nhanh, từ gần 11% về mức 4,3%, bất chấp việc giá dầu tăng lại gần đây.

Với tốc độ tăng trưởng tín dụng gần như không đáng kể, ở mức 5,5% vào giữa tháng 9 so với cuối năm 2022, và cung tiền tăng rất chậm, lạm phát vẫn duy trì ở mức khoảng 3%, thấp hơn nhiều so mục tiêu của Chính phủ đề ra là dưới 4,5%. Câu hỏi đặt ra là tại sao cần phải lo lạm phát? Lạm phát, nếu có, thường xuất phát từ sự gia tăng chi phí như giá điện, giá dầu... Tuy nhiên, những yếu tố này không phải là mảng chi phí do chính sách tiền tệ quyết định. Việc tăng hay giảm lãi suất cũng không ảnh hưởng đáng kể đến những chi phí này.

Tỷ giá không phải trọng tâm

Chỉ số DXY (chỉ số đo giá trị của đồng USD) tăng cao, và các đồng tiền có sức cạnh tranh với Việt Nam trong xuất nhập khẩu đã giảm giá rất nhiều. Thí dụ, đồng nhân dân tệ của Trung Quốc giảm giá hơn 6%, đồng yên Nhật giảm gần 16%, và đồng won Hàn Quốc giảm 7%. Rất nhiều đồng tiền khác cũng giảm giá từ 5-15%. Đồng Việt Nam (VND) được xem là mạnh và đã giữ ổn định rất tốt, giảm giá chưa đến 4%. Việc giảm giá này có ý nghĩa để duy trì tính cạnh tranh quốc gia của Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu.

Sự giảm giá trong việc kiểm soát tỷ giá là điều cần thiết. Một yếu tố cực kỳ quan trọng liên quan đến tỷ giá là sự chênh lệch giữa tỷ giá hối đoái chợ đen và tỷ giá hối đoái liên ngân hàng (LNH). Nếu tỷ giá chợ đen cao hơn tỷ giá LNH quá nhiều (2-4%), có nghĩa là người dân có nhu cầu chuyển sang nắm giữ USD hoặc tài sản ngoại tệ khác. Việc này đã xảy ra trong quý III và IV/2022. NHNN đã không thể kiểm soát tỷ giá dù đã bán ra nhiều dự trữ ngoại hối.

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, tỷ giá chợ đen thấp hơn tỷ giá LNH rất nhiều. Sự chênh lệch giữa lãi suất LNH cho USD và VND không phải là một vấn đề mới. Do đó, việc VND giảm giá một chút trong việc kiểm soát tỷ giá có cần phải quá lo lắng (!?).

Trọng tâm của nền kinh tế hiện tại

Phục hồi và tăng trưởng phải là trọng tâm của nền kinh tế hiện tại. Việt Nam đang trải qua quá trình già hóa dân số rất nhanh, và chúng ta còn chưa đầy 10 năm để tận dụng cơ hội giai đoạn “dân số vàng” này. Sau đó, động lực tăng trưởng sẽ giảm đi đáng kể.

Lượng tiêu thụ điện năng chỉ tăng 1,3% trong 8 tháng đầu năm, thấp hơn cả giai đoạn đại dịch Covid-19, gần như là mức thấp nhất trong 1-2 thập kỷ gần đây. Đây là tín hiệu đáng lo ngại không chỉ với sản xuất mà còn với cả nền kinh tế chung. Nó gần như song hành với sự suy giảm xuất khẩu, mất lao động, và sự gia tăng chậm chạp của sản xuất hàng hóa. Để khôi phục tăng trưởng, có hai động lực chính là chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Thủ tướng Chính phủ đã quyết liệt trong việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, để khôi phục tăng trưởng, chính sách tiền tệ luôn nên đứng đầu.

Chính sách tiền tệ và nền kinh tế thường dựa trên kỳ vọng. Nếu người dân và doanh nghiệp có kỳ vọng vào tương lai tốt đẹp, họ mới tiêu dùng và đầu tư nhiều hơn. Ngược lại, họ sẽ tiết kiệm và không tiêu dùng. Vì vậy, việc định hướng và kiểm soát kỳ vọng là rất quan trọng trong việc quản lý chính sách tiền tệ, được xem là mục tiêu hàng đầu của các ngân hàng trung ương lớn trên toàn thế giới, như FED.

NHNN đang phát hành nhiều hơn các loại tín phiếu để thu hút tiền mặt trên thị trường mở, liệu có phù hợp. Lý thuyết cho rằng nếu hệ thống ngân hàng dư thừa tiền, việc hút ròng không ảnh hưởng đến lãi suất cho vay hoặc lãi suất tiền gửi, và có thể duy trì tỷ giá ổn định. Tuy nhiên, lý thuyết và thực tế luôn khác xa nhau, và việc áp dụng máy móc lý thuyết có thể dẫn tới các hậu quả không kiểm soát được. Khi NHNN phát hành tín phiếu thu hút tiền ra khỏi thị trường, kỳ vọng về việc thắt chặt chính sách thay vì nới lỏng chính sách sẽ gia tăng. Một khi người dân cảm thấy chính sách có thể thay đổi, họ sẽ hạn chế chi tiêu, vay mượn, và đầu tư. Điều này trở nên mâu thuẫn và đối nghịch với mục tiêu kích thích kinh tế. Và khi các kênh tài sản bị giảm giá mạnh, niềm tin vào kinh tế suy giảm thì người dân lại càng có xu hướng nắm giữ USD hay vàng, đây là điều cực kỳ nguy hiểm cho tỷ giá của Việt Nam. Điều này đã xảy ra trong quý IV/2022 bất chấp việc NHNN bán ra hàng chục tỷ USD để can thiệp. Thí dụ của Trung Quốc là minh chứng. Khi giải pháp thiếu quyết liệt, không kịp thời, và kỳ vọng vào chính sách mơ hồ, việc khôi phục kinh tế trở nên vô cùng khó khăn và kém hiệu quả.

Có thể bạn quan tâm

Tính đến nay, đã có 42 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất lại gặp áp lực

Khi tín dụng tăng nhanh còn tiền gửi tăng chậm, áp lực lãi suất bắt đầu quay lại hệ thống ngân hàng. Ở mặt khác, ngân hàng đang chịu áp lực phải bảo đảm mức lãi vay ở mức thấp nhất có thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy nền kinh tế.

Kỹ sư đang thuyết trình giới thiệu sản phẩm công nghệ. Ảnh: NGUYỆT ANH

Vẫn thiếu người “vẽ bản đồ” công nghệ

Chính phủ đã có động thái thể hiện quyết tâm bứt phá bằng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhưng một thực tế đang đặt ra là việc khó tìm kiếm những người “vẽ bản thiết kế” cho các đề tài, dự án lớn.

Số doanh nghiệp thành lập mới tăng cho thấy thể chế đang chuyển động theo hướng thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân. Ảnh: NAM NGUYỄN

Bồi đắp “sức bền” cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp gia nhập thị trường gia tăng, nhưng áp lực rút lui vẫn lớn. Bồi đắp “sức bền” trở thành yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp trụ lại và phát triển.

Mô hình mới cho F&B nhỏ lẻ

Do tính chất phổ biến và thiết yếu, kinh doanh ăn uống (F&B) luôn là một ngành sôi động dù có phải đối mặt với nhiều thách thức. Nhưng trong thực tế ngành F&B đang có những thay đổi, thách thức vô cùng mạnh mẽ, đặc biệt ở quy mô nhỏ.

Những dự án được đầu tư hạ tầng đồng bộ thường ghi nhận giá trị bất động sản tăng rõ rệt. Ảnh: NAM ANH

“Cơn sốt” kỳ vọng của bất động sản

Liên tiếp các dự án hạ tầng lớn được công bố, giá chào bán bất động sản tại nhiều nơi bị đẩy lên cao. Các chuyên gia cảnh báo, thị trường đang được dẫn dắt bởi kỳ vọng nhiều hơn nền tảng.

Hệ sinh thái 5G Open RAN do Viettel và Qualcomm hợp tác.

Đặt nền móng cho kỷ nguyên kết nối mới

Trong khi mạng 5G vẫn đang trong quá trình triển khai và thương mại hóa, Việt Nam đã bắt đầu chuẩn bị nền tảng 6G. Những bước đi này mở ra cơ hội để tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái công nghệ toàn cầu.

Nhiều phòng thí nghiệm về robot, tự động hóa, giao thông thông minh, cảm biến… được đầu tư mạnh mẽ tại các cơ sở đào tạo. Ảnh: NGUYỄN NAM

Đường vào công nghệ lõi

Việc ban hành danh mục 11 nhóm công nghệ chiến lược cùng 35 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược thể hiện bước đi hiện thực hóa tham vọng của Việt Nam.

HTX khu vực nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn và tổ chức sản xuất cho nông dân. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Gỡ điểm nghẽn để hợp tác xã tăng tốc

Nghị quyết 68-NQ/TW đã mở ra cơ hội liên kết sâu hơn với kinh tế tư nhân, đặt hợp tác xã trước sức ép phải đổi mới quản trị, chuyển đổi số và tham gia thị trường bằng tư duy của một chủ thể kinh tế hiện đại.

Tâm lý e ngại rủi ro thể chế còn có thể khiến doanh nghiệp thu hẹp quy mô đầu tư. Ảnh: BẮC SƠN

Áp lực nâng chuẩn môi trường kinh doanh

Dù vẫn giữ sức hút đầu tư, những rào cản về thủ tục và chi phí tuân thủ đang tạo áp lực nâng chuẩn môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Cải cách vì thế trở thành yêu cầu cấp thiết để tăng sức cạnh tranh trong khu vực.

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam đã kiến nghị Thủ tướng cho phép doanh nghiệp được vay vàng từ người dân với lãi suất thỏa thuận theo quy định.

Để vàng không còn “nằm yên”

Đề xuất cho doanh nghiệp vay vàng trong dân một lần nữa làm nóng bài toán đưa hàng trăm tấn vàng “nằm yên” trở lại lưu thông. Tuy nhiên, tranh luận này không chỉ dừng ở cơ chế vay - cho vay, mà phản ánh vấn đề sâu xa hơn: Thị trường vàng Việt Nam vẫn thiếu một cấu trúc vận hành hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng đồng loạt điều chỉnh hạ lãi suất. Ảnh: NAM ANH

Thế khó của ngành ngân hàng

Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng đang hoạt động trong bối cảnh nhiều sức ép đan xen. Các ngân hàng một mặt phải thực hiện yêu cầu giảm lãi suất, mặt khác, mục tiêu tăng trưởng được điều chỉnh thấp hơn so với năm 2025.

Sức mạnh cổ đông

Số lượng cổ đông lớn không chỉ là câu chuyện của mỗi doanh nghiệp, mà nó là tầm nhìn cũng như kỳ vọng của thị trường chứng khoán (TTCK). Doanh nghiệp làm ăn bài bản, sở hữu số lượng cổ đông lớn là minh chứng rõ nét cho sự thành công của mô hình công ty đại chúng.

Tiềm năng của một dòng phim

Tuần qua vừa ghi nhận phim kinh dị “Phí Phông: Quỷ máu rừng thiêng” vượt ngưỡng doanh thu 100 tỷ đồng. Đây là bộ phim Việt Nam thứ 7 vượt ngưỡng “trăm tỷ” trong năm 2026

Niềm vui cần thủ khi “lên hàng”.

“Cơn sốt” săn tôm càng xanh trên sông Dinh

Từ đầu xuân 2026, dòng sông Dinh hiền hòa ở Yên Thành (Nghệ An) bất ngờ “dậy sóng” bởi một "cơn sốt" săn tôm càng xanh. Từ tinh mơ đến đêm khuya, hai bên bờ sông ken dày cần thủ, đèn câu sáng rực.

Thương hiệu quốc gia trở thành nền tảng quan trọng giúp doanh nghiệp Việt nâng cao giá trị. Ảnh: NAM HẢI

Nâng "độ sâu" cho thương hiệu Việt

Sau hơn hai thập kỷ, Chương trình Thương hiệu quốc gia đã giúp nâng tầm doanh nghiệp Việt. Nhưng thách thức vẫn còn đó khi nhiều doanh nghiệp vẫn dừng ở gia công, chưa có nhiều thương hiệu tầm cỡ quốc tế.

Nhiều doanh nghiệp đã chủ động đầu tư năng lượng tái tạo để phục vụ sản xuất. Ảnh: KHIẾU MINH

Gỡ nút thắt đưa điện “xanh” vào khu công nghiệp

Cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) và hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) được kỳ vọng trở thành nền tảng cho quá trình xanh hóa sản xuất. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy nhiều điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và tài chính vẫn đang cản trở dòng chảy điện xanh vào khu công nghiệp.

Quy mô tài sản bảo đảm trong toàn hệ thống ngân hàng đang ở mức rất lớn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Áp dụng cơ chế thị trường cho xử lý nợ

Theo các chuyên gia, một điểm nghẽn lớn trong xử lý nợ xấu là cơ chế định giá và mua bán nợ. Những khoản nợ vốn dĩ mang bản chất “xấu” lại được rao bán như thể “đẹp”.

Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất 2.

Nhiều vướng mắc ngăn bước các đại dự án

Nhiều dự án công nghiệp và hạ tầng quy mô lớn đang gặp khó trong việc đạt các mốc tiến độ đã đặt ra. Vướng mắc về mặt bằng, tái định cư và thủ tục liên quan vẫn là những lý do "muôn thuở".

Cẩn trọng với “chuyên gia online”

Trên mạng xã hội hiện nay thường xuyên diễn ra các hoạt động phân tích, khuyến nghị mua, bán cổ phiếu (CP) và nếu nhà đầu tư (NĐT) thiếu kinh nghiệm nghe theo thì rủi ro đi kèm là rất lớn. Cần nhấn mạnh, rủi ro ở đây là cả cho người “phím hàng” và người nghe theo.

Cán cân thay đổi

Trước đây, cơ hội được chia đều cho tất cả các đơn vị kinh doanh trên sàn thương mại điện tử (TMĐT). Nhưng cán cân bắt đầu thay đổi khi chỉ trong vài năm gần đây, các nhãn hiệu lớn, shop lớn, hay các “tay chơi” giàu nguồn lực đã nắm thế chủ động.

Trụ cột an sinh mới từ quỹ hưu trí bổ sung

Trụ cột an sinh mới từ quỹ hưu trí bổ sung

Sau 10 năm thí điểm, khuôn khổ pháp lý cho chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung đã được hoàn thiện nhằm góp phần đa dạng hóa hệ thống an sinh xã hội, tăng thu nhập cho người lao động khi về hưu. Đây cũng là một công cụ tài chính hỗ trợ phát triển thị trường vốn trong dài hạn.

Một thương hiệu trà sữa được giới thiệu đến người tiêu dùng tại hội chợ ngành đồ uống. Ảnh: NGUYỆT ANH

Tái cấu trúc ở ngành hàng đồ uống

Nhiều cửa hàng, hộ kinh doanh ăn uống nhỏ lẻ đã buộc phải đóng cửa sau giai đoạn “gồng lỗ”, khi chiếc “phao” là vốn dự phòng, tiền tiết kiệm tới hạn. Kinh doanh dịch vụ ăn uống đứng trước ngưỡng cửa tái cấu trúc khốc liệt.

FDI được dự báo tiếp tục gia tăng trong công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao. Ảnh: NAM HẢI

Nâng cấp nền tảng thu hút dòng vốn nước ngoài

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đang tăng trưởng tích cực, nhưng để duy trì sức hút trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, yêu cầu đặt ra là phải nâng cấp toàn diện nền tảng thu hút đầu tư, hướng tới các dòng vốn chất lượng cao, gắn với chuyển đổi “xanh” và “số”.

Nhiều doanh nghiệp châu Âu chọn Việt Nam là điểm đến để đầu tư. Ảnh: ANH QUÂN

Niềm tin khi đi qua vùng “biển động”

Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) vừa công bố báo cáo Chỉ số Niềm tin kinh doanh (BCI) quý I/2026. Chỉ số đạt mức 72,7 điểm, giảm 7,3 điểm so mức ghi nhận vào quý IV/2025.