Hạ tầng số, nhân lực và thói quen người dân vẫn là thách thức

Trong chương trình làm việc với các địa phương về nắm bắt tình hình thực hiện vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, vừa qua, Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ đã làm việc với Ủy ban nhân dân các tỉnh Quảng Ngãi, Lào Cai.

Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ làm việc với tỉnh Quảng Ngãi.
Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ làm việc với tỉnh Quảng Ngãi.

Tập trung xây dựng nền hành chính số 2 cấp liên thông

Tại buổi làm việc, ông Nguyễn Quốc Huy Hoàng, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ngãi cho biết, Quảng Ngãi đã triển khai các hệ thống dùng chung phục vụ vận hành chính quyền địa phương 2 cấp.

Về cơ bản các cơ quan của tỉnh đã triển khai các hệ thống trọng tâm, như: Hệ thống thư điện tử công vụ; nền tảng tích hợp chia sẻ dữ liệu (LGSP); hệ thống phần mềm quản lý văn bản và điều hành; hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tỉnh; Cổng thông tin điện tử tỉnh; hệ thống thông tin báo cáo tỉnh; hệ thống hội nghị truyền hình tỉnh; chữ ký số.

100% thủ tục hành chính được kiểm tra, tích hợp, kiểm thử và cung cấp danh mục dịch vụ công trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Chủ động thống kê danh mục thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ công trực tuyến và đề xuất danh mục thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành chính; đề xuất cắt giảm 30% thời gian giải quyết đối với các thủ tục hành chính trong lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Ủy ban nhân dân tỉnh đã khẩn trương ban hành các quyết định công bố danh mục và quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính; ban hành Kế hoạch về đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho công chức cấp tỉnh và cấp xã thực hiện nhiệm vụ mới được phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng trên địa bàn tỉnh.

3.jpg
Ông Nguyễn Quốc Huy Hoàng, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ngãi báo cáo tại buổi làm việc.

Nhìn chung, các hệ thống thông tin dùng chung, quan trọng phục vụ cho hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp được tỉnh Quảng Ngãi tích cực triển khai kịp thời, cơ bản hoạt động ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp xếp tổ chức chính quyền và duy trì hoạt động hành chính không gián đoạn. Tuy vậy, địa phương vẫn gặp một số khó khăn.

Về cơ sở hạ tầng, nhất là đối với việc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến, hệ thống cơ sở vật chất, hệ thống máy móc đôi khi vẫn trục trặc. Phần lớn máy tính của các xã đã cũ, gây khó khăn trong xử lý công việc. Nguồn lực từ ngân sách địa phương hạn chế, khó bảo đảm triển khai các giải pháp an toàn thông tin tiên tiến.

Việc thay đổi thói quen của người dân trong sử dụng công cụ số cần có thời gian và nhân lực hỗ trợ; nhân lực chuyển đổi số tại các cơ quan Nhà nước thuộc tỉnh còn ít và hầu hết là kiêm nhiệm.

Tốc độ xử lý của Cổng dịch vụ công quốc gia chậm, hay bị lỗi treo dẫn đến mất nhiều thời gian trong việc tiếp nhận và thực hiện các bước xử lý hồ sơ, ảnh hưởng tiến độ xử lý thủ tục hành chính.

Trên cơ sở đó, tỉnh Quảng Ngãi đưa ra một số giải pháp trong thời gian tới, như tập trung xây dựng nền hành chính số 2 cấp liên thông, đồng bộ trong toàn hệ thống; nâng cấp, hoàn thiện cơ sở dữ liệu địa phương, tích hợp với cơ sở dữ liệu quốc gia; tiếp tục đôn đốc, hướng dẫn các xã, phường, đặc khu bố trí kinh phí đầu tư, thay thế các thiết bị, hạ tầng đã cũ để công tác giải quyết thủ tục hành chính tại bộ phận một cửa các cấp được đảm bảo hơn.

Tỉnh thúc đẩy kết nối, chia sẻ hạ tầng số; mở rộng phủ sóng băng thông rộng (4G, 5G, cáp quang) trên địa bàn toàn tỉnh, nhất là các vùng sâu, vùng xa; tiếp tục triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, chuyên môn về chuyển đổi số, công nghệ thông tin cho cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh, tập huấn về kỹ năng số cho người dân…

Tỉnh Quảng Ngãi cũng kiến nghị cấp thẩm quyền xem xét ban hành chính sách để triển khai, hỗ trợ Tổ công nghệ số cộng đồng trên cả nước; cơ chế cho việc phát triển hạ tầng trạm BTS.

ks.jpg
Đoàn công tác khảo sát tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Về triển khai nền tảng số, tỉnh Quảng Ngãi đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ đôn đốc các bộ, ngành sớm công bố rộng rãi Danh mục và kế hoạch triển khai các nền tảng số quốc gia, nền tảng số dùng chung của ngành, lĩnh vực, vùng để địa phương có cơ sở triển khai, tích hợp, thống nhất thành hệ thống duy nhất, dùng chung để thuận tiện cho cơ sở; tiếp tục quan tâm nâng cấp hoàn thiện các hệ thống thông tin dùng chung, hạ tầng và giao diện người dùng khi nộp dịch vụ công trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia nhằm đáp ứng quá trình giải quyết, đồng bộ công việc, hồ sơ.

Đồng thời, tỉnh cũng đề nghị các bộ, ngành tiếp tục nghiên cứu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương trong việc được quyền khai thác sử dụng các phần mềm chuyên ngành hiện nay do các bộ, ngành Trung ương đang quản lý, vận hành để giúp địa phương thuận lợi trong việc theo dõi, giám sát số lượng hồ sơ phát sinh, tình trạng giải quyết hồ sơ được tiếp nhận trên các phần mềm chuyên ngành tại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã...

Đoàn công tác Bộ Khoa học và Công nghệ đã giải đáp, hướng dẫn, chia sẻ cụ thể các nội dung liên quan trực tiếp đến thẩm quyền, phạm vi quản lý. Đoàn công tác cũng đã chia sẻ, hướng dẫn một số nội dung nghiệp vụ liên quan đến việc triển khai các nhiệm vụ đã được phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền từ Trung ương về địa phương.

Đồng hành, hỗ trợ địa phương

Tại Lào Cai, theo ông Nguyễn Đoạt, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lào Cai, toàn tỉnh có 99 xã, phần lớn ở xa trung tâm, đi lại khó khăn; nhiều xã vùng cao điều kiện cơ sở vật chất hạn chế, trong đó 25 xã chỉ có duy nhất một phòng họp trực tuyến. Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính đã được triển khai tại 95% xã, đáp ứng được nhu cầu tối thiểu mỗi người cán bộ một máy phục vụ công việc.

1.jpg
Đoàn công tác hướng dẫn cán bộ phụ trách công nghệ thông tin của Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Lào Cai.

Mặc dù đạt được kết quả tích cực, Lào Cai vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Về hạ tầng, toàn tỉnh còn 23 thôn, bản chưa có điện lưới; 4 thôn, bản trắng sóng; 65 thôn lõm sóng và 50 thôn chưa có Internet băng rộng cố định. Hạ tầng công nghệ thông tin ở nhiều xã còn thiếu, thiết bị cũ, ảnh hưởng đến tiến độ chuyển đổi số và cung cấp dịch vụ công trực tuyến.

Về nhận thức, một số xã, phường còn hạn chế trong hiểu biết về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và khởi nghiệp, dẫn đến lúng túng trong phối hợp. Nguồn nhân lực chuyên môn khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, công nghệ thông tin ở cấp xã còn thiếu và yếu; cán bộ mới chưa có kinh nghiệm thực tiễn.

Về chính sách, vẫn thiếu văn bản hướng dẫn đồng bộ, thiếu cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo dài hạn. Một số quy định về cấp phép thiết bị bức xạ, phê duyệt kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, phí và lệ phí… chưa rõ ràng, gây khó khăn trong tiếp nhận và xử lý hồ sơ.

Trong lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng, nhiệm vụ kiểm tra Nhà nước về đo lường và quản lý chất lượng hàng hóa đã được phân định cho cấp xã, song đây là lĩnh vực mới, cán bộ chưa được đào tạo, chưa có chứng chỉ kiểm tra Nhà nước nên việc thực hiện còn hạn chế.

Về lĩnh vực sở hữu trí tuệ, việc sáp nhập, hợp nhất địa giới hành chính dẫn tới nhiều thay đổi về chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý, cũng như bản đồ vùng sản xuất, gây khó khăn trong bảo hộ và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ.

Trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, một số quy định về hồ sơ, thủ tục, phí, lệ phí đối với thiết bị bức xạ, PET/CT, SPECT/CT, X-quang, cũng như yêu cầu về văn bằng, chứng chỉ cho nhân viên bức xạ chưa được hướng dẫn cụ thể

Đại diện các đơn vị chuyên môn của Bộ Khoa học và Công nghệ đã trực tiếp trao đổi, giải đáp cụ thể về các nội dung địa phương được phân cấp, phân quyền; đồng thời, hướng dẫn địa phương triển khai các quy định, quy trình nghiệp vụ, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời cam kết đồng hành, hỗ trợ địa phương trong thực hiện mô hình chính quyền hai cấp nhằm bảo đảm hoạt động khoa học, công nghệ thông suốt, hiệu quả.

Một số nội dung vượt thẩm quyền, Đoàn công tác đã ghi nhận và tổng hợp, báo cáo lãnh đạo Bộ để đề xuất các giải pháp tháo gỡ.

Có thể bạn quan tâm

Các đại biểu tham dự hội thảo quốc tế do Trường đại học Intracom phối hợp các đơn vị tổ chức. (Ảnh: NHẬT MINH)

Ứng dụng khoa học và công nghệ vào cuộc sống - Từ lý luận đến thực tiễn

Ngày 28/1, tại Hà Nội, Trường đại học Intracom phối hợp Tạp chí Pháp luật và Phát triển, Viện khoa học và Bổ trợ Tư pháp (Liên hiệp Hội Người khuyết tật Việt Nam), Tạp chí Vận động, Nghiên cứu và Giáo dục (JARE)… tổ chức hội thảo quốc tế “Thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ vào cuộc sống - Từ lý luận đến thực tiễn”.

Người dân đến giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công-Chi nhánh số 3-phường Đống Đa, Hà Nội. (Ảnh: nhandan.vn)

Khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia

Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức có vai trò thống nhất và chuẩn hóa thông tin nhân sự trong toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước, từ đó có cái nhìn toàn diện về số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ nhằm đưa ra các quyết định quản lý và sử dụng nhân sự một cách khoa học, hợp lý.

Sinh viên Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh thực hành nghiên cứu khoa học.

Đổi mới nghiên cứu liên ngành trong lĩnh vực khoa học xã hội

Trong thời đại ngày nay, nhiều vấn đề không chỉ là sự quan tâm của một quốc gia đơn lẻ, mà trở thành vấn đề chung của cả khu vực và thế giới. Theo đó, thúc đẩy nghiên cứu đa ngành là con đường tất yếu để giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách toàn diện và hiệu quả.

100% cử tri có mặt tại Hội nghị nhất trí giới thiệu đồng chí Vũ Hải Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Bộ Khoa học và Công nghệ giới thiệu Thứ trưởng Thường trực Vũ Hải Quân ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI

150/150 cử tri có mặt tại hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác đối với người được dự kiến giới thiệu ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI của Bộ Khoa học và Công nghệ đã nhất trí giới thiệu Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Đông đảo người dân tham dự triển lãm.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học tiên tiến để bảo tồn và phát triển dược liệu

Sáng 23/1, Viện Dược liệu phối hợp UBND phường Cửa Nam (Hà Nội) tổ chức Triển lãm Sách và Dược liệu Việt Nam với chủ đề “Kết nối tri thức vì sức khỏe cộng đồng” tại Phố Sách Hà Nội. Triển lãm nhằm chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng và 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam.

Người dân cần kiểm tra kỹ thông tin trước khi nộp tiền phạt qua mã QR để tránh bị lừa.

Nhận diện chiêu thức lừa đảo nộp phạt “nguội” qua Zalo

Lợi dụng việc mã QR được sử dụng rộng rãi trong các thủ tục hành chính, nhiều đối tượng xấu đã giả mạo thông báo “phạt nguội”, yêu cầu người dân chuyển tiền qua mã QR trên Zalo. Người dân cần nhận diện rõ quy trình nộp phạt hợp pháp và nâng cao cảnh giác để tránh bị lừa.

Cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên khảo sát để cấp chỉ dẫn địa lý cho gạo nếp Khẩu Nua Lếch. (Ảnh: THU HIỀN)

Đổi mới sáng tạo ở Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên đã và đang khẳng định quyết tâm biến khoa học, công nghệ trở thành khâu đột phá để thúc đẩy kinh tế-xã hội. Với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Thái Nguyên từng bước đẩy nhanh phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan các khu vực bên lề lễ khởi công nhà máy chế tạo chip bán dẫn Hòa Lạc.

Việt Nam sẽ bước vào nhóm số ít quốc gia sở hữu năng lực chế tạo chip bán dẫn

Chip bán dẫn hiện là “đòn bẩy” của những nước chi phối công nghệ sản xuất, sử dụng như công cụ chính trị để kiểm soát, kìm hãm kinh tế, công nghiệp an ninh quốc phòng. Việt Nam xác định bán dẫn là một trong những công nghệ chiến lược cần làm chủ, với mắt xích then chốt vừa được công bố: nhà máy sản xuất chip tại Hòa Lạc.

Ứng dụng khoa học, công nghệ là giải pháp hiệu quả để quản lý, bảo vệ tài nguyên biển.

Ứng dụng công nghệ trong quản lý các khu bảo tồn biển

Đến năm 2030, Việt Nam có 27 khu bảo tồn biển, trong đó có 16 khu bảo tồn biển cấp quốc gia, 11 cấp tỉnh với khoảng 20 hệ sinh thái, 11.000 loại thủy sản, khoảng 3.000 đảo. Đây là địa điểm lý tưởng để thực hiện nhiệm vụ lưu giữ, bảo tồn giống, nguồn gen, đa dạng sinh học; phát triển kinh tế, du lịch; phục vụ nghiên cứu khoa học…