Hà Nội: Phát triển đô thị từ nền tảng kế thừa và chuyển hóa mềm

Hà Nội: Phát triển đô thị từ nền tảng kế thừa và chuyển hóa mềm

Các đô, các thị, các đô thị, mở mang, tích tụ dần theo dòng chảy lịch sử, bởi sức bứt phá mà làng quê không có, khẳng định “cái Tôi” giữa những chủ thể tương tự. Đô thị cạnh tranh trong phát triển bởi những lợi thế và khác biệt của tài nguyên Đất - Trời, bởi sự tích lũy tài sản vật chất, bởi sự thành thị hóa dân cư, mà sản phẩm chắt lọc ra là tinh hoa văn hóa. Các đô thị nổi trội và thành Danh, bởi những khác biệt, cái riêng và cái hiếm thấy, giữa những gì giông giống và na ná, mà các đô thị ngày càng dễ hấp thụ.

Sống giữa đô thị giàu nhanh và sang nhanh, ta không thể không nhìn và ngẫm về đô thị mình đang sống, để nhận ra nó có vị thế nào giữa các đô thị. Nó sở hữu những vốn liếng và tiềm lực nào là đặc sắc. Sánh vai với các đô thị khác đã khó, trở nên đặc sắc càng khó hơn.

Hà Nội của ta đứng giữa cuộc so sánh và phát triển cạnh tranh ấy. Không đồ sộ, không tráng lệ và không tân tiến bằng ai. Tài nguyên thiên nhiên chưa hẳn đặc sắc, để dựa vào đó mà tạo thành diện mạo độc nhất vô nhị. Tích lũy tài sản vật chất đô thị khá khiêm nhường, với độ tuổi chưa hẳn cổ xưa. Thiếu những tòa nhà và những quần thể kiến trúc mà nhìn thấy, người ta gọi ngay tên đô thị mà nó biểu trưng. Hà Nội của ta không phải là đô thị mà hễ gặp, phải sửng sốt, bị chinh phục. Hà Nội chính là nơi chốn mà sống ở đó ta gắn bó, ta yêu da diết và, hễ phải xa, ta nhớ hệt nhớ nhà. Hà Nội, với người đến từ xa, cảm nhận sự trìu mến, sự hòa đồng, ở càng lâu càng gắn bó, hệt như ở nhà. Hà Nội không chỉ là Thủ đô để hãnh diện. Hà Nội là nơi chốn cho sự ngắm, sự cảm và sự thương yêu.

dji-0227.jpg
Hệ thống đường sắt đô thị (Metro) đã trở thành một biểu tượng hiện đại mới cho sự phát triển của Thủ đô Hà Nội.

Ấy vậy, những gì tạo nên những xúc cảm riêng tư ấy lại dễ suy suyển, dễ phai nhạt đi. Ta ứng xử thế nào đây để Hà Nội giàu lên, tân tiến lên không kém ai mà vẫn là mình, vốn dĩ? Phải chăng, ta nên kiểm đếm cho đủ, cảm cho thấu, những gì còn, vơi và mất hẳn, của cái quỹ thiên nhiên đất trời, của cái quỹ tổ tiên/cha ông để lại, của cơ đồ mới tạo tác ra, để hoạch định con đường, phát triển thành phố trong sự tiếp nối, không đứt mạch.

Về phương diện xây dựng đô thị - Thủ đô, nên chăng sắp xếp và hướng tư duy theo ba tầm cấp. Đó là, nên mở mang thế nào thành phố ở tầm vĩ mô. Đó là, nên kiện toàn và chuyển hóa thế nào các thành phần cấu thành đô thị. Và, nên ứng xử thế nào với các khung cảnh đô thị, panorama đô thị.

phattriendothihanoi-2.png

Ở tầm vĩ mô, trước hết nên đặt vấn đề tiết kiệm đất đai, dù thành phố nay rộng hơn 3.000 km2. Tiết kiệm, vì đất hễ đô thị hóa, sẽ không bao giờ trở lại đất tự nhiên. Tiết kiệm đất là để dành cho con cháu. Do đó nên mở mang đô thị theo lối thâm canh, xây nén. Hạn chế đất sử dụng cho hạ tầng và công nghiệp. Các làng xã nên phát triển theo mô hình nông thị, giữ lại đất cho canh tác. Nên hết sức nương nhẹ các vùng đất có địa hình địa thế và cảnh quan đặc biệt, có khả năng góp phần tạo nên diện mạo cho đô thị. Nên chăng, vận dụng chuỗi: Nén-giãn-chuyển tiếp-tự nhiên. Đô thị hiện đại đích thực phải ưu tiên bảo vệ thiên nhiên. Đô thị hiện đại không chỉ bởi rừng nhà cao ngút trời.

Sông Hồng chảy giữa đô thị mà chưa bị đô thị hóa, dòng sông chưa bị kìm kẹp bởi hệ thống đai kè bờ. Hai triền sông xanh tươi, vài nơi bị xâm lấn tự phát. Mong sao con sông bao la này vốn cứ thế, chảy như nó vẫn tự, lúc thiên về tả, lúc thiên về hữu. Thành phố nên dành cho mình một vùng không gian thoáng lộng, như một sự xa hoa.

Những cái hồ lớn nhỏ, ta nên để tự do một phần, không nên đai nịt chúng. Đã một thời san lấp không thương tiếc, nay vỡ lẽ ra, đó là một phần của môi trường sinh thái mà đô thị cần đến. Hồ Tây cùng hồ Trúc Bạch đáng được coi là kỳ quan đô thị. Có vẻ chúng khó thoát được việc xây cất, chất tải tứ phía. Mỗi lần đi qua, tưởng tượng các thế hệ học trò trường Bưởi thuở xưa, đứng ngắm nhìn phía bên kia, Tây hồ, nhấp nhô nhà cửa-chùa chiền-ruộng vườn. Nghe như có tiếng gà gáy...

phattriendothihanoi-1.png

Hồ Hoàn Kiếm, cuối thế kỷ XIX còn là cái ao - hồ của phố phường Hà Nội. Đầu thế kỷ trước, nó được cải tạo, trở thành cái lõi trung tâm của thành phố, một điểm nhấn - khung cảnh, hình như chỉ có một không hai. Cái đặc sắc, cái duyên của hồ Hoàn Kiếm là sự đan xen, chuyển hóa mềm giữa diện nước-rặng cây-con đường bao quanh và dãy nhà cửa đủ các phong cách, dựng nên trong sự nhún nhường. Cho đến tận bây giờ vẫn hài hòa trong sự đan xen các không gian mở-khép, rộng vừa phải. E ngại, hễ mở rộng không gian lớn, cái hồ dễ trở thành cái ao!

Ta đã giải thuận chiều bài toán đối với di sản đô thị Phố cổ. Đó là: Bảo tồn-thích nghi-cải tạo-hiện đại hóa. Nhờ đó mà bảo lưu, không suy suyển, mạng lưới phố-ngõ-ngách đặc trưng; cấu trúc cư trú - cửa hàng dạng nhà ống, với mặt nhà biến đổi khó bề tránh nổi; cả trăm thiết chế tín ngưỡng đình-đền-chùa-miếu, cộng sinh nơi nhà phố chật nén, như những tàn dư thuyên chuyển từ làng quê mà dân phố vốn dĩ từ đấy mà đến. Nên chăng, làm một cuộc tổng vệ sinh diện mạo các mặt nhà và ngõ phố.

Đô thị hiện đại đích thực phải ưu tiên bảo vệ thiên nhiên.

Sự nhếch nhác, thậm chí cả rêu phong, không hẳn đồng nghĩa với sự cổ xưa. Có nhiều con phố từng được biết đến bởi mặt hàng, bởi chủ hiệu, bởi những ai đó nổi danh từng sống ở đó, như Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Gai, Hàng Bông... Làm cách nào đó, phù hợp hơn cả, để chúng kể câu chuyện của mình. Kiến trúc vốn câm lặng mà.

Các làng cổ và cũ, kề sát trung tâm Ba Đình, nhiều thế kỷ dựa bám phố phường, tạo nên một thành phần đặc sắc của bức tranh tổng thể, gắn kết mềm và uyển chuyển cơ thể thành phố. Đô thị hóa tăng tốc, chủ yếu về chiều cao và độ kiên cố hóa, làng ven còn bảo lưu không ít những cái riêng về hình ảnh kiến trúc lẫn nếp sinh hoạt. Đi dọc phố Thụy Khuê, nhà cửa thời mới kín đặc, song vẫn không thể nào che lấp hẳn những đền, những chùa, cả chục cái cổng làng cổng ngõ. May sao, làng cổ làng cũ đất chật, sở hữu chặt chẽ, các tòa nhà cao tầng không chen lèn vào được.

2.jpg
Kiến trúc cổ kính tại đền Quán Thánh.

Khu phố xây dựng cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX không hưởng vận may như các làng cổ và cũ. Đây có lẽ là nơi thuận lợi hơn cả để hiện diện, khẳng định vị thế và cơ đồ của mình, nên cả chục tòa nhà đồ sộ về kích cỡ, mới mẻ về ngôn ngữ kiến trúc, lấn át thẳng thừng những con đường, những căn nhà và khoảng không, định hình ngót thế kỷ trước đó. Ngoại trừ những ô phố ở quận Ba Đình (cũ), hình ảnh kiến trúc thời này ở các quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng (cũ) bị xáo trộn và nhạt phai trông thấy. Tài nguyên kiến trúc thời cận đại có vị trí và giá trị chính là ở sự ăn nhập, một cách đáng kinh ngạc, với tài nguyên kiến trúc phố phường Hà Nội cổ truyền, tạo cho Hà Nội vẻ đẹp nhuần nhị, thân thiện và có phần mỏng manh. Nên dừng hãm quá trình đổ bộ của những “ông khổng lồ” kiến trúc mới. Nên nhận ra và tôn lên những kiến trúc cũ trong khuôn viên còn sót lại; hàn gắn những đoạn phố đặc trưng cũ, để cho chúng khẳng định diện mạo của mình.

Giữa thế kỷ trước, Hà Nội rộng ngót 100km2. Cuối thế kỷ rộng 1.000km2. Sau năm 2008, mở rộng đột biến, hơn 3.000km2. Xây dựng phát triển bùng nổ, lan tỏa ra các hướng. Quy mô và hình thái kiến trúc phù hợp thời đại. Giữa vùng lõi cũ của Hà Nội và các vùng xây dựng mới xuất hiện những mâu thuẫn về giao thông, về sự gắn kết không gian, điều dễ dẫn tới sự tiêu tan dần một phẩm chất mà Hà Nội vốn đặc trưng, sự kế thừa và chuyển hóa mềm về lịch sử, về không gian và hình thái kiến trúc.

Hy vọng, với cái tâm và tầm nhìn, phát huy nền tảng văn hóa vốn chi phối người Hà Nội, thành phố sẽ hiện đại lên, đẹp và sang lên, song vẫn bảo lưu và vun đắp tất cả những gì tạo nên vốn liếng riêng của mình.

thietke.png

Có thể bạn quan tâm

Những mùa xuân kết tinh từ nghĩa tình quân dân

Những mùa xuân kết tinh từ nghĩa tình quân dân

Giữa trùng khơi sóng nước, Tổ quốc Việt Nam vẫn hiện hữu thiêng liêng qua từng tấc đảo, từng hơi thở của quân và dân nơi đầu sóng ngọn gió. Vất vả gian lao là hữu hình, nhưng tình người và lý tưởng phụng sự lại là sức mạnh vô hình gắn kết những cuộc đời xa lạ trở thành một khối thống nhất, một gia đình lớn mang tên Trường Sa.

Bánh khảo là thức quà truyền thống của người Tày ở Cao Bằng đãi khách mỗi dịp Tết đến, xuân về.

Thơm ngon hương vị bánh khảo ngày Tết của người Tày

Mỗi độ xuân về, khi Tết Nguyên Đán cận kề, đồng bào Tày ở Cao Bằng lại tất bật chuẩn bị những món ăn truyền thống để đón năm mới. Trong đó, bánh khảo là đặc sản không thể thiếu trong mỗi gia đình, vừa là thức quà đãi khách, vừa gửi gắm ước vọng về một năm sung túc, đủ đầy.

Tiết mục văn nghệ trong chương trình gặp gỡ “Xuân Quê hương 2026” do Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia tổ chức. (Ảnh: ĐINH TRƯỜNG)

Cộng đồng người Việt tại Campuchia bước vào năm mới tràn đầy hy vọng

Phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Campuchia ghi lại một số chia sẻ, kỳ vọng trong năm mới của đại diện cộng đồng người gốc Việt về tương lai đất nước và quan hệ Việt Nam-Campuchia, nhất là sau thành công của Đại hội Đảng lần thứ XIV và chuyến thăm của Tổng Bí thư Tô Lâm tới Campuchia ngay trước Tết Bính Ngọ 2026.

Đến Tết, chó đá Ma-hin không chỉ được tắm mà còn được choàng một chiếc khăn đỏ.

Tục thờ chó đá Ma-hin của người Tày

Tục thờ chó đá Ma-hin là một nét tín ngưỡng độc đáo của người Tày, thể hiện quan niệm vạn vật hữu linh và khát vọng được che chở, bảo vệ. Qua nhiều thế hệ, linh thú trước cửa mỗi gia đình không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn trở thành biểu tượng văn hóa bền bỉ của cộng đồng.

Lễ chùa đầu năm không chỉ là hoạt động tâm linh mà còn là nét đẹp văn hóa.

Nét đẹp văn hóa từ hoạt động lễ chùa đầu năm

Tự bao đời, trong tâm thức người Việt, Tết không chỉ mang ý nghĩa của việc tiễn đưa năm cũ, chào đón năm mới, mà còn mang đậm nét tâm linh, tín ngưỡng. Ngoài tục lệ cúng gia tiên, mọi người còn thường tìm về các đền, chùa để cầu phúc, cầu may cho gia đình với mong muốn những điều tốt đẹp nhất trong năm mới.

Mùng Một Tết ở Trường Sa

Mùng Một Tết ở Trường Sa

Khi đất liền rộn ràng tiếng chúc xuân, giữa trùng khơi, quần đảo Trường Sa đón ngày mùng Một Tết trong không khí trang nghiêm, ấm áp và đầy ý nghĩa. Không pháo hoa rực rỡ hay phố phường đông vui, nhưng mùa xuân nơi đầu sóng vẫn hiện hữu trọn vẹn, ấm áp nghĩa tình với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên đảo.

Đà Nẵng mùa xuân Bính Ngọ năm 2026.

Giữa khoảng lặng mùa xuân thành phố

Đà Nẵng mùa xuân, không gian tràn ngập nắng. Phố rộng hơn nhưng gần hơn và trong dòng chảy bất tận của mùa xuân, chạm một nụ cười trong nắng sớm, lòng người, nhẹ hơn trong khoảnh khắc này giữa khoảng lặng mùa xuân thành phố.

Trên đỉnh núi, giữa gió biển và sương đêm, những người lính lặng thầm dõi theo từng tín hiệu trên màn hình ra-đa, ngày đêm canh giữ vùng trời Tổ quốc.

Những đôi mắt không ngủ trên “mặt trận vô hình”

Trên đỉnh núi, giữa gió biển và sương đêm, những người lính lặng thầm dõi theo từng tín hiệu trên màn hình ra-đa, ngày đêm canh giữ vùng trời Tổ quốc. Công việc của họ ít khi được nhắc tới, nhưng mỗi ca trực, mỗi phút giây tập trung cao độ đều góp phần giữ bình yên cho bầu trời và cuộc sống dưới mặt đất

“Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

“Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

Từ ngôi làng nhỏ bé bên sông Đuống, tranh Đông Hồ đã chính thức được thế giới công nhận những giá trị độc đáo của mình. Dòng tranh Tết “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, sau nhiều năm âm thầm vượt qua những khó khăn của cuộc sống, của thị trường, đã trở lại rực rỡ.

Xuân về giữa trùng khơi Trường Sa

Xuân về giữa trùng khơi Trường Sa

Mỗi khi Tết đến, xuân về, khi đất liền rộn ràng trong sắc đào hồng, mai vàng, thì giữa Biển Đông mênh mông, quần đảo Trường Sa cũng bước vào mùa xuân theo một nhịp riêng.

Ảnh: THÀNH ĐẠT

Về quê ăn Tết

Đã nhiều năm nay, từ khi bước qua tuổi sáu mươi, tôi thường về quê ăn Tết sớm. Năm nay cũng vậy, khi những cơn gió mùa Đông Bắc đầu tiên tràn đến, tôi đã thu xếp về quê ăn Tết. Tôi thèm cái không khí, cái hương vị, cái hồn cốt Tết quê.

Kênh nhà Lê đoạn qua tỉnh Nghệ An có chiều dài 128 km.

Sống cùng đất và nước

Đó là vào năm 1988, trong chuyến đi vào Nghệ An cùng với nhà văn Sơn Tùng và họa sĩ Lê Lam, hai bậc văn nhân nghệ sĩ từng trải đã chỉ cho tôi thấy dòng sông đào lịch sử, tuyến vận tải đường thủy đầu tiên của nước Việt, đó là Kênh nhà Lê.

Minh họa: Nguyễn Minh

Hương bánh chưng bếp củi

Có những mùi hương để nhớ. Chúng lặng lẽ đi cùng ta qua năm tháng, như phần ký ức không thể gọi tên. Với tôi - kẻ sinh ra và lớn lên giữa phố thị - đó là mùi khói củi bảng lảng trong sương chiều giáp Tết, quấn quýt trên mái ngói nâu trầm quê vợ tôi.

Gói bánh chưng, gìn giữ hồn Tết Việt

Gói bánh chưng, gìn giữ hồn Tết Việt

Dường như với bất kỳ người con đất Việt nào, dù đang ở bất cứ nơi đâu, hình ảnh nồi bánh chưng thơm mùi lá dong đặt trên bếp lửa đỏ rực ấm áp, xua tan giá lạnh mùa đông đã trở thành hình ảnh quen thuộc mỗi độ Tết đến Xuân về.

Người thuyền trưởng giữ vai trò đặc biệt quan trọng; mỗi quyết định không chỉ điều khiển con tàu mà còn thể hiện bản lĩnh, trách nhiệm và hình ảnh Tổ quốc giữa biển khơi.

Những người canh giữ mùa xuân

Mỗi dịp Tết đến, khi nhiều gia đình sum vầy bên mâm cơm đoàn tụ, có những con người lặng lẽ lên đường làm nhiệm vụ ở những nơi xa xôi: ngoài khơi, trên những điểm cao lộng gió, hay giữa những cánh rừng sâu. 

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Vẫn tay gầy cùng tôi bày mâm ngũ quả

Chiều cuối năm, nắng mỏng chiếu xiên qua tán cau ở hiên tây, rải chút vàng nhè nhẹ xuống sân gạch. Tôi tỉ mỉ biện bày mâm ngũ quả trong khoảng vắng lặng của ngôi nhà. 

Nụ cười Y Đẻ.

Người Rơ Măm, trong những hồi sinh

Trở lại Mo Rai, tôi nhận thấy luồng sinh khí mới, khi mà sự hồi sinh đã thành sức vươn lên mạnh mẽ. Mái nhà rông làng Le vươn cao trên nền trời xanh Tây Nguyên, khẳng định sự hiện diện tự tin và kiêu hãnh của bà con dân tộc Rơ Măm, tộc người từng đứng trước nguy cơ tuyệt chủng nhiều năm trước.

Suối nguồn Tây Nguyên

Suối nguồn Tây Nguyên

Từ bao đời nay, người Mạ, Cơ Ho, Ê Đê, M’Nông, Gia Rai, Ba Na... trên vùng đất đại ngàn Tây Nguyên luôn chọn đất lập làng gần những dòng nước mát lành.