Góp phần hoàn thiện, đồng bộ thể chế phát triển đất nước

Một trong những đổi mới quan trọng của dự án luật sửa đổi Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (Luật số 69/2014/QH13) chính là việc hình thành các quy định về phương pháp phân tích, đánh giá định lượng hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Đó là khẳng định của bà Phạm Thúy Chinh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội, khi trao đổi với phóng viên Nhân Dân cuối tuần về vấn đề này.
Bà Phạm Thúy Chinh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội.
Bà Phạm Thúy Chinh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội.

- Là một dự án luật quan trọng, việc sửa đổi Luật số 69/2014/QH13 về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ khơi thông, khai thác hiệu quả nguồn lực vốn nhà nước. Xin bà cho biết về tiến độ, chất lượng công tác xây dựng dự án Luật này tính đến thời điểm này?

- Việc Quốc hội khóa XIII ban hành Luật số 69/2014/QH13 là bước thiết lập chính sách có tính pháp luật cao nhất trong quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách đổi mới công tác quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước. Tuy vậy, trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến động, Luật số 69/2014/QH13 dần bộc lộ một số hạn chế nhất định cần được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, nhất là khi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đặt yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển đất nước.

Thực tế, việc xây dựng thể chế quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư và kinh doanh tại doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước là nhiệm vụ quan trọng đối với Chính phủ của nhiều quốc gia bởi đây là khu vực nắm giữ nguồn lực và tài sản rất lớn trong nền kinh tế. Không ngoại lệ, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước và hội nhập quốc tế, công tác triển khai xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật ở Việt Nam cũng đang được khẩn trương thực hiện.

Từ năm 2021 đến nay, sau nhiều lần nghiêm túc tiếp thu ý kiến của các chuyên gia, đại diện khối các doanh nghiệp có vốn nhà nước, lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, hồ sơ xây dựng Luật sửa đổi đã được xây dựng theo đúng quy trình, trình tự của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và đã qua nhiều vòng báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Chính phủ. Đến thời điểm này, về cơ bản, hồ sơ xây dựng Luật sửa đổi đã hoàn thiện.

Trong phiên họp toàn thể chiều 14/5/2024, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thống nhất với Chính phủ trình bổ sung dự án luật sửa đổi Luật số 69/2014/QH13 vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024 tại Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XV (dự kiến diễn ra từ ngày 20/5 tới đây), cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 8 và thông qua tại Kỳ họp thứ 9.

Nhiều nội dung sửa đổi Luật số 69/2014/QH13 đã được tham vấn tại các hội thảo lấy ý kiến. Ảnh: MINH PHƯƠNG

Nhiều nội dung sửa đổi Luật số 69/2014/QH13 đã được tham vấn tại các hội thảo lấy ý kiến. Ảnh: MINH PHƯƠNG

- Những nội dung quan trọng mà cơ quan soạn thảo hướng tới khi thực hiện thể chế hóa chủ trương của Đảng, hoàn thiện khung pháp lý của Nhà nước trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại khu vực doanh nghiệp là gì, thưa bà?

- Để thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, khắc phục những hạn chế, tồn tại trong Luật số 69/2014/QH13, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam, cơ quan soạn thảo hướng tới việc xem xét sửa đổi một cách căn bản, toàn diện theo hướng ban hành Luật mới thay thế Luật số 69/2014/QH13. Dự án Luật tập trung vào sửa đổi các nhóm chính sách lớn:

Thứ nhất, quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp sẽ được xây dựng trên nguyên tắc “lợi ích thì hài hòa, rủi ro thì chia sẻ”, bảo toàn, hiệu quả, công bằng, thị trường, linh hoạt và công khai, minh bạch; vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp đi đôi với quyền kiểm soát, được quản lý, sử dụng kịp thời, linh hoạt nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có vốn nhà nước để làm tốt vai trò dẫn dắt mở đường cho các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác phát triển; đổi mới phương thức quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp theo hướng thống nhất một chính sách về đầu tư vốn, tiên tiến, phù hợp thông lệ, chuẩn mực quốc tế.

Thứ hai, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp hướng tới mục tiêu nhà nước quản lý theo dòng vốn đầu tư, vốn nhà nước sau khi đã đầu tư vào doanh nghiệp để thực hiện nghĩa vụ góp vốn chủ sở hữu nhà nước được xác định là tài sản/vốn của pháp nhân doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật Dân sự, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tự chủ trong hoạt động của pháp nhân là doanh nghiệp.

Thứ ba, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp với mục tiêu phân cấp để bảo đảm chủ động và xác định rõ thẩm quyền trình tự, thủ tục, rõ trách nhiệm của doanh nghiệp và các cơ quan trong hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.

Thứ tư, sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp trên tinh thần luật hóa quy định tại các Nghị định đã được thực hiện ổn định, phù hợp trong thời gian qua về cổ phần hóa doanh nghiệp, chuyển nhượng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, giải thể, phá sản doanh nghiệp.

Thứ năm, cơ quan, người đại diện chủ sở hữu vốn nhằm tách bạch rõ nội dung chức năng quản lý, đầu tư vốn của đại diện chủ sở hữu nhà nước với chức năng quản trị, điều hành của doanh nghiệp nhà nước; quy định rõ quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện, người đại diện chủ sở hữu vốn.

Thứ sáu, quản trị doanh nghiệp, quy định quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp nhưng không quy định các nội dung mang tính quản trị hoạt động, điều hành của doanh nghiệp nhằm bảo đảm tính tự chủ trong hoạt động sản xuất, đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp xây dựng hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ, cơ chế quản trị hiệu quả, minh bạch gắn với trách nhiệm giải trình trên cơ sở tham khảo các thông lệ quản trị chuyên nghiệp, hiệu quả.

- Dưới góc độ một nhà lập pháp, đồng thời cũng là người trực tiếp tham gia xây dựng dự án Luật này, theo bà, việc sửa đổi có bảo đảm cân đối cùng một lúc các mục tiêu đặt ra đối với nguồn lực vốn nhà nước?

- Một trong những đổi mới quan trọng của dự án luật trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, chuyển đổi số quốc gia chính là việc hình thành các quy định về phương pháp phân tích, đánh giá định lượng hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo lĩnh vực, ngành nghề, mục tiêu, nhiệm vụ, quy mô tập trung vốn để ra các quyết định liên quan đến đầu tư, sử dụng, quản lý vốn nhà nước, nhất là trong đầu tư mới, đầu tư bổ sung vốn điều lệ hay đầu tư mua lại cổ phần, vốn góp và yêu cầu đánh giá tác động cụ thể đến quy mô, phạm vi, cơ cấu khu vực doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước, thành phần kinh tế nhà nước trong tổng thể cơ cấu nền kinh tế, cạnh tranh chống độc quyền và thực hiện các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường.

Việc sửa đổi toàn diện Luật số 69/2014/QH13 sẽ có tác động tích cực đến đại diện chủ sở hữu nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, các chủ thể quản trị doanh nghiệp nhà nước và các bên có nghĩa vụ, lợi ích liên quan.

Các quy định mới trong Luật sửa đổi có thể làm thay đổi mối quan hệ đa chiều giữa doanh nghiệp có vốn nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực ở trung ương và địa phương cũng như mối quan hệ giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước với các các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Thật sự, đây là dự án Luật rất khó, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Chúng tôi kỳ vọng, việc sửa đổi Luật số 69/2014/QH13 có thể cân đối giữa mục tiêu sử dụng hiệu quả nguồn lực vốn và mục tiêu bảo đảm vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế, đáp ứng được các định hướng, chủ trương mới của Đảng đưa ra tại Nghị quyết số 12-NQ/TW Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Đặc biệt là hướng tới và đáp ứng mục tiêu tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, đồng thời khơi dậy mọi tiềm năng, nguồn lực vốn nhà nước, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước theo tinh thần nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

- Trân trọng cảm ơn bà!

Có thể bạn quan tâm

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.