Góp phần hoàn thiện, đồng bộ thể chế phát triển đất nước

Một trong những đổi mới quan trọng của dự án luật sửa đổi Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (Luật số 69/2014/QH13) chính là việc hình thành các quy định về phương pháp phân tích, đánh giá định lượng hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Đó là khẳng định của bà Phạm Thúy Chinh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội, khi trao đổi với phóng viên Nhân Dân cuối tuần về vấn đề này.
Bà Phạm Thúy Chinh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội.
Bà Phạm Thúy Chinh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội.

- Là một dự án luật quan trọng, việc sửa đổi Luật số 69/2014/QH13 về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ khơi thông, khai thác hiệu quả nguồn lực vốn nhà nước. Xin bà cho biết về tiến độ, chất lượng công tác xây dựng dự án Luật này tính đến thời điểm này?

- Việc Quốc hội khóa XIII ban hành Luật số 69/2014/QH13 là bước thiết lập chính sách có tính pháp luật cao nhất trong quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách đổi mới công tác quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước. Tuy vậy, trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến động, Luật số 69/2014/QH13 dần bộc lộ một số hạn chế nhất định cần được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, nhất là khi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đặt yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển đất nước.

Thực tế, việc xây dựng thể chế quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư và kinh doanh tại doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước là nhiệm vụ quan trọng đối với Chính phủ của nhiều quốc gia bởi đây là khu vực nắm giữ nguồn lực và tài sản rất lớn trong nền kinh tế. Không ngoại lệ, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước và hội nhập quốc tế, công tác triển khai xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật ở Việt Nam cũng đang được khẩn trương thực hiện.

Từ năm 2021 đến nay, sau nhiều lần nghiêm túc tiếp thu ý kiến của các chuyên gia, đại diện khối các doanh nghiệp có vốn nhà nước, lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, hồ sơ xây dựng Luật sửa đổi đã được xây dựng theo đúng quy trình, trình tự của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và đã qua nhiều vòng báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Thường trực Chính phủ, Chính phủ. Đến thời điểm này, về cơ bản, hồ sơ xây dựng Luật sửa đổi đã hoàn thiện.

Trong phiên họp toàn thể chiều 14/5/2024, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thống nhất với Chính phủ trình bổ sung dự án luật sửa đổi Luật số 69/2014/QH13 vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024 tại Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XV (dự kiến diễn ra từ ngày 20/5 tới đây), cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 8 và thông qua tại Kỳ họp thứ 9.

Nhiều nội dung sửa đổi Luật số 69/2014/QH13 đã được tham vấn tại các hội thảo lấy ý kiến. Ảnh: MINH PHƯƠNG

Nhiều nội dung sửa đổi Luật số 69/2014/QH13 đã được tham vấn tại các hội thảo lấy ý kiến. Ảnh: MINH PHƯƠNG

- Những nội dung quan trọng mà cơ quan soạn thảo hướng tới khi thực hiện thể chế hóa chủ trương của Đảng, hoàn thiện khung pháp lý của Nhà nước trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại khu vực doanh nghiệp là gì, thưa bà?

- Để thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, khắc phục những hạn chế, tồn tại trong Luật số 69/2014/QH13, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam, cơ quan soạn thảo hướng tới việc xem xét sửa đổi một cách căn bản, toàn diện theo hướng ban hành Luật mới thay thế Luật số 69/2014/QH13. Dự án Luật tập trung vào sửa đổi các nhóm chính sách lớn:

Thứ nhất, quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp sẽ được xây dựng trên nguyên tắc “lợi ích thì hài hòa, rủi ro thì chia sẻ”, bảo toàn, hiệu quả, công bằng, thị trường, linh hoạt và công khai, minh bạch; vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp đi đôi với quyền kiểm soát, được quản lý, sử dụng kịp thời, linh hoạt nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có vốn nhà nước để làm tốt vai trò dẫn dắt mở đường cho các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác phát triển; đổi mới phương thức quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp theo hướng thống nhất một chính sách về đầu tư vốn, tiên tiến, phù hợp thông lệ, chuẩn mực quốc tế.

Thứ hai, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp hướng tới mục tiêu nhà nước quản lý theo dòng vốn đầu tư, vốn nhà nước sau khi đã đầu tư vào doanh nghiệp để thực hiện nghĩa vụ góp vốn chủ sở hữu nhà nước được xác định là tài sản/vốn của pháp nhân doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật Dân sự, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tự chủ trong hoạt động của pháp nhân là doanh nghiệp.

Thứ ba, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp với mục tiêu phân cấp để bảo đảm chủ động và xác định rõ thẩm quyền trình tự, thủ tục, rõ trách nhiệm của doanh nghiệp và các cơ quan trong hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.

Thứ tư, sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp trên tinh thần luật hóa quy định tại các Nghị định đã được thực hiện ổn định, phù hợp trong thời gian qua về cổ phần hóa doanh nghiệp, chuyển nhượng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, giải thể, phá sản doanh nghiệp.

Thứ năm, cơ quan, người đại diện chủ sở hữu vốn nhằm tách bạch rõ nội dung chức năng quản lý, đầu tư vốn của đại diện chủ sở hữu nhà nước với chức năng quản trị, điều hành của doanh nghiệp nhà nước; quy định rõ quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện, người đại diện chủ sở hữu vốn.

Thứ sáu, quản trị doanh nghiệp, quy định quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp nhưng không quy định các nội dung mang tính quản trị hoạt động, điều hành của doanh nghiệp nhằm bảo đảm tính tự chủ trong hoạt động sản xuất, đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp xây dựng hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ, cơ chế quản trị hiệu quả, minh bạch gắn với trách nhiệm giải trình trên cơ sở tham khảo các thông lệ quản trị chuyên nghiệp, hiệu quả.

- Dưới góc độ một nhà lập pháp, đồng thời cũng là người trực tiếp tham gia xây dựng dự án Luật này, theo bà, việc sửa đổi có bảo đảm cân đối cùng một lúc các mục tiêu đặt ra đối với nguồn lực vốn nhà nước?

- Một trong những đổi mới quan trọng của dự án luật trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, chuyển đổi số quốc gia chính là việc hình thành các quy định về phương pháp phân tích, đánh giá định lượng hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo lĩnh vực, ngành nghề, mục tiêu, nhiệm vụ, quy mô tập trung vốn để ra các quyết định liên quan đến đầu tư, sử dụng, quản lý vốn nhà nước, nhất là trong đầu tư mới, đầu tư bổ sung vốn điều lệ hay đầu tư mua lại cổ phần, vốn góp và yêu cầu đánh giá tác động cụ thể đến quy mô, phạm vi, cơ cấu khu vực doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước, thành phần kinh tế nhà nước trong tổng thể cơ cấu nền kinh tế, cạnh tranh chống độc quyền và thực hiện các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường.

Việc sửa đổi toàn diện Luật số 69/2014/QH13 sẽ có tác động tích cực đến đại diện chủ sở hữu nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, các chủ thể quản trị doanh nghiệp nhà nước và các bên có nghĩa vụ, lợi ích liên quan.

Các quy định mới trong Luật sửa đổi có thể làm thay đổi mối quan hệ đa chiều giữa doanh nghiệp có vốn nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực ở trung ương và địa phương cũng như mối quan hệ giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước với các các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Thật sự, đây là dự án Luật rất khó, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Chúng tôi kỳ vọng, việc sửa đổi Luật số 69/2014/QH13 có thể cân đối giữa mục tiêu sử dụng hiệu quả nguồn lực vốn và mục tiêu bảo đảm vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế, đáp ứng được các định hướng, chủ trương mới của Đảng đưa ra tại Nghị quyết số 12-NQ/TW Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Đặc biệt là hướng tới và đáp ứng mục tiêu tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, đồng thời khơi dậy mọi tiềm năng, nguồn lực vốn nhà nước, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước theo tinh thần nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

- Trân trọng cảm ơn bà!

Có thể bạn quan tâm

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi. 

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.