Đường sắt tốc độ cao: Bài học từ Hàn Quốc, Trung Quốc và gợi mở cho Việt Nam

Trong bối cảnh Việt Nam đang nghiên cứu phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao, kinh nghiệm từ các quốc gia như Hàn Quốc và Trung Quốc mang lại nhiều giá trị tham khảo quan trọng. Không chỉ là công nghệ, bài toán cốt lõi nằm ở cách tiếp cận: Xây dựng một hệ thống đồng bộ, có tiêu chuẩn rõ ràng và phục vụ vận hành dài hạn.

Các chuyên gia, diễn giả chụp ảnh lưu niệm.
Các chuyên gia, diễn giả chụp ảnh lưu niệm.

Tại hội thảo khoa học “Thiết kế kỹ thuật tuyến đường sắt tốc độ cao” diễn ra tháng 4/2026, các chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước đã trình bày nhiều nội dung chuyên sâu, kết hợp giữa giá trị học thuật và kinh nghiệm thực tiễn, tập trung vào những vấn đề cốt lõi trong thiết kế và xây dựng hệ thống đường sắt tốc độ cao.

Các tham luận không chỉ góp phần hệ thống hóa nền tảng lý thuyết mà còn gợi mở những hướng tiếp cận cụ thể cho việc triển khai dự án trong điều kiện Việt Nam, đặc biệt thông qua các bài học kinh nghiệm từ những quốc gia phát triển.

Đánh giá về giá trị chuyên môn của hội thảo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Hà - Giảng viên cao cấp Trường đại học Giao thông vận tải, nguyên Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ, Bộ Giao thông vận tải (trước đây) - cho biết, việc hợp tác và trao đổi với các đối tác quốc tế có điều kiện tương đồng với Việt Nam là hướng đi cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Theo ông, sự tham gia của các chuyên gia đến từ Hàn Quốc - chuyên gia Lee Duck Young và Trung Quốc - chuyên gia Chen Kai mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, khi đây đều là những quốc gia đã đạt nhiều thành tựu trong phát triển đường sắt tốc độ cao.

Hàn Quốc được ghi nhận là một trong những quốc gia phát triển hệ thống đường sắt cao tốc từ sớm, với dấu ấn nổi bật là khả năng tự chủ công nghệ thông qua hệ thống KTX (Korea Train eXpress). Trong khi đó, Trung Quốc nổi lên là quốc gia có tốc độ phát triển mạng lưới đường sắt cao tốc nhanh và hiện đại bậc nhất thế giới trong những thập kỷ gần đây.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Hà nhận định: “Việc tiếp cận trực tiếp các kinh nghiệm quốc tế thông qua các chuyên gia không chỉ mang lại giá trị tham khảo thiết thực, mà còn góp phần nâng cao năng lực của đội ngũ khoa học-kỹ thuật trong nước, phục vụ hiệu quả cho công tác nghiên cứu và triển khai các dự án đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam”.

Kinh nghiệm từ Hàn Quốc: Tư duy hệ thống và tích hợp đa ngành

Một trong những bài học nổi bật từ Hàn Quốc là cách tiếp cận đường sắt tốc độ cao như một hệ thống tích hợp hoàn chỉnh, thay vì một công trình hạ tầng đơn lẻ.

Theo các chuyên gia, hệ thống này không chỉ bao gồm các hạng mục như nền đường, cầu, hầm hay nhà ga, mà còn là sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều cấu phần: Đầu máy toa xe, hệ thống cấp điện, tín hiệu-viễn thông, vận hành-bảo trì và đặc biệt là quy hoạch giao thông quốc gia.

Nhấn mạnh về tính tích hợp này, Tiến sĩ Lee Duck Young (chuyên gia đường sắt tốc độ cao, Yooshin Corporation, Hàn Quốc) cho biết: “Hệ thống đường sắt tốc độ cao thực chất được vận hành thông qua sự tích hợp của nhiều lĩnh vực liên quan, từ hạ tầng, phương tiện, năng lượng đến vận hành và quy hoạch”.

Trong đó, nhà ga giữ vai trò trung tâm, nơi hội tụ và kết nối toàn bộ các hệ thống kỹ thuật. Đây cũng là điểm thể hiện rõ nhất yêu cầu về quản lý “giao diện” giữa các lĩnh vực-yếu tố quyết định đến khả năng vận hành trơn tru của toàn tuyến.

chuyen-gia-lee-duck-young.jpg
Chuyên gia Lee Duck Young trình bày báo cáo “Nguyên tắc thiết kế tuyến đường sắt tốc độ cao”.

Một điểm đáng chú ý khác là định hướng phát triển gắn với chiến lược giao thông bền vững. Hàn Quốc đã sớm xác định vai trò của đường sắt tốc độ cao trong việc chuyển dịch cơ cấu vận tải, giảm phụ thuộc vào đường bộ và hướng tới mô hình giao thông phát thải thấp.

Về mặt vận hành, đường sắt tốc độ cao được đánh giá là phương thức vận tải khối lượng lớn, an toàn và có độ chính xác cao. Hệ thống vận hành tự động, ít phụ thuộc vào yếu tố con người và ít bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết, giúp bảo đảm tính ổn định trong khai thác.

Từ góc độ kỹ thuật, bài học quan trọng không nằm ở từng cấu kiện riêng lẻ, mà ở cách tổ chức hệ thống tổng thể. Khi các yếu tố từ quy hoạch, thiết kế đến vận hành được kết nối chặt chẽ, hiệu quả khai thác sẽ được tối ưu ngay từ đầu.

Kinh nghiệm từ Trung Quốc: Tiêu chuẩn hóa và làm chủ kỹ thuật

Nếu Hàn Quốc nổi bật ở tư duy hệ thống, thì Trung Quốc lại cho thấy sức mạnh trong việc chuẩn hóa và làm chủ toàn bộ chuỗi kỹ thuật của đường sắt tốc độ cao.

Trước hết, Trung Quốc xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ, áp dụng xuyên suốt từ thiết kế đến thi công. Phương pháp tính toán, phân loại tải trọng, quy định vật liệu và hệ số an toàn đều được chuẩn hóa rõ ràng. Đồng thời, các tiêu chuẩn quốc tế cũng được tham chiếu và tích hợp, tạo nên một hệ quy chuẩn vừa thống nhất vừa linh hoạt.

Đặc biệt, các công trình được thiết kế với tầm nhìn dài hạn, có tuổi thọ lên tới 100 năm, thể hiện cách tiếp cận bền vững và có tính chiến lược cao.

Ở cấp độ thiết kế, Trung Quốc nhấn mạnh yêu cầu phục vụ vận hành tốc độ cao. Điều này đồng nghĩa với việc kết cấu không chỉ cần bảo đảm chịu lực, mà còn phải đáp ứng các tiêu chí khắt khe về độ bằng phẳng, độ ổn định, độ cứng và khả năng tương tác động lực giữa tàu và công trình.

Cách tiếp cận này đòi hỏi độ chính xác cao trong toàn bộ quá trình triển khai, từ thiết kế, thi công đến kiểm soát chất lượng.

Nhấn mạnh về nguyên tắc thiết kế cầu đường sắt tốc độ cao, chuyên gia Trung Quốc Chen Kai (đến từ Minh Đức Group) cho biết: “Thiết kế cầu phải lấy 'an toàn là trên hết, chất lượng là cốt lõi', đồng thời đáp ứng các yêu cầu đặc thù của tàu tốc độ cao như độ bằng phẳng cao, độ ổn định cao, độ cứng lớn và đặc tính đáp ứng động lực học tốt”.

chuyen-gia-chen-kai.jpg
Chuyên gia Chen Kai trình bày báo cáo “Kinh nghiệm thiết kế, thi công cầu đường sắt tốc độ cao ở Trung Quốc”.

Một yếu tố quan trọng khác là việc áp dụng mạnh mẽ tiêu chuẩn hóa và mô-đun hóa. Các cấu kiện cầu với khẩu độ tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi, giúp đơn giản hóa thiết kế, rút ngắn thời gian thi công và tối ưu chi phí.

Tuy nhiên, hệ thống vẫn bảo đảm tính linh hoạt thông qua các thiết kế đặc biệt khi gặp điều kiện địa hình hoặc yêu cầu kỹ thuật phức tạp. Đây chính là cách Trung Quốc cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và yêu cầu kỹ thuật.

Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc và Trung Quốc, có thể thấy, phát triển đường sắt tốc độ cao không chỉ là bài toán đầu tư, mà là quá trình xây dựng một hệ thống kỹ thuật-vận hành hoàn chỉnh.

Đối với Việt Nam, việc lựa chọn hướng đi phù hợp cần bắt đầu từ tư duy hệ thống, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ và nâng cao năng lực tổ chức triển khai. Chỉ khi các yếu tố này được bảo đảm, đường sắt tốc độ cao mới có thể phát huy vai trò như một trụ cột trong hệ thống giao thông hiện đại, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội trong dài hạn.

Có thể bạn quan tâm

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã có buổi làm việc với Giám đốc điều hành bộ phận Open Government Products thuộc Cơ quan Công nghệ Chính phủ Singapore (GovTech) Lý Hồng Nghị.

Thúc đẩy những định hướng hợp tác chiến lược về khoa học, công nghệ đi vào thực tiễn

Làm việc với Giám đốc điều hành bộ phận Open Government Products thuộc Cơ quan Công nghệ Chính phủ Singapore (GovTech) Lý Hồng Nghị, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết, đào tạo nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đều là những vấn đề Việt Nam ưu tiên và mong muốn Singapore chia sẻ kinh nghiệm.

Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội thực hành trên hệ thống thiết bị đo kiểm phục vụ đào tạo, nghiên cứu IoT và bán dẫn. (Ảnh: VNU)

Làm chủ công nghệ, tăng sức cạnh tranh

Hành lang chính sách cho phát triển công nghệ chiến lược đang từng bước được hoàn thiện, cùng với cơ chế đặt hàng, tài trợ, thử nghiệm và hỗ trợ doanh nghiệp. Vấn đề hiện nay là đưa các cơ chế đó vào thực tiễn, tạo ra sản phẩm cụ thể, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Các diễn giả tham dự hội thảo “Chuyển đổi số trong khu vực công: Kiến tạo hạ tầng bền vững và bảo đảm an ninh dữ liệu hướng đến mục tiêu tăng trưởng quốc gia”. (Ảnh: Ban tổ chức)

Chuyển đổi số khu vực công: Làm chủ dữ liệu, kiến tạo hạ tầng bền vững

Chuyển đổi số khu vực công đang chuyển từ số hóa quy trình sang quản trị dựa trên dữ liệu. Cùng với hạ tầng có khả năng kết nối, chia sẻ và mở rộng, bảo đảm an ninh dữ liệu và năng lực phục hồi sau sự cố đang trở thành những điều kiện nền tảng để nâng cao hiệu quả quản trị và tạo động lực tăng trưởng.

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân.

Kết nối chuyên gia trí tuệ nhân tạo toàn cầu để giải bài toán Việt Nam

Mạng lưới chuyên gia trí tuệ nhân tạo (AI) Việt Nam toàn cầu được hình thành không chỉ để tập hợp trí thức người Việt trong và ngoài nước, mà còn mở ra cơ chế để các chuyên gia trực tiếp tham gia giải quyết những bài toán cụ thể, phát triển sản phẩm trí tuệ nhân tạo có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước.

Tọa đàm “Định hướng nội dung khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo Việt Nam” do Trường Khoa học và Nhân văn tổ chức.

Hệ sinh thái hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ

Tọa đàm khoa học “Định hướng nội dung khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo Việt Nam” do Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn vừa tổ chức kỳ vọng cung cấp thêm luận cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình hoàn thiện chính sách sở hữu trí tuệ.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ. (Ảnh: DUY LINH)

Luật sửa đổi 4 luật lĩnh vực khoa học-công nghệ: Cắt giảm điều kiện kinh doanh, đẩy mạnh phân cấp

Luật tập trung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho phát triển hạ tầng viễn thông phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, kinh tế gắn với quốc phòng-an ninh.

Ảnh thiết kế có yếu tố AI.

Tăng tốc chặng đường cuối, hướng tới chấm dứt nuôi nhốt gấu lấy mật trong năm 2026

Từ hơn 4.000 cá thể gấu nuôi nhốt năm 2005, đến nay cả nước còn 206 cá thể, phần lớn trong đó bị nuôi nhốt hơn 20 năm, sức khỏe suy giảm và cần được đưa đến các cơ sở cứu hộ. Việc hoàn thành mục tiêu chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu lấy mật trong năm 2026 đang bước vào chặng đường cuối, nhưng cũng là giai đoạn nhiều thách thức.

Tổ lưu động thu thập thông tin về đất đai. (Ảnh: CÔNG VINH)

Tạo giá trị cho nền kinh tế số từ dữ liệu địa điểm

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ của dữ liệu, với hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện và nhiều cơ sở dữ liệu quốc gia được hình thành. Tuy nhiên, việc có nhiều dữ liệu không đồng nghĩa với có nền kinh tế dữ liệu. 

Các giải pháp công nghệ cho ô-tô điện được trưng bày tại Triển lãm Thành tựu đất nước "80 năm hành trình Độc lập-Tự do-Hạnh phúc". (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Bộ Chính trị sửa đổi chức năng, nhiệm vụ Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định số 215-QĐ/TW, ngày 18/8/2026 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 230-QĐ/TW, ngày 10/1/2025 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Toàn cảnh lễ khai mạc Trường hè IACR-VIASM về Mật mã năm 2026.

Thúc đẩy nghiên cứu học thuật mật mã giữa Việt Nam với quốc tế

Trường hè IACR-VIASM năm 2026 là hoạt động thúc đẩy nghiên cứu mật mã mang tầm quốc tế tiếp nối chuỗi hoạt động mật mã quốc tế đã được tổ chức tại Việt Nam, gồm: VietCrypt 2006, IACR ASIACRYPT 2016, Trường hè IACR-SEAMS 2016, Trường hè IACR-VIASM 2022 và ACM ASIACCS 2025 với diễn đàn vệ tinh Young Cryptographers Forum.

Nuôi cá lồng bè ở hồ Hòa Bình (Phú Thọ).

Ứng dụng khoa học cho chuỗi giá trị nông nghiệp xanh

Chuyển đổi sản xuất nông nghiệp đang là yêu cầu bắt buộc trong quá trình phát triển của xã hội hiện đại và hội nhập quốc tế. Xây dựng hệ thống ứng dụng khoa học, công nghệ đồng bộ cho chuỗi giá trị nông nghiệp được xác định là “chìa khóa” thành công cho việc hiện thực hóa mục tiêu nông nghiệp xanh, bền vững.

Khóa đào tạo về công nghệ lò phản ứng của Trung tâm Đào tạo hạt nhân (Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam). (Ảnh: AN LAM)

Xây dựng đội ngũ cho chương trình điện hạt nhân

Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu của quốc gia cung cấp công nghệ và Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) là một trong những nền tảng quan trọng để Việt Nam triển khai chương trình điện hạt nhân an toàn, hiệu quả.