Gỡ “nút thắt” sở hữu trí tuệ: Cần cơ chế chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp

Gỡ “nút thắt” sở hữu trí tuệ: Cần cơ chế chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp

Việt Nam đang đứng trước bài toán khó khi số lượng sáng chế có khả năng thương mại hóa ở quy mô lớn còn khiêm tốn và vi phạm bản quyền vẫn còn khá phổ biến. Làm sao để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, gỡ “nút thắt” sở hữu trí tuệ là vấn đề được đặt ra.

Theo TS Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển, Thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách của Thủ tướng, đã đến lúc cần thay đổi tư duy quản lý, từ bảo hộ đơn thuần sang xây dựng hệ sinh thái chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp để đưa sở hữu trí tuệ từ “nhận thức” trở thành “nguồn lực” thúc đẩy kinh tế bền vững.

1.jpg

Phóng viên: Một số ý kiến cho rằng Việt Nam đã có không ít kết quả nghiên cứu khoa học nhưng tỷ lệ thương mại hóa còn thấp. Theo ông, đâu là “nút thắt” lớn nhất hiện nay?

TS Lê Xuân Nghĩa: Thực tế dù đã có những nghiên cứu khoa học nhưng so với các nước trên thế giới, số lượng sáng chế được đăng ký quốc tế của Việt Nam vẫn ở mức thấp, không chỉ so với các nền kinh tế phát triển mà ngay cả trong khu vực châu Á. Trong đó, “nút thắt” lớn nhất nằm ở hai vấn đề cốt lõi.

z7744632722926-4037fdff0a9c194dcd8e7d5126578337.jpg
TS Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển, Thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách của Thủ tướng

Thứ nhất, thiếu sự gắn kết giữa nghiên cứu và sản xuất kinh doanh. Ở các quốc gia phát triển, các tập đoàn lớn đều có hệ thống viện nghiên cứu và trường đại học trực thuộc, tạo nên hệ sinh thái “học đi đôi với hành”. Các nghiên cứu khoa học vì vậy bám sát nhu cầu thực tiễn, có khả năng thương mại hóa cao.

Trong khi đó, tại Việt Nam, số doanh nghiệp có năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) còn rất hạn chế. Các sáng kiến mang tính rời rạc, phát sinh từ thực tiễn sản xuất nhỏ lẻ, thiếu nền tảng nghiên cứu chuyên sâu nên khó đạt tiêu chuẩn đăng ký quốc tế, càng khó thương mại hóa ở quy mô lớn.

Thứ hai, thiếu hụt nhân tài và điều kiện nghiên cứu. Khoa học công nghệ không thể phát triển nếu không có đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Trong khi đó, các quốc gia đi trước đều có chiến lược bài bản để thu hút nhân tài toàn cầu, đi kèm với chế độ đãi ngộ và điều kiện nghiên cứu tương xứng.

Bên cạnh đó, hoạt động nghiên cứu đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn, từ phòng thí nghiệm, dây chuyền thử nghiệm đến chi phí thử sai nhiều lần. Đây là điều mà phần lớn doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ khả năng đáp ứng.

1-1302.jpg
Khoa học công nghệ không thể phát triển nếu không có đội ngũ nhân lực chất lượng cao.

Phóng viên: Việt Nam đã ban hành những chính sách thúc đẩy tài sản trí tuệ, nhưng vẫn chưa thực sự thúc đẩy được nhiều sáng chế của doanh nghiệp. Theo ông chúng ta đang thiếu điều gì?

TS Lê Xuân Nghĩa: Để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, Việt Nam cần hoàn thiện đồng bộ ba trụ cột chính sách. Trước hết, cần xây dựng mô hình gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp-Viện nghiên cứu-Trường đại học. Doanh nghiệp lớn phải đóng vai trò trung tâm, chủ động đầu tư vào đào tạo và nghiên cứu, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào khu vực công.

Cùng với đó là phát triển hệ thống viện nghiên cứu và trung tâm R&D trong doanh nghiệp, đồng thời có cơ chế mạnh mẽ để thu hút và giữ chân nhân tài. Nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao chính là yếu tố quyết định tạo ra các sáng chế có giá trị.

Để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, Việt Nam cần hoàn thiện đồng bộ ba trụ cột chính sách: Xây dựng mô hình gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp-Viện nghiên cứu-Trường đại học; phát triển hệ thống viện nghiên cứu và trung tâm R&D trong doanh nghiệp; thiết lập cơ chế tài chính chia sẻ rủi ro trong nghiên cứu khoa học.

TS Lê Xuân Nghĩa

Ngoài ra, cần thiết lập cơ chế tài chính chia sẻ rủi ro trong nghiên cứu khoa học. Theo kinh nghiệm quốc tế, Nhà nước cần tham gia hỗ trợ một phần vốn cho các dự án nghiên cứu trọng điểm, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ lõi. Mô hình phổ biến là Nhà nước, quỹ đầu tư và doanh nghiệp cùng góp vốn, qua đó giảm thiểu rủi ro và khuyến khích đầu tư dài hạn.

Nghiên cứu khoa học là lĩnh vực có độ rủi ro rất cao, không phải dự án nào cũng thành công. Vì vậy, nếu không có cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp, doanh nghiệp sẽ không dám đầu tư.

2.jpg

Phóng viên: Tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nhất là trên môi trường số, vẫn diễn ra phổ biến. Theo ông, khó khăn lớn nhất của vấn đề này là gì?

TS Lê Xuân Nghĩa: Khó khăn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở kỹ thuật quản lý mà sâu xa hơn là nhận thức xã hội về sở hữu trí tuệ chưa đầy đủ và thiếu nghiêm túc. Thực tế khá phổ biến là việc sử dụng phần mềm không bản quyền, sao chép sản phẩm sáng tạo trong âm nhạc, mỹ thuật, hay các nội dung số vẫn diễn ra rộng rãi. Điều này tạo ra một môi trường mà giá trị của tài sản trí tuệ không được tôn trọng đúng mức.

Bên cạnh đó, hệ thống thực thi còn nhiều hạn chế. Dù đã có quy định pháp luật nhưng cơ chế giám sát và xử lý vi phạm chưa đủ mạnh. Các cơ quan chức năng thiếu công cụ, nguồn lực và hạ tầng kỹ thuật để phát hiện, chứng minh và xử lý vi phạm một cách nhanh chóng, hiệu quả.

Khó khăn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở kỹ thuật quản lý mà sâu xa hơn là nhận thức xã hội về sở hữu trí tuệ chưa đầy đủ và thiếu nghiêm túc.

TS Lê Xuân Nghĩa

Một vấn đề nữa là chúng ta thiếu hệ thống kiểm định và xác nhận chất lượng sản phẩm đạt chuẩn quốc tế. Trong khi nhiều quốc gia đã đầu tư mạnh vào các trung tâm kiểm định, giúp xác định nhanh chóng hàng thật-hàng giả thì Việt Nam vẫn thiếu những thiết chế tương tự.

Điều này khiến việc xử lý vi phạm kéo dài, giảm hiệu quả răn đe. Muốn xây dựng thị trường sở hữu trí tuệ lành mạnh, cần bắt buộc các doanh nghiệp và cá nhân tuân thủ nguyên tắc sử dụng tài sản trí tuệ có trả phí, đồng thời tăng cường xử phạt nghiêm minh để hình thành thói quen tôn trọng bản quyền.

2-8607.jpg
Khi thị trường vận hành theo nguyên tắc minh bạch, công bằng, doanh nghiệp sẽ chủ động coi sở hữu trí tuệ là tài sản chiến lược.

Phóng viên: Nhiều doanh nghiệp chỉ quan tâm đăng ký sở hữu trí tuệ khi sản phẩm đã thành công, thậm chí bị đăng ký thương hiệu trước ở nước ngoài. Làm thế nào để thay đổi tư duy này, thưa ông?

TS Lê Xuân Nghĩa: Đây là hệ quả của một thời gian dài chúng ta coi nhẹ vai trò của tài sản trí tuệ. Doanh nghiệp thường chỉ chú trọng sản xuất, kinh doanh mà chưa xem sở hữu trí tuệ là một phần trong chiến lược phát triển. Để thay đổi, trước hết cần nâng cao nhận thức thông qua thực thi pháp luật nghiêm minh. Khi vi phạm bị xử lý thường xuyên, chi phí vi phạm tăng lên, doanh nghiệp sẽ buộc phải thay đổi hành vi.

Cùng với đó, cần xây dựng hệ thống giám sát chuyên trách về sở hữu trí tuệ, có đủ năng lực phát hiện và xử lý vi phạm. Luật pháp chỉ phát huy hiệu quả khi đi kèm với bộ máy thực thi đủ mạnh.

Ngoài ra, việc đầu tư hạ tầng kiểm định chất lượng và xác thực sản phẩm là rất cần thiết. Khi có hệ thống kiểm định uy tín, sản phẩm được xác nhận rõ ràng về chất lượng và nguồn gốc, doanh nghiệp sẽ có động lực đăng ký và bảo vệ tài sản trí tuệ của mình.

Doanh nghiệp thường chỉ chú trọng sản xuất, kinh doanh mà chưa xem sở hữu trí tuệ là một phần trong chiến lược phát triển.

TS Lê Xuân Nghĩa

Một yếu tố quan trọng khác là xây dựng văn hóa kinh doanh tôn trọng giá trị sáng tạo. Khi thị trường vận hành theo nguyên tắc minh bạch, công bằng, doanh nghiệp sẽ chủ động coi sở hữu trí tuệ là tài sản chiến lược, không còn tâm lý “làm trước, đăng ký sau”.

Hơn hết, cần xây dựng văn hóa kinh doanh tôn trọng giá trị sáng tạo. Khi thị trường vận hành theo nguyên tắc minh bạch, công bằng, doanh nghiệp sẽ chủ động coi sở hữu trí tuệ là tài sản chiến lược, không còn tâm lý “làm trước, đăng ký sau”.

3.jpg

Phóng viên: Thưa ông làm thế nào để sở hữu trí tuệ thực sự trở thành “nguồn lực phát triển” của nền kinh tế?

TS Lê Xuân Nghĩa: Để sở hữu trí tuệ trở thành động lực tăng trưởng, cần triển khai đồng bộ ba yếu tố nền tảng. Trước hết, cần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ nhân tài trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Đây là điều kiện tiên quyết để tạo ra các sản phẩm trí tuệ có giá trị.

Khi tài sản trí tuệ được bảo vệ và định giá đúng, nó mới trở thành nguồn lực thực sự cho phát triển.

TS Lê Xuân Nghĩa

Bên cạnh đó, cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, bao gồm cả khu vực công và tư. Các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cần được hỗ trợ về tài chính và hạ tầng để triển khai các dự án nghiên cứu dài hạn.

Ngoài ra, cần xây dựng hệ thống bảo vệ và thương mại hóa tài sản trí tuệ hiệu quả, bao gồm cơ chế pháp lý, hệ thống kiểm định chất lượng và thị trường giao dịch công nghệ. Khi tài sản trí tuệ được bảo vệ và định giá đúng, nó mới trở thành nguồn lực thực sự cho phát triển. Kinh nghiệm từ các quốc gia như Hàn Quốc cho thấy, việc ưu tiên sử dụng sản phẩm trong nước không chỉ là lựa chọn tiêu dùng mà còn là chiến lược hỗ trợ doanh nghiệp nội địa phát triển.

Phóng viên: Xin cảm cảm ơn ông!


Tổ chức: Hồng Vân

Thực hiện: Kim Dung

Trình bày: Bảo Minh

Có thể bạn quan tâm

Hoạt động nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Trường đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: DIỆP NGỌC)

Nền tảng cho mô hình tăng trưởng mới

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam chỉ rõ, về kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Ông Võ Xuân Hoài, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) phát biểu tại lễ trao giải. (Ảnh: MH)

Trao giải Better Choice Awards 2026 vinh danh sản phẩm, giải pháp, thương hiệu đổi mới sáng tạo

Tối 4/10, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, Gala trao giải Better Choice Awards 2026 đã vinh danh 45 hạng mục thuộc 4 trục giải thưởng, từ những giải pháp trí tuệ nhân tạo do người Việt làm chủ, những doanh nghiệp kiến tạo nền tảng quốc gia, tới các sản phẩm công nghệ và mẫu xe thay đổi đời sống người tiêu dùng.

Các diễn giả chia sẻ tại phiên tọa đàm trong khuôn khổ Diễn đàn. (Ảnh: Hà Linh)

Tạo cơ chế thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo

Chiều 4/10, trong khuôn khổ Ngày hội Đổi mới sáng tạo Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Diễn đàn Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia 2026 nhằm tăng cường kết nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và Trường đại học trong nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ.

Ông Nguyễn Võ Hưng, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ đổi mới sáng tạo chia sẻ tại Diễn đàn. (Ảnh: Hà Linh)

Lựa chọn hướng đổi mới sáng tạo cho Việt Nam

Tại Diễn đàn Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo 2026 diễn ra chiều 4/10, một vấn đề được nhiều doanh nghiệp, nhà quản lý quan tâm là phân tích các xu hướng công nghệ mới và cơ hội cho Việt Nam. Các phân tích cho rằng, việc lựa chọn hướng đổi mới sáng tạo cần phù hợp với nguồn lực, nhu cầu và có chính sách hỗ trợ tương ứng.

Trao giải Nhất cho đội Trường cao đẳng FPT Polytechnic Quy Nhơn. (Ảnh: PHÚC THẮNG)

Cổ vũ khát vọng tiên phong cùng AI và chuyển đổi số vì cộng đồng

Sau hai ngày hoạt động sôi nổi, đầy cảm hứng và tràn đầy nhiệt huyết, sáng 4/10, Trại sáng tạo số cùng Cuộc thi Gia Lai Youth HackAIthon năm 2026 đã chính thức khép lại, để lại dấu ấn đẹp trong lòng hàng trăm bạn trẻ, chuyên gia, doanh nghiệp và những người tận tâm với sự nghiệp giáo dục, đổi mới sáng tạo tại Gia Lai.

Thử nghiệm phương tiện bay không người lái (UAV) phát triển kinh tế không gian tầm thấp tại Điện Biên. (Ảnh: MST)

Việt Nam mở không gian tăng trưởng mới từ kinh tế tầm thấp

Ba khu thử nghiệm bay cấp quốc gia, mục tiêu nội địa hóa UAV trên 85% và đóng góp khoảng 1,5% GDP vào năm 2045 là những dấu mốc được đặt ra để phát triển kinh tế không gian tầm thấp, gắn làm chủ công nghệ với hình thành thị trường sản phẩm, dịch vụ mới.

Các thí sinh dự thi vòng chung kết Cuộc thi Gia Lai Youth HackAIthon năm 2026.

Tuổi trẻ Gia Lai tiên phong chuyển đổi số vì cộng đồng

Sáng 3/10, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Gia Lai phối hợp Trường đại học FPT cơ sở Quy Nhơn và Trường cao đẳng FPT Polytechnic Quy Nhơn khai mạc Trại sáng tạo số và Cuộc thi Gia Lai Youth HackAIthon năm 2026 với chủ đề “Thanh niên Gia Lai sáng tạo cùng AI - Chuyển đổi số vì cộng đồng”.

Diễn đàn công nghệ số Việt Nam-Nhật Bản 2026 với chủ đề “Cộng hưởng số Việt-Nhật: Đồng sáng tạo tương lai với trí tuệ nhân tạo và công nghệ chuyên sâu”. (Ảnh: Ban tổ chức)

Mở rộng hợp tác công nghệ Việt Nam-Nhật Bản theo hướng đồng sáng tạo

Từ nền tảng hợp tác phần mềm hơn hai thập kỷ, Việt Nam và Nhật Bản đang mở rộng sang nghiên cứu, phát triển công nghệ chuyên sâu và cùng đưa sản phẩm ra thị trường. Tại Diễn đàn công nghệ số Việt Nam-Nhật Bản 2026 ngày 2/10 tại Tokyo, hai bên nhấn mạnh chuyển từ cung ứng dịch vụ sang cùng giải quyết bài toán, tạo sản phẩm.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh và đại diện Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội Viettel thực hiện nghi thức ra mắt Trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) và Ứng dụng Công dân số NinhBinh-S.

Ninh Bình ra mắt Trung tâm IOC, Ứng dụng NinhBinh-S

Ngày 2/10, tỉnh Ninh Bình tổ chức Hội nghị chào mừng Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10), Ngày Công dân số Việt Nam (15/10) và ra mắt Trung tâm Điều hành thông minh (IOC), Ứng dụng Công dân số NinhBinh-S, phát động Tháng cao điểm triển khai “Bộ học liệu đa phương tiện”, lan tỏa phong trào “Bình dân học vụ số”.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ phát biểu tại sự kiện. (Ảnh: CTV)

Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ triển khai chương trình 300 ngày đổi mới, phát triển

Ngày 2/10, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam công bố Kế hoạch thực hiện Chương trình “300 ngày đổi mới, phát triển Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ”, với thông điệp “3Đ-3P: Đổi mới để tạo đột phá-Phát triển để tạo giá trị”.