Đẩy lùi mối nguy từ lối đi tự mở

Ngành giao thông đặt mục tiêu đến hết năm 2025 xóa bỏ toàn bộ lối đi tự mở vượt qua đường sắt. Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ khó khả thi vì tính phức tạp, đòi hỏi mức đầu tư cao, thêm nữa liên quan nhiều ngành, nhiều cấp và quyền lợi của người dân.
Các tuyến giao giữa đường bộ và đường sắt là nơi tiềm ẩn những nguy cơ tai nạn thường nhật.
Các tuyến giao giữa đường bộ và đường sắt là nơi tiềm ẩn những nguy cơ tai nạn thường nhật.

Những pha “thót tim”

Trên các tuyến giao giữa đường bộ và đường sắt, hình ảnh người dân cố tình vượt rào chắn, đi qua đường ray không quan sát, tự “xé” rào đường sắt làm lối đi, hay các sinh hoạt như rửa xe, trồng rau, phơi quần áo ngay cạnh đường sắt… trở nên phổ biến, bất chấp nhiều vụ tai nạn thương tâm đã xảy ra.

Thực trạng này đã và đang đe dọa đến an toàn tính mạng của chính người dân, ảnh hưởng nghiêm trọng hành trình của những chuyến tàu, gây thiệt hại lớn đến nền kinh tế đất nước.

Trực tiếp bám các hành trình, anh Lê Lâm Đồng, phụ lái, đầu máy D19E-921 (Xí nghiệp đầu máy Hà Nội), chia sẻ: “Đoạn đường từ ga Hà Nội đến hết địa bàn tỉnh Nam Định có nhiều lối đi tự mở bất hợp pháp qua đường sắt nhất. Quá trình chạy tàu, chúng tôi thường xuyên phải đối mặt những “pha” thót tim”.

Là người “trực chiến” ở hiện trường, anh Nguyễn Văn Đức, nhân viên gác chắn khu vực thôn An Khoái, huyện Phú Xuyên (Hà Nội), tâm sự: “Rất nhiều người khi cần chắn đã hạ, tàu chạy gần đến nơi mà vẫn cố tình lách qua. Không ít lần chúng tôi kéo cần chắn, người dân ngang nhiên nhấc lên để đi qua trước... Đó là những hành động coi thường tính mạng”.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, có tới hơn 4.680 điểm giao cắt giữa đường sắt và đường bộ trên tất cả các tuyến, chưa kể có tới hơn 3.100 lối đi tự mở, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông. Cục Đường sắt Việt Nam chỉ ra bốn “điểm đen” thường xảy ra tai nạn, là Km 266+180 (xã Quỳnh Giang, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An); Km81+487 (thị trấn Mỹ Lộc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định); Km109+350 (xã Yên Bằng, huyện

Ý Yên, tỉnh Nam Định); Km8+042 (thị trấn Văn Điển, huyện Thanh Trì, Hà Nội).

Chậm xóa “điểm đen”

Ông Trần Cao Thắng, Trưởng ban An ninh an toàn, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cho biết, những lối đi tự mở bất hợp pháp đã vi phạm trật tự hành lang an toàn giao thông đường sắt và có tới hơn 50% số vụ tai nạn có nguyên nhân từ lối đi tự mở. Năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 358/QĐ-TTg phê duyệt Đề án bảo đảm trật tự hành lang an toàn giao thông và xử lý dứt điểm lối đi tự mở qua đường sắt. Trong đó, nêu rõ các hạng mục công trình và lộ trình thực hiện nhằm thực hiện mục tiêu đến năm 2025 xóa bỏ hoàn toàn lối đi tự mở. Thế nhưng, hiện các địa phương vẫn thực hiện rất chậm. Hà Nội là địa phương có điều kiện hơn các địa phương khác, nhưng lại triển khai chậm nhất.

Bức xúc trước các mối nguy khi người dân tự mở lối đi, song việc triệt xóa lại chậm, ông Nguyễn Trung Thành, Trưởng ga Văn Điển (Hà Nội) nêu thực trạng, trong phạm vi ga quản lý hiện có 40 lối đi tự mở. Chỉ tính riêng trong năm 2023, khu vực này đã xảy ra 11 vụ tai nạn, tới 10 vụ liên quan lối đi tự mở. Từ năm 2017 đến nay huyện Thanh Trì (Hà Nội) mới xóa được… duy nhất một lối (đoạn gần cầu Văn Điển).

Tại Nam Định, năm 2023, toàn tỉnh đã xóa bỏ 16 lối đi tự mở, hiện vẫn còn 68 lối đi tự mở chưa được xử lý. Như vậy, từ chỗ có 249 lối đi tự mở qua đường sắt, trong thời gian qua, toàn tỉnh đã xóa được 181 lối đi tự mở. Công an tỉnh đã chỉ đạo Phòng Cảnh sát Giao thông và Công an các huyện tăng cường công tác tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường sắt, phát hiện kịp thời các bất cập, góp phần bảo đảm an toàn chạy tàu.

Bộ Giao thông vận tải đã có công văn đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có đường sắt đi qua bố trí kinh phí làm hàng rào, đường gom, xóa lối đi tự mở, để thực hiện Đề án bảo đảm trật tự hành lang an toàn giao thông và xử lý dứt điểm lối đi tự mở qua đường sắt. Về vấn đề này, đại diện Cục Đường sắt Việt Nam cho rằng, nhiều địa phương chưa ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách để thực hiện xây dựng hàng rào, đường gom xóa bỏ lối đi tự mở. Cùng đó, nguồn kinh phí để đầu tư xây dựng công trình phụ trợ như cầu vượt, hầm chui, đường ngang, hàng rào/đường gom... chưa được cấp thẩm quyền bố trí.

“Rèn” ý thức trách nhiệm của công nhân lái tàu

Những năm qua, Xí nghiệp đầu máy Sài Gòn đã thường xuyên rà soát, đánh giá nhân lực chạy tàu để có biện pháp kịp thời tuyên truyền, giáo dục đào tạo về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như ý thức trách nhiệm của công nhân lái tàu; cương quyết không bố trí làm công tác liên quan đến vận tải đối với cán bộ, công nhân viên chưa nắm vững nghiệp vụ liên quan và đưa ra khỏi đơn vị những người thường xuyên vi phạm, thiếu ý thức trách nhiệm trong công việc; tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho công nhân lái tàu thực hiện các Quy chuẩn quốc gia về chạy tàu, giải quyết sự cố, tai nạn giao thông đường sắt. Bởi theo ông Vũ Đức Thắng, Giám đốc Xí nghiệp đầu máy Sài Gòn, một trong những vấn đề góp phần bảo đảm an toàn đường sắt là phải tiếp tục nâng cao tính kỷ luật, chấp hành an toàn giao thông của chính các công nhân lái tàu.

Theo Phó Giám đốc Xí nghiệp đầu máy Hà Nội Nguyễn Văn Thủy, thực tế, lái tàu là công việc rất đặc thù. Làm sao phải hạn chế thấp nhất tai nạn, nếu không thể xử lý để không đâm va, thì cần có các biện pháp giảm thiệt hại. Mỗi vụ việc công nhân lái tàu tránh được tai nạn thì xí nghiệp và Tổng công ty Đường sắt Việt Nam luôn có hình thức khen thưởng, khích lệ.

Cục Đường sắt Việt Nam kiến nghị, trong thời gian tới, các địa phương cần tiếp tục bố trí nhân lực cảnh giới tại các lối đi tự mở có nguy cơ cao xảy ra tai nạn giao thông; phối hợp ngành đường sắt tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho nhân lực cảnh giới, trang bị đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cảnh giới theo quy định.

Mới đây, Cục Đường sắt Việt Nam đã đề xuất Bộ Giao thông vận tải bố trí vốn trung hạn giai đoạn 2026-2031 làm đường ngang, hầm chui để xóa lối đi tự mở, giảm tai nạn đường sắt. Theo đó, sẽ tiến hành xây dựng 297 đường ngang và 149 hầm chui. Tổng mức đầu tư dự kiến 1.800 tỷ đồng, nguồn vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2031.

Có thể bạn quan tâm

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.