Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)
Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Để bảo đảm được mục tiêu chiến lược đó, yêu cầu phải thay đổi căn bản tư duy về tài sản trí tuệ trong cộng đồng sáng tạo cần được ưu tiên.

Di sản của một thế hệ “phòng thủ”

Gần hai thập kỷ kể từ khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có hiệu lực, phần lớn cộng đồng sáng tạo Việt Nam, từ nhạc sĩ, ca sĩ, biên đạo cho đến các đơn vị tổ chức biểu diễn, đã quen tiếp cận quyền tác giả và quyền liên quan dưới một lăng kính duy nhất. Đó là quyền cần được bảo vệ khỏi bị xâm phạm.

Cách tiếp cận đó, nhìn bề ngoài tưởng như cẩn trọng, kỳ thực lại là một dạng bị động đã ăn sâu vào nếp nghĩ, rằng người sáng tạo chỉ thật sự nghĩ tới quyền của mình khi đã có hành vi xâm phạm xảy ra, khi bản ghi bị tải lên các nền tảng mà không qua thỏa thuận, khi bản phối được dùng làm nhạc nền cho hàng triệu video ngắn không ghi nguồn, khi buổi diễn bị livestream lén ngay trong đêm khai mạc. Phản ứng phổ biến vẫn dừng ở một dòng trạng thái phẫn nộ trên mạng xã hội, hiếm khi đi tới một quy trình thực thi quyền có chuẩn bị, dù pháp luật Việt Nam đã trao cho chủ thể quyền nhiều công cụ đáng kể, từ biện pháp dân sự, hành chính cho đến hình sự, đối với hành vi xâm phạm ở quy mô lớn về mặt thương mại.

Hệ quả của cách tiếp cận phòng thủ đó nặng nề hơn rất nhiều so với những gì người trong cuộc thường thừa nhận. Khi tác phẩm chỉ được nhìn như một thứ có nguy cơ bị mất, nó không bao giờ được định giá đúng nghĩa, không được ghi nhận như một tài sản có thể chuyển nhượng, góp vốn, bảo đảm tín dụng hoặc đưa vào di sản thừa kế theo đúng cấu trúc tài sản.

Một bài hát thông thường, ngay khi được phát hành ra công chúng, chứa đựng ít nhất ba loại quyền pháp lý độc lập dành cho các chủ thể khác nhau: Quyền tác giả đối với phần nhạc và phần lời, quyền của nhà sản xuất bản ghi, và quyền của người biểu diễn. Mỗi loại quyền lại có thể được phân tách tiếp, theo phương thức khai thác, gồm quyền sao chép, quyền truyền đạt tới công chúng, quyền biểu diễn trước công chúng, quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao, quyền làm đồng bộ hóa, quyền in ấn, quyền làm tác phẩm phái sinh.

Không nắm được cấu trúc nhiều tầng ấy, chủ thể quyền dễ rơi vào hai cực, và đều bất lợi: Hoặc ký một hợp đồng “bán đứt” mơ hồ khiến mình mất quyền kiểm soát chính tác phẩm gắn với tên tuổi mình, hoặc bỏ ngỏ quyền cho thị trường tự do khai thác mà không có cơ chế thu phí.

Thế hệ “kiến tạo” đã hình thành

Một sự dịch chuyển âm thầm đã bắt đầu; đây là chuyển động đáng kể nhất của giới sáng tạo Việt Nam trong thập niên vừa qua. Không còn là “làm sao để bảo vệ tác phẩm khỏi bị mất”, câu hỏi cốt lõi mà các nghệ sĩ thế hệ mới đặt ra đã chuyển sang nội dung rộng hơn rất nhiều: Làm sao để tác phẩm này sinh ra giá trị một cách bền vững và hợp pháp ở Việt Nam cũng như trên các thị trường ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Sự chuyển dịch được thể hiện thông qua những hành vi cụ thể có thể quan sát được. Theo Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), ngày càng nhiều tác giả chủ động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan. Cũng cần nhấn mạnh rằng, theo quy định của pháp luật, quyền tác giả và quyền liên quan quyền tác giả phát sinh tự động kể từ thời điểm tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký hay công bố. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận đăng ký do Cục Bản quyền tác giả cấp lại có giá trị chứng cứ đặc biệt khi xảy ra tranh chấp, vì khi một bên sở hữu Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả thì nghĩa vụ chứng minh trong một vụ tranh chấp được dịch chuyển sang phía bên kia. Việc nhiều nghệ sĩ, nhà sáng tạo đã chủ động đi đăng ký trước khi đưa sản phẩm ra công chúng, vì vậy, không phải hành vi mang tính thủ tục, mà là một bước đi pháp lý có tính toán, thiết lập một mốc thời gian không thể tranh cãi làm điểm tựa cho mọi giao dịch về sau.

Bên cạnh đó, các hợp đồng cấp quyền (licensing) dần được đàm phán có cấu trúc nhiều tầng. Thí dụ như trong lĩnh vực âm nhạc, thay vì chuyển nhượng toàn bộ quyền tài sản như trong các hợp đồng ở thế hệ trước, các nghệ sĩ trẻ và đội ngũ của họ bắt đầu vận dụng cơ chế chuyển quyền sử dụng có điều kiện, phân tách quyền theo lãnh thổ, theo kênh phân phối, theo thời hạn, theo mục đích sử dụng, có hoặc không có tính độc quyền.

Một bản ghi có thể được cấp phép độc quyền cho một nền tảng streaming trong nước, đồng thời được cấp phép không độc quyền cho các nền tảng ngắn dạng UGC (viết tắt từ User Generated Content/nội dung độc quyền do khách hàng tạo ra, có liên quan thương hiệu và phát trên đa dạng nền tảng) ở thị trường khu vực, trong khi quyền đồng bộ hóa với hình ảnh trong quảng cáo và điện ảnh được giữ lại để đàm phán riêng. Cấu trúc ấy cho phép tối đa hóa dòng tiền mà vẫn bảo toàn quyền kiểm soát của chủ sở hữu tác phẩm.

Điều đáng chú ý, một bộ phận nghệ sĩ bắt đầu nhìn nhận quyền liên quan hình tượng cá nhân của mình, gồm quyền nhân thân của người biểu diễn theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ và các quyền hình ảnh được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự, như một thương hiệu có thể nhượng quyền có điều kiện. Ngôn ngữ thị giác sân khấu, cách phối khí đặc trưng, thậm chí những chi tiết tạo hình mang tính nhận diện đều được thiết kế có chủ đích để có thể chuyển hóa thành các sản phẩm phái sinh, các thỏa thuận hợp tác thương hiệu, các dự án hợp tác với điện ảnh, thời trang và du lịch văn hóa.

Theo dòng dịch chuyển của tư duy về sở hữu trí tuệ trong công nghiệp văn hóa hiện nay, một yêu cầu mới đồng thời cần được đặt ra: Chủ thể sáng tạo từ nay phải đồng thời là chủ thể kinh tế, hiểu cấu trúc quyền của mình, biết định giá nó, biết đàm phán về nó, biết khi nào tự khai thác và khi nào ủy thác qua tổ chức quản lý tập thể. Nhà nước, theo tinh thần Nghị quyết 80, đóng vai trò kiến tạo bằng cách hoàn thiện thể chế và xây dựng hạ tầng số dùng chung. Nhưng kiến tạo dù tốt đến đâu cũng chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ vẫn nằm ở chỗ người sáng tạo có chủ động bước vào không gian mới này hay không.

Hành trình cần tiếp tục

Sẽ là quá lạc quan nếu cho rằng cuộc dịch chuyển tư duy này đã hoàn tất. Nhận thức về quyền tác giả và quyền liên quan trong cộng đồng sáng tạo Việt Nam vẫn còn chênh lệch rất lớn giữa các thế hệ, giữa các loại hình nghệ thuật, giữa các trung tâm đô thị và những địa phương nơi nhiều giá trị văn hóa đặc sắc đang chờ được khai mở đúng cách.

Không gian số vừa mở ra cơ hội khai thác chưa từng có trong lịch sử, vừa đặt người sáng tạo trước những thách thức pháp lý phức tạp đến mức ngay cả các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa lâu đời cũng còn loay hoay tìm lời giải. Và bây giờ, làn sóng trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang đặt lại từ gốc rễ những câu hỏi tưởng đã có lời đáp về tư cách tác giả, về phạm vi của ngoại lệ quyền tác giả khi tác phẩm bị đưa vào dữ liệu huấn luyện, về cơ chế phân chia lợi ích trong chuỗi giá trị mà chính người sáng tạo gốc không hề tham gia.

Sự chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ không thể, và không nên, là việc của riêng cộng đồng sáng tạo. Nó đòi hỏi sự đồng hành thực chất của cơ quan quản lý nhà nước trong việc cập nhật pháp luật và nâng cao năng lực thực thi, của doanh nghiệp công nghiệp văn hóa trong việc xây dựng các mô hình kinh doanh tôn trọng quyền tác giả, của các nền tảng số trong việc minh bạch hóa cơ chế phân chia lợi ích; và của chính công chúng thụ hưởng trong việc nhìn nhận lại thói quen tiêu dùng văn hóa của mình. Mỗi mắt xích trong hệ sinh thái ấy đều cần thay đổi cách nhìn về giá trị của một tác phẩm. Bởi chỉ khi mọi mắt xích cùng dịch chuyển, mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết 80 đã đặt ra mới có thể trở thành hiện thực, tài sản trí tuệ của người Việt Nam thật sự trở thành tài sản. Khi đó, Việt Nam thật sự bước vào quỹ đạo của một quốc gia có sức mạnh mềm văn hóa xứng tầm ■

Khi một thế hệ sáng tạo đặt câu hỏi khác về tài sản của mình, đồng thời các tổ chức quản lý quyền tác giả nâng cấp năng lực vận hành, các công ty quản lý nghệ sĩ chuyên nghiệp xuất hiện, các nền tảng phân phối nội dung số trong nước trưởng thành…, điều này không có nghĩa chỉ là sự lớn lên của một nhóm cá nhân xuất sắc. Nó là tín hiệu cho thấy cả một hệ sinh thái sáng tạo đang dần định hình theo những chuẩn mực mà các nền công nghiệp văn hóa thành công trên thế giới đã đi qua.

Có thể bạn quan tâm

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...

Nhiều cuộc tọa đàm được tổ chức, nhằm đóng góp ý kiến cho chuyển đổi số quy hoạch đô thị tại Hà Nội. (Ảnh DIÊN KHÁNH)

“Bộ não số” cho đô thị thông minh

Thủ đô Hà Nội đang từng bước chuyển đổi, đầu tư hạ tầng công nghệ, tích cực chuyển đổi tư duy quản trị đô thị và quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Lãnh đạo phường Hồng Hà giải đáp thắc mắc của người dân bị thu hồi đất tại hiện trường.

Thước đo của một Thủ đô vì con người

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc đô thị mạnh mẽ. Song, phía sau những công trình mang tầm vóc quy hoạch là đổi thay trong đời sống của người dân, đặt ra yêu cầu phải giải quyết hài hòa bài toán phát triển và an cư.

Các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh, như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… cần được đầu tư tương xứng. (Ảnh Thành Đạt)

Thế chân kiềng trong kỷ nguyên xanh

Lời toà soạn - Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.

Chuyển dịch xanh đang mở ra cơ hội để nông sản Việt Nam tái định vị trên thị trường quốc tế. (Trong ảnh: Trồng sầu riêng cho năng suất cao ở xã Trường Long, TP Cần Thơ). (Ảnh Phương Bằng)

Tháo gỡ nút thắt vốn và đầu tư

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, biến động thị trường khó đoán định, đòi hỏi từ người tiêu dùng cũng cao hơn, nông nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu phải chuyển dịch xanh, nâng cao giá trị.

TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Tối ưu hóa công cụ chính sách, khơi thông nguồn lực công-tư

Phát triển các công cụ chính sách mới, dựa vào cơ chế thị trường để huy động sự tham gia của toàn xã hội trong phát triển nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường là điều TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh trong cuộc trò chuyện với NDCT.

Cần thúc đẩy mô hình liên kết bốn nhà (Nhà nước-Viện nghiên cứu-Doanh nghiệp-Nông dân) theo chuỗi giá trị. (Ảnh Đạt Thành)

Doanh nghiệp tiên phong nắm lợi thế

Thể chế và hệ sinh thái về chuyển đổi số - xanh của Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện cũng như chưa đủ mạnh để phát triển trên diện rộng. Để hóa giải tình trạng này, cần đồng bộ quá trình hoàn thiện thể chế và tài chính xanh, đi đôi hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi, phát triển hạ tầng số.

Các hợp tác xã, tổ hợp tác, thông qua Chương trình FFF có nhiều cơ hội giao lưu, trao đổi để phát triển. (Ảnh FAO Việt Nam)

Ươm mầm sinh kế

Từ những mảnh vườn nhỏ ở Lào Cai, Thái Nguyên hay Phú Thọ, một mô hình mới đang dần hình thành: Nông nghiệp gắn với rừng, với thị trường, với cộng đồng và với tương lai dài hạn.

Bảy mô hình Đề án 1 triệu ha lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận năng suất đều tăng, nâng cao thu nhập cho nông dân từ 4-7,6 triệu đồng/ha. (Ảnh Lê Phương)

Bài toán nâng tầm giá trị hạt gạo

Lúa phát thải thấp giúp nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế, nhưng đồng thời cũng đặt ra bài toán lớn liên quan nguồn vốn và tổ chức canh tác nông nghiệp.

Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt giúp minh bạch hóa dòng tiền, giảm thất thu thuế, đồng thời bảo đảm an toàn tài chính cho người dân cũng như nền kinh tế. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Cuộc đua tốc độ và bảo mật

Lời toà soạn - Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tương đương hơn 14 nghìn tỷ USD.

Các hoạt động hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến và phổ biến phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (QR code, chuyển khoản) được triển khai mạnh mẽ.

Hướng tới phát triển các hệ sinh thái số

Với tốc độ tăng trưởng hai con số liên tục trong nhiều năm, thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống. Dù mang lại nhiều tiện ích, việc phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm an toàn, bảo mật.