Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)
Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Để bảo đảm được mục tiêu chiến lược đó, yêu cầu phải thay đổi căn bản tư duy về tài sản trí tuệ trong cộng đồng sáng tạo cần được ưu tiên.

Di sản của một thế hệ “phòng thủ”

Gần hai thập kỷ kể từ khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có hiệu lực, phần lớn cộng đồng sáng tạo Việt Nam, từ nhạc sĩ, ca sĩ, biên đạo cho đến các đơn vị tổ chức biểu diễn, đã quen tiếp cận quyền tác giả và quyền liên quan dưới một lăng kính duy nhất. Đó là quyền cần được bảo vệ khỏi bị xâm phạm.

Cách tiếp cận đó, nhìn bề ngoài tưởng như cẩn trọng, kỳ thực lại là một dạng bị động đã ăn sâu vào nếp nghĩ, rằng người sáng tạo chỉ thật sự nghĩ tới quyền của mình khi đã có hành vi xâm phạm xảy ra, khi bản ghi bị tải lên các nền tảng mà không qua thỏa thuận, khi bản phối được dùng làm nhạc nền cho hàng triệu video ngắn không ghi nguồn, khi buổi diễn bị livestream lén ngay trong đêm khai mạc. Phản ứng phổ biến vẫn dừng ở một dòng trạng thái phẫn nộ trên mạng xã hội, hiếm khi đi tới một quy trình thực thi quyền có chuẩn bị, dù pháp luật Việt Nam đã trao cho chủ thể quyền nhiều công cụ đáng kể, từ biện pháp dân sự, hành chính cho đến hình sự, đối với hành vi xâm phạm ở quy mô lớn về mặt thương mại.

Hệ quả của cách tiếp cận phòng thủ đó nặng nề hơn rất nhiều so với những gì người trong cuộc thường thừa nhận. Khi tác phẩm chỉ được nhìn như một thứ có nguy cơ bị mất, nó không bao giờ được định giá đúng nghĩa, không được ghi nhận như một tài sản có thể chuyển nhượng, góp vốn, bảo đảm tín dụng hoặc đưa vào di sản thừa kế theo đúng cấu trúc tài sản.

Một bài hát thông thường, ngay khi được phát hành ra công chúng, chứa đựng ít nhất ba loại quyền pháp lý độc lập dành cho các chủ thể khác nhau: Quyền tác giả đối với phần nhạc và phần lời, quyền của nhà sản xuất bản ghi, và quyền của người biểu diễn. Mỗi loại quyền lại có thể được phân tách tiếp, theo phương thức khai thác, gồm quyền sao chép, quyền truyền đạt tới công chúng, quyền biểu diễn trước công chúng, quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao, quyền làm đồng bộ hóa, quyền in ấn, quyền làm tác phẩm phái sinh.

Không nắm được cấu trúc nhiều tầng ấy, chủ thể quyền dễ rơi vào hai cực, và đều bất lợi: Hoặc ký một hợp đồng “bán đứt” mơ hồ khiến mình mất quyền kiểm soát chính tác phẩm gắn với tên tuổi mình, hoặc bỏ ngỏ quyền cho thị trường tự do khai thác mà không có cơ chế thu phí.

Thế hệ “kiến tạo” đã hình thành

Một sự dịch chuyển âm thầm đã bắt đầu; đây là chuyển động đáng kể nhất của giới sáng tạo Việt Nam trong thập niên vừa qua. Không còn là “làm sao để bảo vệ tác phẩm khỏi bị mất”, câu hỏi cốt lõi mà các nghệ sĩ thế hệ mới đặt ra đã chuyển sang nội dung rộng hơn rất nhiều: Làm sao để tác phẩm này sinh ra giá trị một cách bền vững và hợp pháp ở Việt Nam cũng như trên các thị trường ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Sự chuyển dịch được thể hiện thông qua những hành vi cụ thể có thể quan sát được. Theo Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), ngày càng nhiều tác giả chủ động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan. Cũng cần nhấn mạnh rằng, theo quy định của pháp luật, quyền tác giả và quyền liên quan quyền tác giả phát sinh tự động kể từ thời điểm tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký hay công bố. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận đăng ký do Cục Bản quyền tác giả cấp lại có giá trị chứng cứ đặc biệt khi xảy ra tranh chấp, vì khi một bên sở hữu Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả thì nghĩa vụ chứng minh trong một vụ tranh chấp được dịch chuyển sang phía bên kia. Việc nhiều nghệ sĩ, nhà sáng tạo đã chủ động đi đăng ký trước khi đưa sản phẩm ra công chúng, vì vậy, không phải hành vi mang tính thủ tục, mà là một bước đi pháp lý có tính toán, thiết lập một mốc thời gian không thể tranh cãi làm điểm tựa cho mọi giao dịch về sau.

Bên cạnh đó, các hợp đồng cấp quyền (licensing) dần được đàm phán có cấu trúc nhiều tầng. Thí dụ như trong lĩnh vực âm nhạc, thay vì chuyển nhượng toàn bộ quyền tài sản như trong các hợp đồng ở thế hệ trước, các nghệ sĩ trẻ và đội ngũ của họ bắt đầu vận dụng cơ chế chuyển quyền sử dụng có điều kiện, phân tách quyền theo lãnh thổ, theo kênh phân phối, theo thời hạn, theo mục đích sử dụng, có hoặc không có tính độc quyền.

Một bản ghi có thể được cấp phép độc quyền cho một nền tảng streaming trong nước, đồng thời được cấp phép không độc quyền cho các nền tảng ngắn dạng UGC (viết tắt từ User Generated Content/nội dung độc quyền do khách hàng tạo ra, có liên quan thương hiệu và phát trên đa dạng nền tảng) ở thị trường khu vực, trong khi quyền đồng bộ hóa với hình ảnh trong quảng cáo và điện ảnh được giữ lại để đàm phán riêng. Cấu trúc ấy cho phép tối đa hóa dòng tiền mà vẫn bảo toàn quyền kiểm soát của chủ sở hữu tác phẩm.

Điều đáng chú ý, một bộ phận nghệ sĩ bắt đầu nhìn nhận quyền liên quan hình tượng cá nhân của mình, gồm quyền nhân thân của người biểu diễn theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ và các quyền hình ảnh được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự, như một thương hiệu có thể nhượng quyền có điều kiện. Ngôn ngữ thị giác sân khấu, cách phối khí đặc trưng, thậm chí những chi tiết tạo hình mang tính nhận diện đều được thiết kế có chủ đích để có thể chuyển hóa thành các sản phẩm phái sinh, các thỏa thuận hợp tác thương hiệu, các dự án hợp tác với điện ảnh, thời trang và du lịch văn hóa.

Theo dòng dịch chuyển của tư duy về sở hữu trí tuệ trong công nghiệp văn hóa hiện nay, một yêu cầu mới đồng thời cần được đặt ra: Chủ thể sáng tạo từ nay phải đồng thời là chủ thể kinh tế, hiểu cấu trúc quyền của mình, biết định giá nó, biết đàm phán về nó, biết khi nào tự khai thác và khi nào ủy thác qua tổ chức quản lý tập thể. Nhà nước, theo tinh thần Nghị quyết 80, đóng vai trò kiến tạo bằng cách hoàn thiện thể chế và xây dựng hạ tầng số dùng chung. Nhưng kiến tạo dù tốt đến đâu cũng chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ vẫn nằm ở chỗ người sáng tạo có chủ động bước vào không gian mới này hay không.

Hành trình cần tiếp tục

Sẽ là quá lạc quan nếu cho rằng cuộc dịch chuyển tư duy này đã hoàn tất. Nhận thức về quyền tác giả và quyền liên quan trong cộng đồng sáng tạo Việt Nam vẫn còn chênh lệch rất lớn giữa các thế hệ, giữa các loại hình nghệ thuật, giữa các trung tâm đô thị và những địa phương nơi nhiều giá trị văn hóa đặc sắc đang chờ được khai mở đúng cách.

Không gian số vừa mở ra cơ hội khai thác chưa từng có trong lịch sử, vừa đặt người sáng tạo trước những thách thức pháp lý phức tạp đến mức ngay cả các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa lâu đời cũng còn loay hoay tìm lời giải. Và bây giờ, làn sóng trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang đặt lại từ gốc rễ những câu hỏi tưởng đã có lời đáp về tư cách tác giả, về phạm vi của ngoại lệ quyền tác giả khi tác phẩm bị đưa vào dữ liệu huấn luyện, về cơ chế phân chia lợi ích trong chuỗi giá trị mà chính người sáng tạo gốc không hề tham gia.

Sự chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ không thể, và không nên, là việc của riêng cộng đồng sáng tạo. Nó đòi hỏi sự đồng hành thực chất của cơ quan quản lý nhà nước trong việc cập nhật pháp luật và nâng cao năng lực thực thi, của doanh nghiệp công nghiệp văn hóa trong việc xây dựng các mô hình kinh doanh tôn trọng quyền tác giả, của các nền tảng số trong việc minh bạch hóa cơ chế phân chia lợi ích; và của chính công chúng thụ hưởng trong việc nhìn nhận lại thói quen tiêu dùng văn hóa của mình. Mỗi mắt xích trong hệ sinh thái ấy đều cần thay đổi cách nhìn về giá trị của một tác phẩm. Bởi chỉ khi mọi mắt xích cùng dịch chuyển, mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết 80 đã đặt ra mới có thể trở thành hiện thực, tài sản trí tuệ của người Việt Nam thật sự trở thành tài sản. Khi đó, Việt Nam thật sự bước vào quỹ đạo của một quốc gia có sức mạnh mềm văn hóa xứng tầm ■

Khi một thế hệ sáng tạo đặt câu hỏi khác về tài sản của mình, đồng thời các tổ chức quản lý quyền tác giả nâng cấp năng lực vận hành, các công ty quản lý nghệ sĩ chuyên nghiệp xuất hiện, các nền tảng phân phối nội dung số trong nước trưởng thành…, điều này không có nghĩa chỉ là sự lớn lên của một nhóm cá nhân xuất sắc. Nó là tín hiệu cho thấy cả một hệ sinh thái sáng tạo đang dần định hình theo những chuẩn mực mà các nền công nghiệp văn hóa thành công trên thế giới đã đi qua.

Có thể bạn quan tâm

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi. 

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.

Ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Mỗi dữ liệu chỉ khai một lần, mỗi kết quả sử dụng nhiều lần

Xoay quanh nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa một thủ tục được đưa lên môi trường số và một thủ tục thật sự giảm được thời gian cũng như chi phí cho người dân, doanh nghiệp, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt

Thiết lập nền hành chính với tư duy số

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của nền hành chính Việt Nam khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành đầy đủ, đồng thời dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã được tập trung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về hạ tầng công nghệ, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách bộ máy và tư duy quản trị.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.