Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)
Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

​

Để bảo đảm được mục tiêu chiến lược đó, yêu cầu phải thay đổi căn bản tư duy về tài sản trí tuệ trong cộng đồng sáng tạo cần được ưu tiên.

Di sản của một thế hệ “phòng thủ”

Gần hai thập kỷ kể từ khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có hiệu lực, phần lớn cộng đồng sáng tạo Việt Nam, từ nhạc sĩ, ca sĩ, biên đạo cho đến các đơn vị tổ chức biểu diễn, đã quen tiếp cận quyền tác giả và quyền liên quan dưới một lăng kính duy nhất. Đó là quyền cần được bảo vệ khỏi bị xâm phạm.

Cách tiếp cận đó, nhìn bề ngoài tưởng như cẩn trọng, kỳ thực lại là một dạng bị động đã ăn sâu vào nếp nghĩ, rằng người sáng tạo chỉ thật sự nghĩ tới quyền của mình khi đã có hành vi xâm phạm xảy ra, khi bản ghi bị tải lên các nền tảng mà không qua thỏa thuận, khi bản phối được dùng làm nhạc nền cho hàng triệu video ngắn không ghi nguồn, khi buổi diễn bị livestream lén ngay trong đêm khai mạc. Phản ứng phổ biến vẫn dừng ở một dòng trạng thái phẫn nộ trên mạng xã hội, hiếm khi đi tới một quy trình thực thi quyền có chuẩn bị, dù pháp luật Việt Nam đã trao cho chủ thể quyền nhiều công cụ đáng kể, từ biện pháp dân sự, hành chính cho đến hình sự, đối với hành vi xâm phạm ở quy mô lớn về mặt thương mại.

Hệ quả của cách tiếp cận phòng thủ đó nặng nề hơn rất nhiều so với những gì người trong cuộc thường thừa nhận. Khi tác phẩm chỉ được nhìn như một thứ có nguy cơ bị mất, nó không bao giờ được định giá đúng nghĩa, không được ghi nhận như một tài sản có thể chuyển nhượng, góp vốn, bảo đảm tín dụng hoặc đưa vào di sản thừa kế theo đúng cấu trúc tài sản.

Một bài hát thông thường, ngay khi được phát hành ra công chúng, chứa đựng ít nhất ba loại quyền pháp lý độc lập dành cho các chủ thể khác nhau: Quyền tác giả đối với phần nhạc và phần lời, quyền của nhà sản xuất bản ghi, và quyền của người biểu diễn. Mỗi loại quyền lại có thể được phân tách tiếp, theo phương thức khai thác, gồm quyền sao chép, quyền truyền đạt tới công chúng, quyền biểu diễn trước công chúng, quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao, quyền làm đồng bộ hóa, quyền in ấn, quyền làm tác phẩm phái sinh.

Không nắm được cấu trúc nhiều tầng ấy, chủ thể quyền dễ rơi vào hai cực, và đều bất lợi: Hoặc ký một hợp đồng “bán đứt” mơ hồ khiến mình mất quyền kiểm soát chính tác phẩm gắn với tên tuổi mình, hoặc bỏ ngỏ quyền cho thị trường tự do khai thác mà không có cơ chế thu phí.

Thế hệ “kiến tạo” đã hình thành

Một sự dịch chuyển âm thầm đã bắt đầu; đây là chuyển động đáng kể nhất của giới sáng tạo Việt Nam trong thập niên vừa qua. Không còn là “làm sao để bảo vệ tác phẩm khỏi bị mất”, câu hỏi cốt lõi mà các nghệ sĩ thế hệ mới đặt ra đã chuyển sang nội dung rộng hơn rất nhiều: Làm sao để tác phẩm này sinh ra giá trị một cách bền vững và hợp pháp ở Việt Nam cũng như trên các thị trường ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Sự chuyển dịch được thể hiện thông qua những hành vi cụ thể có thể quan sát được. Theo Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), ngày càng nhiều tác giả chủ động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan. Cũng cần nhấn mạnh rằng, theo quy định của pháp luật, quyền tác giả và quyền liên quan quyền tác giả phát sinh tự động kể từ thời điểm tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký hay công bố. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận đăng ký do Cục Bản quyền tác giả cấp lại có giá trị chứng cứ đặc biệt khi xảy ra tranh chấp, vì khi một bên sở hữu Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả thì nghĩa vụ chứng minh trong một vụ tranh chấp được dịch chuyển sang phía bên kia. Việc nhiều nghệ sĩ, nhà sáng tạo đã chủ động đi đăng ký trước khi đưa sản phẩm ra công chúng, vì vậy, không phải hành vi mang tính thủ tục, mà là một bước đi pháp lý có tính toán, thiết lập một mốc thời gian không thể tranh cãi làm điểm tựa cho mọi giao dịch về sau.

Bên cạnh đó, các hợp đồng cấp quyền (licensing) dần được đàm phán có cấu trúc nhiều tầng. Thí dụ như trong lĩnh vực âm nhạc, thay vì chuyển nhượng toàn bộ quyền tài sản như trong các hợp đồng ở thế hệ trước, các nghệ sĩ trẻ và đội ngũ của họ bắt đầu vận dụng cơ chế chuyển quyền sử dụng có điều kiện, phân tách quyền theo lãnh thổ, theo kênh phân phối, theo thời hạn, theo mục đích sử dụng, có hoặc không có tính độc quyền.

Một bản ghi có thể được cấp phép độc quyền cho một nền tảng streaming trong nước, đồng thời được cấp phép không độc quyền cho các nền tảng ngắn dạng UGC (viết tắt từ User Generated Content/nội dung độc quyền do khách hàng tạo ra, có liên quan thương hiệu và phát trên đa dạng nền tảng) ở thị trường khu vực, trong khi quyền đồng bộ hóa với hình ảnh trong quảng cáo và điện ảnh được giữ lại để đàm phán riêng. Cấu trúc ấy cho phép tối đa hóa dòng tiền mà vẫn bảo toàn quyền kiểm soát của chủ sở hữu tác phẩm.

Điều đáng chú ý, một bộ phận nghệ sĩ bắt đầu nhìn nhận quyền liên quan hình tượng cá nhân của mình, gồm quyền nhân thân của người biểu diễn theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ và các quyền hình ảnh được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự, như một thương hiệu có thể nhượng quyền có điều kiện. Ngôn ngữ thị giác sân khấu, cách phối khí đặc trưng, thậm chí những chi tiết tạo hình mang tính nhận diện đều được thiết kế có chủ đích để có thể chuyển hóa thành các sản phẩm phái sinh, các thỏa thuận hợp tác thương hiệu, các dự án hợp tác với điện ảnh, thời trang và du lịch văn hóa.

Theo dòng dịch chuyển của tư duy về sở hữu trí tuệ trong công nghiệp văn hóa hiện nay, một yêu cầu mới đồng thời cần được đặt ra: Chủ thể sáng tạo từ nay phải đồng thời là chủ thể kinh tế, hiểu cấu trúc quyền của mình, biết định giá nó, biết đàm phán về nó, biết khi nào tự khai thác và khi nào ủy thác qua tổ chức quản lý tập thể. Nhà nước, theo tinh thần Nghị quyết 80, đóng vai trò kiến tạo bằng cách hoàn thiện thể chế và xây dựng hạ tầng số dùng chung. Nhưng kiến tạo dù tốt đến đâu cũng chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ vẫn nằm ở chỗ người sáng tạo có chủ động bước vào không gian mới này hay không.

Hành trình cần tiếp tục

Sẽ là quá lạc quan nếu cho rằng cuộc dịch chuyển tư duy này đã hoàn tất. Nhận thức về quyền tác giả và quyền liên quan trong cộng đồng sáng tạo Việt Nam vẫn còn chênh lệch rất lớn giữa các thế hệ, giữa các loại hình nghệ thuật, giữa các trung tâm đô thị và những địa phương nơi nhiều giá trị văn hóa đặc sắc đang chờ được khai mở đúng cách.

Không gian số vừa mở ra cơ hội khai thác chưa từng có trong lịch sử, vừa đặt người sáng tạo trước những thách thức pháp lý phức tạp đến mức ngay cả các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa lâu đời cũng còn loay hoay tìm lời giải. Và bây giờ, làn sóng trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang đặt lại từ gốc rễ những câu hỏi tưởng đã có lời đáp về tư cách tác giả, về phạm vi của ngoại lệ quyền tác giả khi tác phẩm bị đưa vào dữ liệu huấn luyện, về cơ chế phân chia lợi ích trong chuỗi giá trị mà chính người sáng tạo gốc không hề tham gia.

Sự chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ không thể, và không nên, là việc của riêng cộng đồng sáng tạo. Nó đòi hỏi sự đồng hành thực chất của cơ quan quản lý nhà nước trong việc cập nhật pháp luật và nâng cao năng lực thực thi, của doanh nghiệp công nghiệp văn hóa trong việc xây dựng các mô hình kinh doanh tôn trọng quyền tác giả, của các nền tảng số trong việc minh bạch hóa cơ chế phân chia lợi ích; và của chính công chúng thụ hưởng trong việc nhìn nhận lại thói quen tiêu dùng văn hóa của mình. Mỗi mắt xích trong hệ sinh thái ấy đều cần thay đổi cách nhìn về giá trị của một tác phẩm. Bởi chỉ khi mọi mắt xích cùng dịch chuyển, mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết 80 đã đặt ra mới có thể trở thành hiện thực, tài sản trí tuệ của người Việt Nam thật sự trở thành tài sản. Khi đó, Việt Nam thật sự bước vào quỹ đạo của một quốc gia có sức mạnh mềm văn hóa xứng tầm ■

Khi một thế hệ sáng tạo đặt câu hỏi khác về tài sản của mình, đồng thời các tổ chức quản lý quyền tác giả nâng cấp năng lực vận hành, các công ty quản lý nghệ sĩ chuyên nghiệp xuất hiện, các nền tảng phân phối nội dung số trong nước trưởng thành…, điều này không có nghĩa chỉ là sự lớn lên của một nhóm cá nhân xuất sắc. Nó là tín hiệu cho thấy cả một hệ sinh thái sáng tạo đang dần định hình theo những chuẩn mực mà các nền công nghiệp văn hóa thành công trên thế giới đã đi qua.

Có thể bạn quan tâm

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Tâm lý e ngại, sợ sai, sợ rủi ro và thói quen đùn đẩy trách nhiệm của một bộ phận cán bộ đã được nhận diện là một “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn”, làm trì hoãn không ít cơ hội phát triển của đất nước. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đánh dấu bước đột phá về định hướng tư duy trong công tác cán bộ.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

TS Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.

“Nghị quyết 24 đã đánh đúng và trúng vào điểm nghẽn của công tác cán bộ”

Để luận giải sâu hơn về những “nút thắt” thể chế được tháo gỡ cũng như tính khả thi khi đưa Nghị quyết số 24-NQ/TW vào đời sống, phóng viên Báo Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội. 

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

Bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch đất đai

Nội dung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn có một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát, làm rõ, nhất là trong quy trình giao dịch đất đai.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư cho người bị thu hồi đất. Trong ảnh: Người dân bị thu hồi đất phục vụ mở đường ở Đê La Thành về tái định cư tại Khu CT3 Nghĩa Đô, TP Hà Nội. Ảnh: HIẾU MINH

Minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế

Đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư, suất tái định cư tối thiểu cũng như cơ chế xác định giá bồi thường. Song, để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cả chủ đầu tư lẫn người có đất bị thu hồi và hạn chế vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định về vấn đề minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Học sinh Trường tiểu học Phương Mai, Thành phố Hà Nội, tham dự Chương trình giao lưu Giáo dục kỹ năng tham gia giao thông an toàn cấp tiểu học năm học 2025-2026.

Để học sinh được sống trong âm nhạc

Giờ đây, chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi học sinh có thể tiếp cận vô số ca khúc, thể loại và xu hướng âm nhạc của Việt Nam cũng như thế giới. Nhưng nghe nhiều không đồng nghĩa với biết nghe; tiếp xúc âm nhạc thường xuyên cũng chưa chắc tạo nên năng lực cảm thụ âm nhạc. Bởi vậy, bên cạnh việc trang bị kiến thức, tăng cường các hoạt động trải nghiệm cần được xem là một nội dung quan trọng của giáo dục âm nhạc trong nhà trường.

Học sinh Trường THCS Lê Ngọc Hân tham gia triển lãm tranh và giao lưu với các bác, các chú thương binh tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh ở tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Lê Ngọc

Xây dựng môi trường khuyến khích sự sáng tạo

Giáo dục nghệ thuật ở bậc phổ thông hiện nay là con đường quan trọng để phát triển cảm xúc, khả năng quan sát, tư duy sáng tạo và phát triển nhân cách của học sinh. Trong đó, môn Mĩ thuật góp phần giúp học sinh biết cảm thụ cái đẹp, biết biểu đạt suy nghĩ và cảm xúc của mình, biết sáng tạo và làm cho môi trường sống chung quanh trở nên đẹp hơn.