Chuyện cây cà-phê tổ đất Mường Ảng

Cuối những năm 70 - 80 của thế kỷ trước, cà-phê được trồng ở Mường Ảng. Nhưng mới hơn chục năm trở lại đây cà-phê mới đem lại giá trị kinh tế vượt trội, trở thành cây trồng chủ lực giúp hàng nghìn gia đình ở Mường Khoe xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu vững chắc…
Vựa cà-phê Mường Ảng tạo thêm công ăn việc làm cho hàng nghìn đồng bào các dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên và một số tỉnh lân cận.
Vựa cà-phê Mường Ảng tạo thêm công ăn việc làm cho hàng nghìn đồng bào các dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên và một số tỉnh lân cận.

Người dè sẻn từng bát, nhưng nước cho cây phải tưới hằng ngày

Đưa chúng tôi đi một vòng qua khu vườn cà-phê thuộc xã Ẳng Nưa đến đầu thị trấn Mường Ảng, ông Nguyễn Thế Trung, Phó Chủ tịch HĐND huyện Mường Ảng mới khẽ kể những kỷ niệm tuổi thơ. Ông bảo rằng, những đứa trẻ được sinh ra, lớn lên ở vùng đất này đều gắn với cây cà-phê thân thuộc, gần gũi.

Ông Trung ngày nhỏ thường theo cha mẹ đi làm cỏ, đào hố trồng cà-phê nên giờ đã ngoại tứ tuần mà vẫn nhớ như in kỹ thuật đào hố trồng cà-phê đạt tiêu chuẩn phải là 50*50*50 (có nghĩa là dài, rộng, sâu đều phải 50 cm mới đạt yêu cầu); rồi cả cách làm cỏ dưới gốc cây mới trồng cũng đòi hỏi xới khẽ nhẹ tay để không chạm rễ, long gốc… Năm theo năm, hết mùa làm cỏ đến mùa hái quả, lớp lớp người Mường Ảng như ông Trung đều được nuôi lớn nhờ công trồng, chăm sóc và thu hái cà-phê. Bởi thế, với người Mường Ảng thì cây cà-phê “thân như người thân trong đời. Khi đi đào hố làm cỏ, lúc lại chơi đánh trận giả, chơi trốn tìm trên vườn cà-phê… tuổi thơ của chúng tôi lớn lên trên những vườn cây ấy”, ông Trung tâm sự.

Cũng gắn bó với cây cà-phê, thế nhưng với những người như ông Nguyên, bà Sáu, ông Phanh ở bản Co Hắm, xã Ẳng Nưa thì cây cà-phê còn thân như người bạn tri kỷ. Thế hệ công nhân nông trường Mường Ảng ngày ấy đã gửi trọn niềm hy vọng cơm áo, gạo tiền nuôi dạy đàn con thơ…

Bắt đầu trồng vào năm 1982, ông Trần Minh Nguyên, bà Nguyễn Thị Sáu và rất nhiều công nhân, nông dân ở Nông trường Mường Ảng ngày đó đều không biết cà-phê là cây như thế nào. Khi cán bộ nông trường triển khai, họ phát cho mỗi gia đình một túi hạt và nói rằng “đấy là hạt cà-phê”. Rồi sau đó, nông trường mời kỹ sư từ dưới xuôi lên hướng dẫn công nhân cách làm tum bầu đặt hạt vào ươm cây. Làm theo hướng dẫn là mỗi tum một hạt, những công nhân nông trường lại hồi hộp mong đợi từng ngày được nhìn mặt cây. Khi đạt chiều cao từ 30 cm thì công nhân đem trồng quanh các khoảnh vườn, đất nương gần nhà.

Trước yêu cầu trồng, chăm sóc cây cẩn thận bảo đảm cây ra hoa, đậu quả để lấy hạt làm giống cho mùa sau, những người đã gieo hạt ươm cây càng lo lắng hơn. Kể lại những ngày chăm cây mong có hạt làm giống, bà Sáu nhớ như in quãng thời gian chờ đợi từ hơn 40 năm trước: Chúng tôi chăm sóc cây từng li từng tí. Có năm khô hạn, nước ăn cho người phải dè sẻn từng bát nhưng nước cho cây thì chúng tôi vẫn phải tưới hằng ngày. Qua mùa hạn năm 1985, cây bắt đầu nở hoa. Từng chùm bông trắng muốt nở từ thân đến cành khiến người nhìn không khỏi xuýt xoa. Bà con người dân tộc H’Mông, dân tộc Thái ở mấy bản quanh huyện còn đi bộ hàng chục cây số từ trên núi xuống xem cây ngắm hoa mà ngạc nhiên, thích thú lắm. Lứa hạt đầu tiên thu về, các nữ công nhân của nông trường như bà Sáu lại tỉ mẩn chọn từng hạt tròn mẩy gói ghém cẩn thận chờ mùa gieo hạt vào tum.

Hầu hết các cây cà-phê tổ thuộc giống cà-phê Arabica ở Mường Ảng có tuổi đời hơn 40 năm, cao quá đầu người vẫn xanh tốt, cho quả trĩu cành.

Hầu hết các cây cà-phê tổ thuộc giống cà-phê Arabica ở Mường Ảng có tuổi đời hơn 40 năm, cao quá đầu người vẫn xanh tốt, cho quả trĩu cành.

Cây như hiểu lòng người nên gắn bện, sinh sôi

Năm qua năm, mùa gối mùa như thế từ những hạt cà-phê đầu tiên gieo ươm thành công ở mảnh đất Mường Khoe, được công nhân nông trường ngày ấy chăm bẵm, ươm thành triệu triệu cây cà-phê hôm nay. Đứng trước vườn cà-phê xanh ngút ngàn, bà Sáu khẽ nói: Hạt giống đầu tiên chúng tôi ươm trồng là giống Arabica thế nên bây giờ cả vùng này đều một dòng giống ấy. Ban đầu gia đình tôi ươm giống cấp cho các gia đình cùng công nhân, sau thì bà con trong vùng cũng về xin, mua giống. Cùng với việc để hạt làm giống, tôi còn hướng dẫn mọi người cách chọn hạt, làm tum ươm cây. Tính tuổi đời thì cà-phê trong vườn nhà tôi, vườn nhà ông Phanh đã hơn 40 năm rồi đấy. Các vườn cây khác trong xã Ẳng Nưa, Ẳng Cang, Ẳng Tở là thế hệ “cây con”, “cây cháu” của các cây cà-phê tổ trên đất này.

“Thông thường là cây nhiều năm tuổi thế này thì thoái hóa, không có quả nữa, nhưng không hiểu sao cây cà-phê ở đất này vẫn cứ lên xanh và năng suất vẫn tốt lắm. Cứ như thể cây hợp đất, cây hiểu lòng người nên cây gắn bện sinh sôi. Nghĩ như thế nên chúng tôi cứ lần nữa năm này qua năm khác chẳng muốn phá cây trồng lại”, bà Sáu khẽ nói như tự hỏi.

Lời bà Sáu khiến tôi nhớ tới hai cây cà-phê ở khu trưng bày sản phẩm OCOP Mường Ảng được đặt ở hai vị trí trang trọng, dưới gốc còn có biển chữ “Cà-phê Arabica Mường Ảng - cây cà-phê tổ” được đưa từ vườn của gia đình ông Lò Văn Phanh ở bản Co Hắm về. Thoạt nhìn thì hai cây cà-phê ấy bình thường như bao cây khác song khi nhìn kỹ tấm biển “Cà-phê Arabica Mường Ảng - cây cà-phê tổ” treo sát gốc cây tôi mới nhận thấy sự khác biệt rõ ràng. Như lời của ông Lò Văn Quý, Phó Chủ tịch HĐND xã Ẳng Nưa thì gốc cây phải nhìn sát mặt đất mới thấy, chứ từ thân lên là chồi trên nền gốc nhiều năm rồi. Hỏi thêm ông Lò Văn Quý về ngọn nguồn hai cây cà-phê tổ ấy tôi mới biết, đó là hai trong số nhiều cây cà-phê đã được người Mường Ảng ươm trồng bằng hạt từ năm 1982, đến nay cây đã qua tuổi 42 rồi. Từ lứa cây này, người Mường Ảng đã để hạt ươm cây trồng được gần 3.000 ha trong toàn huyện. Xét về nguồn gốc, dòng giống thì lứa cây cà-phê đầu tiên ấy là dòng cây tổ trên vùng đất Mường Khoe!

Và như ngại điều giải nghĩa cho cây cà-phê tổ chưa thuyết phục, ông Lò Văn Quý nói thêm rằng: Cây tổ bởi cây có nguồn gốc rõ ràng; cây làm cây giống của cà-phê toàn huyện. Hơn nữa là, trong huyện Mường Ảng này thì những cây cà-phê ấy không chỉ gắn bó với đất mà còn rất đỗi thân thuộc với con người. Một đời cây nuôi lớn bao con người, bởi vậy mà cây là niềm tự hào của người người Mường Ảng!

Ông Tạ Mạnh Cường, Phó Chủ tịch UBND huyện Mường Ảng: Có nguồn gốc cây giống rõ ràng, có vùng nguyên liệu đặc trưng cho ra hạt cà-phê hương vị riêng mà không vùng nào có được, hiện tại cà-phê Mường Ảng chỉ còn đợi kết quả đánh giá, công nhận bộ chỉ dẫn địa lý của Bộ Khoa học và Công nghệ là hoàn toàn đủ điều kiện gia nhập thị trường cà-phê thế giới. Khi ấy, không chỉ có sân chơi “thị trường” rộng lớn, mà thương hiệu cà-phê Mường Ảng cũng đặc biệt riêng có.

Phó Chủ tịch UBND huyện Mường Ảng Tạ Mạnh Cường cho biết: Với kết quả trồng thử nghiệm bằng cách ươm hạt gieo cây từ cuối những năm 1970 của thế kỷ trước, Nông trường Mường Ảng đã khẳng định cây cà-phê thuộc giống Arabica phù hợp khí hậu, thổ nhưỡng Mường Ảng. Ở độ cao từ 700-1.700 m, cà-phê Arabica Mường Ảng có hương vị đặc trưng riêng bởi được nuôi dưỡng bằng chất đất bazan màu mỡ và quyện cả hơi sương của vùng đất với tình người. Thế nhưng phận cây cũng bao phen chìm nổi trên thương trường bởi vòng luẩn quẩn “được mùa mất giá” hay khi “được giá lại mất mùa” nên có kỳ cây được trồng đại trà khắp nơi nhưng cũng có kỳ cây bị chặt bỏ không thương tiếc…

Nhưng bằng tình yêu và niềm tin với cây, hàng trăm hộ dân ở Mường Ảng như gia đình các ông Hà Văn Hoan, Lầu Chồng Lử, Lò Văn Phanh, Mùa Súa Tòng và bà Nguyễn Thị Sáu vẫn quyết giữ cây như giữ miền ký ức với hy vọng làm giàu trên đồng đất Mường Khoe. Đặc biệt từ khi được Đảng bộ huyện Mường Ảng xác định “cà-phê là cây chủ lực xóa đói, giảm nghèo” thì cây cà-phê Arabica đã được chăm sóc, bảo vệ đúng với giá trị của nó. Bởi vậy mà những năm gần đây diện tích cà-phê được trồng mới của huyện tăng rất nhiều. Hiện toàn huyện có hơn 3.000 ha cà-phê giống Arabica, tập trung chủ yếu tại thị trấn Mường Ảng và ba xã Ẳng Nưa, Ẳng Cang, Ẳng Tở; sản lượng trung bình quả tươi đạt 15 tấn/ha. Nhờ cây cà-phê, mỗi năm người Mường Ảng thu khoảng 500 tỷ đồng từ cà-phê và còn tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động là đồng bào dân tộc H’Mông, dân tộc Thái từ khắp các huyện Tủa Chùa, Tuần Giáo, Thuận Châu (Sơn La), với thu nhập bình quân từ 7,5 triệu đồng đến 9 triệu đồng/người/tháng.

Hơn ai hết, người trồng cà-phê Mường Ảng sẽ yên tâm sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu bền vững, để cây cà-phê Mường Ảng ngày càng rợp bóng trên vùng đất xanh, thơm.

Có thể bạn quan tâm

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.