Chung quanh đề xuất đánh thuế tiêu thụ đặc biệt nước ngọt

Bộ Tài chính đề xuất đưa đồ uống có đường (nước ngọt) vào diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt “với mức phù hợp”. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, cần xem xét nhiều góc độ chung quanh đề xuất này, như thời điểm áp dụng, tiêu thụ nước ngọt ảnh hưởng sức khoẻ ra sao và các quy định liên quan khái niệm “đồ uống có đường”…
Đề xuất đưa đồ uống có đường vào diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đang được dư luận quan tâm. Ảnh: NGUYỆT ANH
Đề xuất đưa đồ uống có đường vào diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đang được dư luận quan tâm. Ảnh: NGUYỆT ANH

Tăng gánh nặng cho người dân, doanh nghiệp?

Trong dự thảo tờ trình đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến, Bộ này đề nghị xây dựng dự án Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) sửa đổi. Trong đó, đề xuất đưa đồ uống có đường (nước ngọt) vào diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt “với mức phù hợp” đang được dư luận quan tâm.

Luận cứ được Bộ đưa ra là nhằm bảo vệ sức khỏe người dân theo khuyến nghị của WHO, cũng như chủ trương của Đảng, Chính phủ và phù hợp với thông lệ quốc tế. Cơ quan này dẫn các số liệu cho thấy, tình hình tiêu thụ nước ngọt ở Việt Nam đã tăng mạnh, gấp bảy lần trong 15 năm, từ mức trung bình 6,6 lít/người năm 2002 lên 46,5 lít/người năm 2017 và 50,7 lít/người năm 2018.

“Các nước đã dần áp thuế tiêu thụ đặc biệt với đồ uống có đường. Nếu như năm 2012, chỉ khoảng 15 quốc gia áp thuế này, thì đến năm 2021 có ít nhất 50 nước thu thuế trên”, Bộ Tài chính dẫn chứng kinh nghiệm thế giới và cho biết, xét trong khu vực ASEAN, có sáu nước gồm Thailand, Philippines, Malaysia, Lào, Campuchia, Myanmar áp thuế tiêu thụ đặc biệt với nước ngọt.

Đây là lần thứ 2 Bộ Tài chính đề xuất áp thuế TTĐB với nước ngọt. Năm 2014, Bộ này đã từng đề xuất áp mức thuế suất 10% nhưng nhiều bộ, ngành không đồng thuận. Bộ Công thương lo tác động tiêu cực tới triển vọng kinh doanh, trong khi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, luận cứ áp thuế chưa thật sự thuyết phục…

Song, lần này, đề xuất này tiếp tục nhận được tranh cãi gay gắt từ giới doanh nghiệp và chuyên môn. Nhiều hiệp hội doanh nghiệp thực phẩm, đồ uống đã có văn bản góp ý với đề xuất này. Đại diện Hiệp hội Sữa Việt Nam cho rằng, nội dung đưa “đồ uống có đường” phải chịu loại thuế này chưa phù hợp. Bởi, “đồ uống có đường” được hiểu là gồm sữa, sữa dinh dưỡng cho trẻ em, sữa cho bà bầu...”. Đây là sản phẩm bổ dưỡng, sử dụng hằng ngày, việc đánh thuế sẽ ảnh hưởng lớn đến đối tượng sử dụng… gián tiếp ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dùng”, theo Hiệp hội sữa Việt Nam.

Tương tự, Hiệp hội Lương thực, Thực phẩm TP Hồ Chí Minh (FFA) cũng mới có công văn gửi Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành bày tỏ lo ngại về đề xuất trên. Theo đại diện FFA, dự thảo còn rất nhiều bất cập, chưa có đầy đủ cơ sở khoa học thuyết phục và hợp lý, khi mục tiêu chính là bảo vệ sức khỏe nhân dân, do tác hại của tình trạng thừa cân, béo phì và một số bệnh khác. Trong khi đó, khái niệm “đồ uống có đường” chưa được quy định đầy đủ trong bất kỳ văn bản nào. Nếu hiểu theo khái niệm đơn thuần, thì bao gồm cả sản phẩm có hại và có lợi. Do đó, đại diện FFA nhấn mạnh: Nếu không xem xét, nghiên cứu kỹ trước khi thông qua sẽ mang lại hệ lụy rất lớn cho sự phục hồi, phát triển của nhiều ngành hàng cũng như đời sống người dân.

Ông Nguyễn Văn Việt, Chủ tịch Hiệp hội Bia - Rượu - Nước giải khát Việt Nam cũng cho rằng, chúng ta cần cân nhắc thêm thời điểm phù hợp hơn, nhất là năm 2023 dự báo còn nhiều khó khăn hơn năm 2022. Trong bối cảnh, tín dụng, thắt chặt, lãi suất tăng cao, doanh nghiệp chưa phục hồi hoàn toàn, biến động giá thế giới còn là nỗi lo lạm phát, ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của người dân.

Thực tế, ông Nguyễn Văn Nam, một nhà phân phối các loại nước ngọt, nước giải khát khu vực miền bắc lo lắng, thị trường nước ngọt, nước giải khát sẽ tiếp tục chịu thêm cú sốc nếu chịu thêm thuế TTĐB, sau khi đã chịu tổn thất nặng nề sau gần ba năm Covid-19. “Việc đánh thuế sẽ làm tăng giá bán, từ đó làm giảm nhu cầu tiêu dùng, ảnh hưởng đến các đơn vị sản xuất, kinh doanh”, ông Nam nói và cho rằng, cần xem xét kỹ thời gian áp thuế theo đề xuất mới.

Nên đánh giá thêm, lùi thời gian áp dụng

Góp ý thêm, ông Nguyễn Văn Việt cho rằng, việc áp dụng thuế TTĐB với nước ngọt chưa nên làm ngay và cần lùi thời gian thêm 12 đến 18 tháng. Cơ sở để đưa ra kiến nghị này, theo ông Việt, Nhà nước cần có đánh giá cụ thể để xem xét thật thấu đáo, khách quan những vướng mắc hiện nay.

Vấn đề ông Việt muốn nhấn mạnh hiện nay là việc áp thuế này sẽ đẩy chi phí sản xuất tăng lên do mức tăng thuế suất VAT áp dụng cho đường. Cộng các yếu tố lại sẽ khiến giá thành sản phẩm tăng, giảm khả năng tiêu thụ, kéo theo giảm quy mô sản xuất, giảm lao động... Và đối tượng sẽ chịu ảnh hưởng và tác động nhiều nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nông dân - những người cung cấp các nguyên liệu như: mía, trái cây, rau quả, trà... Thậm chí, giá bán cao còn có khả năng dẫn đến hàng nhập lậu, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng phát triển.

Mặt khác, theo ông Việt, Hiệp hội Bia, rượu, nước giải khát Việt Nam (VBA) cũng đưa ra quan điểm, nước ngọt không phải nguyên nhân gây bệnh béo phì. Việc áp thuế tiêu thụ đặc biệt với sản phẩm này không giúp giảm tình trạng thừa cân béo phì. Dẫn kinh nghiệm tại Anh, nước ngọt có tỷ lệ đường trong sản phẩm càng cao thì chịu thuế càng nhiều. Như đồ uống không đường, hoặc độ đường ít hơn 6% thì thuế suất là 0%... đại diện VBA góp ý, Bộ Tài chính nên tính thuế theo hàm lượng đường, điều này sẽ góp phần xây dựng thói quen, thúc đẩy tiêu dùng có trách nhiệm của người dân.

Cũng bình luận về luận cứ trên, TS Nguyễn Quốc Việt, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách cho rằng, cần đánh giá rõ tiêu thụ nước ngọt có đến mức tạo ra mặt bằng chung về béo phì, tim mạch hay chưa. “Nếu thực tế chỉ một vài trường hợp do nghiện hoặc lạm dụng thì chưa thuyết phục để cần hạn chế tiêu dùng thông qua tăng thuế”, TS Việt nói.

Còn Hiệp hội Sữa Việt Nam đề nghị Bộ Tài chính bổ sung “loại trừ sữa và sản phẩm từ sữa” trong dự thảo luật để tránh nhầm lẫn đánh thuế TTĐB lên sản phẩm dinh dưỡng cho sức khỏe. Ngoài ra chưa mở rộng đối tượng chịu thuế để không thêm gánh nặng cho người dùng, doanh nghiệp; chỉ đánh thuế đúng sản phẩm có chứng minh khoa học là có hại đúng với mục tiêu sắc thuế.

Trong dự thảo áp thuế TTĐB lần này, Bộ Tài chính còn đề xuất bổ sung áp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các sản phẩm không có lợi cho sức khỏe, môi trường khác như thức uống đại mạch và nước giải khát không cồn, thuốc lá mới... Bộ này cũng đề nghị bổ sung đánh thuế TTĐB đối với trò chơi điện tử trực tuyến (game online)…

Có thể bạn quan tâm

Việc nâng hạng lên thị trường chứng khoán mới nổi là môi trường thuận lợi cho cả đầu tư dài hạn lẫn giao dịch ngắn hạn. Ảnh: NAM ANH

Chứng khoán đem cơ hội cho tích lũy

Diễn biến thận trọng cùng sự phân hóa sâu sắc của VN-Index thời gian qua đang phản ánh rõ tâm lý phòng thủ của giới đầu tư. Các chuyên gia nhận định thị trường chứng khoán hiện tại đã lùi về vùng định giá hấp dẫn, mở ra cơ hội đầu tư trong dài hạn.

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Người dân lựa chọn gửi tiền tiết kiệm để bảo toàn vốn khi các kênh đầu tư khác còn nhiều biến động. Ảnh: NAM ANH

Tiền gửi lập kỷ lục, lãi suất leo cao

Nghịch lý này cho thấy hệ thống đang chịu áp lực tìm kiếm nguồn vốn đúng kỳ hạn, đủ ổn định và phân bổ đúng nơi để theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Khách xếp hàng để mua bán vàng . Ảnh: NGUYỆT ANH

Cuộc đại phẫu thị trường vàng

Cơn sóng bán vàng những ngày gần đây phơi bày những điểm yếu lâu năm về thanh khoản, nguồn gốc hàng hóa và cơ chế định giá. Vẫn còn rất nhiều vấn đề trước khi đạt được đích đến, một thị trường thực sự minh bạch, liên thông và bớt méo mó.

Không gian Thế giới kim cương tại các trung tâm thương mại lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

“Vùng trũng” quản lý tài sản có giá trị

Kim cương có giá trị hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, thậm chí được xem như một kênh tích trữ, nhưng vẫn được giao dịch trong một thị trường thiếu tiêu chuẩn thống nhất, truy xuất nguồn gốc và cơ chế bảo vệ người mua.

Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH

Giữ lợi thế thu hút FDI bằng môi trường đầu tư

Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn mở ra cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.

Doanh nghiệp bất động sản đang phải cạnh tranh quyết liệt hơn để thu hút vốn. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn triệu USD đổi “khẩu vị”

Thị trường mua bán sáp nhập (M&A) bất động sản đang bước sang một chu kỳ thận trọng hơn. Nhà đầu tư yêu cầu dự án phải chứng minh được pháp lý, tiến độ, hiệu quả khai thác và dòng tiền.

Việc nâng trần lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay trung, dài hạn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Hướng đi của dòng tiền mới được “mở van”

Việc nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được đánh giá sẽ mở thêm không gian tín dụng, với hơn 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng đặt ra lo ngại về hướng đi của lượng vốn mới này.

Người trẻ mua chứng chỉ quỹ

Công ty chứng khoán (CTCK) SSI vừa công bố việc tích hợp các quỹ mở do Dragon Capital Việt Nam (DCVFM) quản lý lên hệ thống giao dịch SSI iBoard. Điều này đồng nghĩa nhà đầu tư (NĐT) có tài khoản của SSI ngoài việc theo dõi các chứng chỉ quỹ (CCQ) của SSI quản lý còn theo dõi được thêm CCQ của DCVFM.

Hàng tồn kho là một trong những nguyên nhân khiến lợi nhuận chưa thể chuyển hóa thành tiền mặt. Ảnh: NAM ANH

Dòng tiền mới là phép thử

Dù lợi nhuận vẫn hiện hữu trên báo cáo tài chính, nhưng dòng tiền kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bất động sản lại tiếp tục âm. Khoảng cách kéo dài giữa “lãi trên sổ sách” và “tiền thật” có thể biến thành áp lực thanh khoản, đặc biệt với doanh nghiệp có nợ ngắn hạn lớn.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng xanh. Ảnh: NGUYỆT ANH

Nút thắt “tiêu chí” của dòng vốn xanh

Tín dụng xanh tại Việt Nam tăng trưởng tích cực nhưng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn. Doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận do nút thắt tiêu chí về môi trường, dữ liệu và quản trị.

Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: NAM ANH

“Hòn đá tảng” của thị trường chứng khoán

Trong các báo cáo phân loại thị trường hằng năm, tình trạng hết tỷ lệ sở hữu nước ngoài (room ngoại) liên tục được một công ty tài chính đa quốc gia (MSCI - Mỹ) nhắc đến như một hạn chế lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nhà đầu tư tìm hiểu thông tin về dự án tại sàn giao dịch bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Bất động sản không còn là cuộc chơi của kỳ vọng

Sau một chu kỳ tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản đang chứng kiến sự thay đổi tâm lý của nhà đầu tư, từ kiếm lợi nhuận nhờ chênh lệch giá sang tìm kiếm dòng tiền khai thác. Sự thay đổi này bắt nguồn từ việc nhà đầu tư đã không còn tin tuyệt đối vào khả năng tăng giá liên tục của bất động sản.

Tư vấn cho khách hàng vay mua bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn đang được phân loại theo giá trị

Nếu trước đây tín dụng bất động sản chủ yếu được nhìn dưới góc độ rủi ro và cần kiểm soát chặt, thì quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) được xem là bước điều chỉnh quan trọng nhằm định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phục vụ nhu cầu thực như nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính Mỹ vừa công bố Tuyên bố chung về tiền tệ, tái khẳng định cam kết hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ Đối thoại Chính sách Tài chính vĩ mô Việt Nam - Mỹ, nhấn mạnh việc tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế liên quan chính sách tỷ giá và tiền tệ.

Mới nhưng không lạ

Có thể nói, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đang ở giai đoạn phân hoá khốc liệt bậc nhất trong lịch sử. 

Nhiều ngân hàng lớn đang chuẩn bị triển khai các kế hoạch huy động vốn quy mô lớn qua kênh trái phiếu. Ảnh: NAM ANH

Sự đảo chiều trên thị trường trái phiếu

Ngân hàng vốn được xem là khu vực “khỏe” nhất trên thị trường vốn, nhưng nay cũng đã bước vào cuộc đua huy động trái phiếu với mức lãi suất tiệm cận lãi vay. Nhiều đợt phát hành trái phiếu gần đây của các ngân hàng ghi nhận lãi suất lên tới 8-9%/năm, cao hơn đáng kể so cùng kỳ năm trước.

Các hãng hàng không linh hoạt áp dụng nhiều giải pháp để tiết giảm chi phí. Ảnh: KỲ DUYÊN

Kích cầu hàng không, du lịch để thúc đẩy tăng trưởng

Cú sốc giá nhiên liệu đặt các hãng hàng không và lữ hành đứng trước thử thách mới, không chỉ là cạnh tranh về giá mà phải xem xét trong tổng thể chuỗi vận tải-lưu trú-dịch vụ-điểm đến và đặc biệt là phải xây dựng nền tảng phát triển bền vững để thích ứng tốt hơn trong bối cảnh thị trường liên tục thay đổi.

Đừng chủ quan với “hàng cơ bản”

“Hàng cơ bản” là khái niệm chỉ cổ phiếu (CP) của doanh nghiệp (DN) có vị thế đầu ngành, thương hiệu lớn và nền tảng kinh doanh vững chắc. Nhưng trong thời gian gần đây, không ít hàng cơ bản vẫn có thể giảm giá 15-20% chỉ trong thời gian ngắn, đưa không ít nhà đầu tư (NĐT) vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Tính đến nay, đã có 42 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất lại gặp áp lực

Khi tín dụng tăng nhanh còn tiền gửi tăng chậm, áp lực lãi suất bắt đầu quay lại hệ thống ngân hàng. Ở mặt khác, ngân hàng đang chịu áp lực phải bảo đảm mức lãi vay ở mức thấp nhất có thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy nền kinh tế.

Những dự án được đầu tư hạ tầng đồng bộ thường ghi nhận giá trị bất động sản tăng rõ rệt. Ảnh: NAM ANH

“Cơn sốt” kỳ vọng của bất động sản

Liên tiếp các dự án hạ tầng lớn được công bố, giá chào bán bất động sản tại nhiều nơi bị đẩy lên cao. Các chuyên gia cảnh báo, thị trường đang được dẫn dắt bởi kỳ vọng nhiều hơn nền tảng.

Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng đồng loạt điều chỉnh hạ lãi suất. Ảnh: NAM ANH

Thế khó của ngành ngân hàng

Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng đang hoạt động trong bối cảnh nhiều sức ép đan xen. Các ngân hàng một mặt phải thực hiện yêu cầu giảm lãi suất, mặt khác, mục tiêu tăng trưởng được điều chỉnh thấp hơn so với năm 2025.