Chọn nghề giữa làn sóng AI

Trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang tạo nên những đổi thay mạnh mẽ ở các ngành nghề, trong khi hệ thống giáo dục, đào tạo nghề ở nước ta cũng đang bước vào một giai đoạn cấu trúc lại. Hai “làn sóng” ấy ảnh hưởng không nhỏ đến cách vận hành của thị trường lao động, đặt người học trước nhiều lựa chọn mới và không ngừng biến đổi.

Lựa chọn ngành nghề ban đầu với học sinh trung học phổ thông có thể đúng, nhưng không còn đủ để định hình một hành trình nghề nghiệp dài hạn.
Lựa chọn ngành nghề ban đầu với học sinh trung học phổ thông có thể đúng, nhưng không còn đủ để định hình một hành trình nghề nghiệp dài hạn.

Định hướng nghề nghiệp trong bối cảnh mới

Mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 đang đến gần, với dự kiến hơn 1 triệu thí sinh bước vào kỳ thi quan trọng. Nhưng, phía sau kỳ thi ấy, ngoài tấm bằng tốt nghiệp là sự lựa chọn và định hướng tương lai nghề nghiệp trong bối cảnh phát triển của công nghệ.

“Hiểu mình, hiểu nghề, vững tương lai” - đó từng là công thức mà Lê Minh, sinh viên năm cuối chuyên ngành kế toán Trường cao đẳng Bách khoa tin tưởng. Tuy nhiên, chỉ sau ba tháng thực tập trước khi tốt nghiệp, Minh nhận ra phần lớn những gì mình được đào tạo đã không còn giữ vai trò trung tâm trong công việc. Nhiều thao tác chuyên môn từng được xem là “kỹ năng cốt lõi” giờ đây đã được phần mềm và AI xử lý.

Minh cho biết sẽ phải học lại, học bổ sung những kiến thức mới cho phù hợp, thậm chí, có những bạn học của Minh đang cân nhắc chuyển hướng nghề nghiệp, cho dù sắp tốt nghiệp.

Câu chuyện của Minh phản ánh một thực tế: Có không ít người học đang phải đối diện với khả năng nghề nghiệp mình được đào tạo có những thay đổi nhanh chóng thời gian tới.

Nhận định về xu hướng này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Mạnh Hà, giảng viên cao cấp Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, khái niệm “vững tương lai” cần được hiểu lại. Theo ông, không còn tồn tại một công việc “an toàn mãi mãi”, điều quan trọng là người học phải giữ được khả năng lựa chọn của mình và có thể đi tiếp khi nghề có những thay đổi.

Trong nhiều thập niên, việc lựa chọn nghề nghiệp thường dựa trên đúc kết giống như một công thức bảo ban, nhắc nhở: Học một nghề, tích lũy kinh nghiệm và phát triển trong chính nghề đó. Giờ đây, điều đó cũng đã và đang thay đổi. AI, tự động hóa và chuyển đổi số đang dần thay thế một số công việc cụ thể và định nghĩa lại cách công việc được tổ chức, thực hiện. Những gì từng được coi là kỹ năng chuyên môn có thể nhanh chóng trở thành thao tác được máy móc đảm nhiệm.

Song song với đó, bản đồ nghề nghiệp cũng đang thay đổi. Những ngành nghề mới liên tục xuất hiện, trong khi không ít lĩnh vực quen thuộc rơi vào trạng thái bão hòa. Các lĩnh vực như AI, robot - tự động hóa, công nghệ bán dẫn, an ninh mạng… đang được xác định là những hướng đào tạo ưu tiên, phản ánh sự thay đổi của thị trường lao động. Ở góc độ hệ thống, quy mô đào tạo không hề nhỏ, với hơn 2,4 triệu người học mỗi năm. Nhưng một nghịch lý đang hiện hữu là phần lớn vẫn tập trung ở các chương trình ngắn hạn, trong khi nhu cầu về nhân lực kỹ năng cao, có khả năng thích ứng lại ngày càng lớn.

Sự sẵn sàng của hệ thống đào tạo

Ở cấp độ chính sách, định hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp đã dần được định hình rõ nét. Nghị quyết số 71-NQ/ TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, đưa lĩnh vực này vào vị trí then chốt trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đồng thời đặt ra yêu cầu cấu trúc lại toàn hệ thống theo hướng tinh gọn, hiệu quả và tiệm cận chuẩn quốc tế.

Từ định hướng đó, các bước đi cụ thể đang được triển khai theo lộ trình rõ ràng hơn. Nghị quyết số 249/2025/QH15 của Quốc hội xác định giai đoạn 2026-2035 sẽ tập trung đầu tư có trọng điểm, với khoảng 18 trường cao đẳng giữ vai trò nòng cốt, trong đó có 6 trung tâm quốc gia và 12 trung tâm vùng đào tạo nhân lực kỹ năng cao. Song song, hệ thống tiếp tục được mở rộng theo chiều sâu, với khoảng 30 cơ sở đào tạo tham gia phát triển ít nhất 20 ngành, nghề mũi nhọn có khả năng cạnh tranh trong khu vực ASEAN. Những con số này cho thấy kế hoạch đầu tư và cả sự chuyển dịch rõ ràng về quy mô cũng như chất lượng.

Bên cạnh quy mô đầu tư, đáng chú ý ở đây là chính cách tiếp cận. Trước đây, việc phát triển chủ yếu dựa vào lựa chọn một số cơ sở để ưu tiên đầu tư, thì nay chuyển dần sang mô hình mở: Nhà nước thiết lập chuẩn và khung tiêu chí, còn các cơ sở đào tạo phải tự xây dựng lộ trình, tự cam kết và chịu trách nhiệm về chất lượng.

Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Lê Quân nhấn mạnh: “Không phải cứ gọi tên là chất lượng cao, mà phải đạt chuẩn kiểm định thì mới là chất lượng”. Theo ông Quân, chuẩn ấy cần được đo bằng kết quả đầu ra, thậm chí là khả năng đáp ứng việc làm của người học. Đây cũng là sự chuyển hướng đáng chú ý, khi trọng tâm đào tạo không còn đặt ở năng lực cung ứng của nhà trường, mà gắn trực tiếp với nhu cầu thực của thị trường lao động.

Tuy vậy, từ định hướng đến thực thi vẫn còn khoảng cách đáng kể. Mục tiêu đến năm 2025 có khoảng 70 cơ sở đạt chuẩn chất lượng cao đến nay mới chỉ đạt kết quả rất khiêm tốn. Khoảng cách này đã phản ánh hạn chế về nguồn lực và cho thấy độ phức tạp của quá trình chuyển đổi một hệ thống đào tạo quy mô lớn.

Sự lệch pha giữa đào tạo và nhu cầu thị trường cũng được nhìn nhận rõ từ phía doanh nghiệp. Ông Hirayama, Giám đốc Bộ phận Tin học của Công ty trách nhiệm hữu hạn Canon Việt Nam, cho biết khi doanh nghiệp mở rộng sản xuất và ứng dụng AI, nhu cầu về kỹ sư công nghệ, chuyên gia AI tăng nhanh, nhưng nguồn nhân lực đáp ứng ngay yêu cầu công việc vẫn còn hạn chế.

Ở góc độ chuyên gia, vấn đề nằm ở khoảng cách kỹ năng và ở sự thay đổi của bản chất công việc. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo (Đại học Quốc gia Hà Nội), nhận định: “AI không thay thế con người, mà thay đổi cách làm việc. Vì vậy, kỹ năng thích ứng quan trọng hơn kỹ năng cụ thể. Trong bối cảnh tri thức liên tục cập nhật, học tập không còn kết thúc sau đại học, mà phải trở thành một quá trình suốt đời, đòi hỏi một hệ sinh thái học tập mở và linh hoạt hơn”.

Về phía quản lý, ngoài vấn đề nguồn lực, khó khăn còn nằm ở chính cách tiếp cận. Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên Trương Anh Dũng cho rằng, với thực trạng hiện tại, chúng ta không thể “làm lại từ đầu” mà phải cấu trúc lại trên nền tảng sẵn có. Theo ông, vướng mắc lớn nhất hiện nằm ở cơ chế: “Nói mục tiêu và sứ mạng thì rất hay, nhưng nếu không có chính sách phù hợp thì không thể triển khai”.

Hệ thống giáo dục, đào tạo nghề nghiệp đã có định hướng, đã bắt đầu chuyển động, nhưng quá trình hiện thực hóa còn nhiều rào cản. Trong khi đó, thị trường lao động và công nghệ không chờ đợi.

Trước hai “làn sóng”, người học đang đứng tại điểm giao nơi mọi lựa chọn đều mang theo rủi ro. Một lựa chọn không đúng sẽ khiến họ mất thời gian và có thể tụt lại trong một thị trường lao động đang dịch chuyển nhanh. Nhưng, điểm giao ấy cũng mở ra cơ hội khi hệ thống đào tạo được tổ chức lại theo hướng chuẩn hóa chất lượng, gắn đào tạo với nhu cầu nền kinh tế và đo bằng đầu ra thực chất. Khi đó, lựa chọn của người học được đặt trong một cấu trúc có định hướng rõ ràng, lý trí hơn và trách nhiệm của hệ thống giáo dục là phải bảo đảm người học luôn có cơ hội đi tiếp.

Có thể bạn quan tâm

Khoa học công nghệ là động lực để phát triển đất nước thời kỳ mới. (Ảnh: Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội trong giờ học về Trí tuệ nhân tạo (AI)).

Từ độc lập đến hùng cường: Một Việt Nam đứng vững giữa thời đại

Nếu thế hệ cha anh đã anh dũng giành lấy quyền quyết định vận mệnh dân tộc, thì thế hệ hôm nay mang trên vai sứ mệnh xây đắp nội lực để đất nước thực sự làm chủ tương lai của chính mình. Ngày Quốc khánh 2/9 là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường gian lao đã đi qua để soi rọi con đường phía trước.

Chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ làm thay đổi tích cực cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới

Trong 40 năm qua (1986-2026), cùng với quá trình đổi mới tư duy phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách xóa đói, giảm nghèo đã có bước chuyển căn bản cả về quan điểm, mục tiêu và phương thức thực hiện.

Cán bộ kỹ thuật VNPT hướng dẫn giáo viên Trường Tiểu học Đại Thịnh (sau sáp nhập) thao tác sử dụng các tính năng của hệ sinh thái giáo dục VnEdu. (Ảnh: VNPT)

Số hóa quản trị trường học sau sáp nhập và lời giải từ VnEdu

Đứng trước bài toán quy mô tăng gấp đôi sau sáp nhập, Trường Tiểu học Đại Thịnh (Mê Linh, Hà Nội) đã nhanh chóng giải tỏa áp lực quản trị và chuẩn hóa dòng dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống” nhờ điểm tựa vững chắc từ Hệ sinh thái giáo dục số VnEdu của VNPT.

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

Ngay sau khi SpaceX hoàn tất thương vụ thâu tóm trị giá 60 tỷ USD đối với Anysphere, công ty chủ quản của công cụ lập trình AI đình đám Cursor, OpenAI đã lập tức tuyên bố trên mạng xã hội X và website chính thức rằng sẽ chấm dứt hợp tác và khóa quyền truy cập trực tiếp của Cursor vào toàn bộ các mô hình trí tuệ nhân tạo của họ.

Giới thiệu sản phẩm ứng dụng AI tại Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam năm 2025. (Ảnh: HÀ LINH)

Chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng trí tuệ nhân tạo

Ngày 28/8/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quyết định này thay thế Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/1/2021 về ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.

Đà Nẵng triển khai thành công mô hình Trung tâm điều hành thông minh (IOC).

Nâng cao năng lực số cho cán bộ cơ sở

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, năng lực số không còn là kỹ năng bổ trợ, mà đã trở thành một bộ phận thiết yếu của năng lực thực thi công vụ. Đổi mới phương thức đào tạo sẽ giúp nâng cao năng lực số, giảm tình trạng cán bộ cấp cơ sở không đồng đều về năng lực số ở một số địa phương hiện nay.

Các diễn giả chính và thành viên Ban tổ chức hội thảo. (Ảnh: Tuấn Anh)

Gợi mở hướng nghiên cứu, thúc đẩy cơ hội hợp tác mới trong công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo

Hội thảo nhằm tạo diễn đàn để các nhà khoa học, chuyên gia và các bên liên quan cùng trao đổi, thảo luận về những thay đổi mà AI đang tạo ra đối với giáo dục, qua đó gợi mở các hướng nghiên cứu và thúc đẩy những cơ hội hợp tác mới trong lĩnh vực công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo.

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, công bố Giải thưởng tại cuộc họp báo định kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ. (Ảnh: HÀ LINH)

Giải thưởng Make in Vietnam có hạng mục riêng về trí tuệ nhân tạo

Giải thưởng “Sản phẩm công nghệ số Make in Vietnam” năm 2026 lần đầu tiên có hạng mục riêng dành cho sản phẩm trí tuệ nhân tạo (AI) xuất sắc nhằm khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam phát triển các sản phẩm trí tuệ nhân tạo có giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Giao diện Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo. (Ảnh chụp màn hình)

Vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo

Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo (AI) và cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đưa vào vận hành, hình thành một đầu mối thống nhất phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp thông tin và hỗ trợ phát triển hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo Việt Nam an toàn, có trách nhiệm.

Robot taxi tự hành do Công ty cổ phần Phenikaa-X nghiên cứu phát triển là một trong bốn dòng phương tiện được thử nghiệm.

Kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm

Việc Công ty cổ phần Phenikaa-X là đơn vị đầu tiên tại Hà Nội triển khai thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với phương tiện tự hành đánh dấu bước chuyển từ nghiên cứu, phát triển công nghệ sang kiểm chứng trong thực tế, từ quản lý công nghệ mới sang kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm và đưa vào thực tiễn.

Doanh nghiệp tìm hiểu giải pháp hạ tầng trung tâm dữ liệu tại DCCI Summit 2026 (Ảnh Viettel IDC)

Khơi thông dòng chảy dữ liệu

Việt Nam đang từng bước hình thành không gian dữ liệu thống nhất, mở rộng khả năng kết nối, chia sẻ và đưa dữ liệu vào lưu thông. 

Nguyễn Vũ An Chi, học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Lý Thái Tổ, Hà Nội. (Ảnh: VNPT)

Năm học mới và những “lớp học” trong chiếc điện thoại

Từ thời khóa biểu, tài liệu ôn tập đến những buổi học trực tuyến, chiếc điện thoại kết nối internet đang hiện diện trong nhiều hoạt động học tập hằng ngày của người trẻ. Khi năm học mới bắt đầu, nhu cầu kết nối vì thế không chỉ gắn với liên lạc hay giải trí, mà ngày càng gắn với khả năng học tập chủ động và linh hoạt hơn.

Tỉnh đoàn Tây Ninh và MobiFone Tây Ninh ký kết Thỏa thuận hợp tác chiến lược về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030. (Ảnh: THANH PHONG)

Tuổi trẻ Tây Ninh tiên phong chuyển đổi số

Nhằm cụ thể hóa mục tiêu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngày 27/8, Tỉnh đoàn Tây Ninh tổ chức Hội nghị tập huấn nâng cao năng lực số cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến tại 150 điểm cầu ở các xã, phường và trường học trên địa bàn.

(Ảnh minh họa: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Không chỉ “có sóng”, người dân cần internet đủ nhanh, ổn định

Điện thoại hiển thị vạch sóng nhưng người dân vẫn khó gửi hồ sơ, truy cập dịch vụ số; có nơi việc liên lạc còn phụ thuộc vào “may rủi”. Thông tư số 51/2026/TT-BKHCN đưa ra cách tiếp cận mới: phổ cập viễn thông công ích không chỉ được tính bằng vùng phủ, mà phải được kiểm chứng bằng chất lượng kết nối thực tế.

Cần thu hút và giữ chân những tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học đủ năng lực đảm nhận các nhiệm vụ công nghệ chiến lược. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Tạo sức hút mới với nhân lực công nghệ chiến lược

Người giỏi có thể được thu hút bằng thu nhập, nhưng để họ ở lại và tạo ra kết quả, cần những bài toán đủ lớn, phòng thí nghiệm hiện đại, đội ngũ cộng sự và quyền quyết định chuyên môn. Nghị định số 260/2026/NĐ-CP đã mở cơ chế theo hướng đó; vấn đề còn lại là đưa chính sách vào thực tiễn.

Tăng cường khả năng ứng dụng, thương mại hóa đối với sản phẩm công nghệ. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Đặt hàng từ thực tiễn, đo kết quả bằng sản phẩm

Thay vì bắt đầu từ đề xuất nghiên cứu và chờ đến khi nghiệm thu mới đánh giá, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược sẽ được hình thành từ bài toán thực tế, chia theo từng gói công việc và sàng lọc qua các mốc kết quả. Cách làm mới hướng nguồn lực nhà nước vào công nghệ có khả năng ứng dụng, thương mại hóa.