Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ xây dựng cơ chế sang tạo ra sản phẩm, từ hoàn thành nhiệm vụ sang tạo ra giá trị, từ chuẩn bị điều kiện sang đóng góp trực tiếp cho phát triển đất nước. Các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW chỉ được coi là hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người dùng thực tế và hiệu quả đo đếm được.
Trên cơ sở những chỉ đạo, định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Phương Tuấn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội chung quanh vấn đề xây dựng và tổ chức thực thi chính sách, nhất là phát huy vai trò của Quốc hội trong hoàn thiện thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Phóng viên: Thưa ông, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phải chuyển mạnh từ xây dựng cơ chế sang tạo ra sản phẩm, từ hoàn thành nhiệm vụ sang tạo ra giá trị và đóng góp trực tiếp cho phát triển đất nước. Từ góc độ lập pháp và giám sát tối cao, Quốc hội cần thể chế hóa các nguyên tắc đánh giá như thế nào và yêu cầu Chính phủ định hình hệ thống chỉ số, tiêu chí ra sao để việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW được đo lường bằng những kết quả cụ thể, thay vì chủ yếu dựa trên số lượng nhiệm vụ, đề án hay văn bản đã hoàn thành?
Ông Nguyễn Phương Tuấn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội: Ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm xác lập một tư duy chiến lược mới, chuyển tư duy từ "quản lý hành chính đơn thuần" sang "quản trị dựa trên hiệu quả và giá trị thực tế". Đây là tư tưởng định hướng để cả hệ thống chính trị cùng thay đổi.
Với chức năng của cơ quan lập pháp và giám sát tối cao, Quốc hội không trực tiếp xây dựng hay vận hành các bộ chỉ số điều hành chi tiết. Đó là thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan hành pháp (Chính phủ). Tuy nhiên, để hiện thực hóa chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Quốc hội sẽ thực hiện hai vai trò quyết định.
Về lập pháp (thể chế hóa nguyên tắc), Quốc hội sẽ luật hóa các nguyên tắc đánh giá dựa trên kết quả đầu ra vào các luật chuyên ngành (như Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Ngân sách nhà nước). Quốc hội đưa ra "đặt hàng pháp lý" để Chính phủ phải định hình hệ sinh thái quản lý bằng các chỉ số kinh tế kỹ thuật cụ thể: tỷ lệ thương mại hóa, đóng góp của kinh tế số vào GDP, mức độ cải thiện năng suất lao động xã hội. Mọi dòng vốn đầu tư công cho đổi mới sáng tạo sẽ được phân bổ dựa trên các nguyên tắc hiệu quả này.
Về giám sát tối cao, Quốc hội sử dụng chính các cam kết mục tiêu và bộ chỉ số hiệu quả do Chính phủ ban hành để làm thước đo giám sát. Khi phê duyệt ngân sách hay chất vấn các thành viên Chính phủ, Quốc hội sẽ không dựa trên báo cáo "đã hoàn thành bao nhiêu văn bản, đề án". Quốc hội, cụ thể ở đây là các Ủy ban chuyên môn của Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội sẽ chất vấn dựa trên các số liệu thực tế: Có bao nhiêu sản phẩm cụ thể được tạo ra? Nguồn lực quốc gia đầu tư vào đã chuyển hóa thành bao nhiêu giá trị kinh tế cho đất nước?
Sự phân định rõ ràng này giúp Quốc hội giữ đúng vai trò độc lập, khách quan trong giám sát, đồng thời tạo áp lực và động lực mạnh mẽ để cơ quan hành pháp phải đổi mới toàn diện phương thức quản trị đổi mới sáng tạo theo đúng tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
[Infographic] Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW
Phóng viên: Một trong những yêu cầu quan trọng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh là phải có cơ chế khuyến khích, bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Theo ông, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý ra sao để quy định này thực sự trở thành điểm tựa cho nhà khoa học, doanh nghiệp công nghệ và đội ngũ cán bộ thực thi đổi mới sáng tạo?
Ông Nguyễn Phương Tuấn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội: Yêu cầu chiến lược của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về khuyến khích và bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung chính là "mệnh lệnh hành động" để giải phóng sức sáng tạo quốc gia. Từ góc độ lập pháp, Quốc hội đã hoàn thành sứ mệnh "mở đường" khi bước đầu thiết lập cơ chế chấp nhận rủi ro và bảo hộ tài sản trí tuệ trong Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng như Luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, để những quy định tiến bộ này thực sự đi vào cuộc sống và trở thành điểm tựa vững chắc cho nhà khoa học, điểm quyết định hiện nay nằm ở sự minh bạch, dũng cảm và đồng bộ của các văn bản hướng dẫn thi hành (nghị định, thông tư). Với vai trò là một đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Trung ương, tôi nhận thấy cần phải tập trung thúc đẩy Chính phủ và các bộ, ngành hoàn thiện cơ chế thực thi dưới luật ở 3 điểm nghẽn cốt lõi.
Một là, cụ thể hóa tiêu chí "rủi ro được chấp nhận" tại các nghị định hướng dẫn. Luật đã cho phép chấp nhận rủi ro, nhưng các thông tư hướng dẫn quản lý tài chính và nghiệm thu hiện nay vẫn mang nặng tư duy "bảo toàn vốn hành chính". Cần một nghị định quy định rõ ràng, định lượng được thế nào là "thất bại khách quan trong giới hạn nghiên cứu đổi mới sáng tạo" để cơ quan kiểm toán, thanh tra có căn cứ pháp lý áp dụng, giúp nhà khoa học chân chính không bị quy trách nhiệm hình sự hay hành chính khi dự án công nghệ cao không đạt kết quả như kỳ vọng ban đầu.
Hai là, ban hành văn bản hướng dẫn dưới luật chi tiết về định giá tài sản trí tuệ và thủ tục thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp (spin-off). Đây là kiến nghị vô cùng xác đáng từ các đại học lớn như Đại học Bách khoa Hà Nội. Luật đã mở, nhưng vì thiếu thông tư hướng dẫn chi tiết về tự chủ định giá và cơ chế thỏa thuận phân chia lợi ích, các trường và nhà khoa học không dám tự quyết vì sợ sai phạm trong quản lý tài sản công. Văn bản dưới luật phải đưa ra công thức và quy trình chuẩn, rõ ràng để cởi trói tâm lý sợ trách nhiệm này.
Ba là, thiết lập quy trình quản lý và nghiệm thu linh hoạt tại các thông tư chuyên ngành. Hiện nay, có thể thấy rằng sản phẩm công nghệ cao (ứng dụng AI, Big Data) thay đổi theo từng tháng, không thể áp dụng quy trình thẩm định, nghiệm thu kéo dài hằng năm theo lối mòn hành chính. Các văn bản hướng dẫn dưới luật cần thiết lập một "luồng xanh" thủ tục, cho phép nghiệm thu theo sản phẩm cuối cùng và điều chỉnh mục tiêu linh hoạt theo thực tế thị trường.
Bên cạnh đó, thời gian tới, Quốc hội sẽ nghiên cứu ban hành Nghị quyết cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật trong kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số... tạo căn cứ pháp lý vững chắc để khuyến khích các nhà khoa học, chuyên gia dám nghĩ, dám làm.
Có thể khẳng định rằng, luật là bệ đỡ nhưng nghị định, thông tư mới là dòng chảy đưa chính sách đến với nhà khoa học. Chỉ khi các văn bản dưới luật được xây dựng với tinh thần thể chế hóa cụ thể, chặt chẽ nhưng thông thoáng, chúng ta mới tạo ra một "môi trường an toàn" để bảo vệ những nhà khoa học chân chính, dám dấn thân vì sự phát triển của đất nước đúng như tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Phóng viên: Một trong những điểm nghẽn được nhắc tới nhiều hiện nay là khoảng cách giữa cam kết đầu tư, bố trí nguồn lực và khả năng hấp thụ của hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Vậy, Quốc hội cần tiếp tục sửa đổi những quy định nào về ngân sách, cơ chế tài chính, cơ chế khoán chi hay quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ để nguồn lực được giải ngân nhanh hơn, linh hoạt hơn và thực sự chuyển hóa thành các sản phẩm, công nghệ và giá trị cụ thể?
Ông Nguyễn Phương Tuấn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội: Đây là bài toán nhức nhối mà góc độ lập pháp phải chịu trách nhiệm tháo gỡ. Tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu nguồn lực phải chuyển hóa thành giá trị cụ thể. Thực tế cho thấy, thủ tục quy trình rườm rà đang làm mất đi tính thời sự của công nghệ.
Trước tiên, tôi xin được nhắc lại yêu cầu bố trí nguồn lực cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Nghị quyết số 57-NQ/TW: “...bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển...”. Đây chính là cam kết mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Hệ thống pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025, đã đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ từ tư duy "quản lý hành chính" sang "kiến tạo và thúc đẩy" lấy doanh nghiệp làm trung tâm, trực tiếp tháo gỡ các "điểm nghẽn" về khả năng hấp thụ và giải ngân mà Báo Nhân Dân đã nêu.
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã quy định cơ chế chấp nhận rủi ro (Điều 9 Luật 2025), theo đó Nhà nước thừa nhận rủi ro là thuộc tính tự nhiên của nghiên cứu và cam kết loại trừ trách nhiệm dân sự, hành chính, hình sự cho các cá nhân, tổ chức đã tuân thủ đúng quy trình chuyên môn nhưng thất bại do bản chất khách quan của công nghệ.
Về cơ chế tài chính, việc áp dụng phương thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng (Điều 63 Luật 2025) cho phép tổ chức chủ trì được tự chủ điều chỉnh kinh phí giữa các khoản mục chi và tự quyết định mức chi chuyên môn theo giá thị trường, giúp dòng vốn được giải ngân nhanh chóng dựa trên kết quả đầu ra thay vì gánh nặng hồ sơ chứng từ. Đặc biệt, quyền tự chủ trong thương mại hóa được xác lập qua cơ chế tự động giao quyền sở hữu tài sản và kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách cho tổ chức chủ trì ngay sau khi nghiệm thu (Điều 24, 25 Luật 2025), đi kèm với quyền tự chủ quyết định giá cả sản phẩm theo cơ chế thị trường (Điều 27 Luật 2025).
Nhằm tăng tốc độ thực thi, mọi quy trình hiện nay được số hóa toàn diện trên nền tảng quản lý quốc gia và với thời hạn phê duyệt nhiệm vụ "cứng" không quá 110 ngày. Ngoài ra, việc thiết lập các không gian thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) (Điều 21, 22, 23 Luật 2025) và hỗ trợ doanh nghiệp qua phiếu tài chính (voucher) đã tạo nên một chu kỳ đổi mới thông suốt từ phòng thí nghiệm đến thị trường.
Từ góc độ lập pháp, có thể khẳng định, khung pháp lý hiện nay đã đủ, khá toàn diện và an toàn để những người thực thi "dám làm", vấn đề còn lại hoàn toàn nằm ở khâu tổ chức thực hiện và triển khai thực tiễn, tránh tình trạng “chưa làm đã kêu nghẽn, kêu mắc”. Quốc hội sẽ giám sát việc thực thi để tổng kết, đánh giá, phát hiện các điểm nghẽn, bất cập của luật pháp trong thực tế để sửa đổi hoặc ban hành luật mới phù hợp hơn.
Phóng viên: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu chuyển đổi số phải gắn với xây dựng hạ tầng dữ liệu đồng bộ, liên thông và an toàn ngay từ đầu. Theo ông, đâu là những rào cản thể chế lớn nhất đang cản trở việc hình thành hạ tầng dữ liệu dùng chung và hệ sinh thái dữ liệu quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh dữ liệu vẫn còn phân tán giữa các bộ, ngành và địa phương? Với vai trò của mình, Quốc hội sẽ ưu tiên hoàn thiện những quy định nào để dữ liệu thực sự trở thành nguồn lực phát triển mới của nền kinh tế?
Ông Nguyễn Phương Tuấn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội: Khi hành lang pháp lý nền tảng đã được định hình qua Luật Dữ liệu, rào cản lớn nhất hiện nay không còn là thiếu luật, mà là năng lực thực thi, hạ tầng công nghệ và các quy định hướng dẫn thực chất dưới luật để giải quyết triệt để tình trạng dữ liệu bị phân tán, "cát cứ" giữa các bộ, ngành, địa phương, thiếu tiêu chuẩn thống nhất và thiếu cơ chế chia sẻ an toàn.
Với vai trò lập pháp và giám sát tối cao, để biến các quy định của Luật Dữ liệu thành nguồn lực phát triển thực tế, Quốc hội sẽ tăng cường giám sát Chính phủ trong việc triển khai cụ thể một số nội dung sau:
Thúc đẩy ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất để từ đó có căn cứ để Quốc hội triển khai hoạt động giám sát việc ban hành các văn bản dưới luật để chuẩn hóa dữ liệu quốc gia. Nếu không có tiêu chuẩn chung, dữ liệu giữa các bộ ngành dù có mở cửa cũng không thể "nói chuyện" được với nhau.
Cụ thể hóa cơ chế "ủy thác dữ liệu": Hướng dẫn chi tiết khung pháp lý an toàn để hiện thực hóa việc chia sẻ dữ liệu giữa ba nhà: Nhà nước-Doanh nghiệp-Viện trường. Phải có cơ chế bảo vệ dòng chảy dữ liệu trong các lĩnh vực chiến lược để các bên an tâm chia sẻ mà không sợ rủi ro pháp lý hay lộ lọt bảo mật.
Đồng bộ hóa dữ liệu với hạ tầng tính toán AI quốc gia: Quốc hội cần ưu tiên phê duyệt ngân sách và cơ chế đầu tư cho hạ tầng tính toán dùng chung (như các trung tâm dữ liệu lớn, hệ thống GPU công suất cao). Dữ liệu chỉ thực sự trở thành nguồn lực mới khi nó được kết nối trực tiếp với một "động cơ tính toán" đủ mạnh, cho phép các viện nghiên cứu và doanh nghiệp khai thác, chuyển hóa dữ liệu thô thành tri thức và sản phẩm mang bản sắc Việt Nam.
Đồng thời, Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội sẽ chủ động tiến hành các hoạt động giám sát tối cao, giám sát chuyên đề về việc thực thi pháp luật về dữ liệu nhằm kịp thời phát hiện mâu thuẫn, chồng chéo về pháp luật cũng như những bất cập phát sinh trên thực tiễn
Phóng viên: Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu làm chủ một số công nghệ chiến lược và công nghệ lõi có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia. Trên tinh thần nghị quyết, Quốc hội cần ưu tiên những cơ chế, chính sách nào để hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, từng bước làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển, thay vì tiếp tục chủ yếu đảm nhận các khâu gia công và lắp ráp?
Ông Nguyễn Phương Tuấn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội: Có thể khẳng định, việc thực hiện mục tiêu làm chủ một số công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và nâng cao năng lực nội sinh là yêu cầu bắt buộc, cấp bách để Việt Nam bứt phá. Để đạt được mục tiêu doanh nghiệp thoát khỏi "bẫy" gia công, Quốc hội đã và đang tập trung ưu tiên hoàn thiện những hành lang pháp lý đột phá như sau:
Về đột phá về tư duy lập pháp, lãnh đạo Quốc hội thường xuyên quán triệt tinh thần đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, chuyển từ "không quản được thì cấm" sang hỗ trợ kiến tạo và khuyến khích đổi mới sáng tạo. Những luật nền tảng như Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 đã được ban hành với cách tiếp cận hoàn toàn mới, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Về chính sách ưu đãi đầu tư thực chất cho nghiên cứu và phát triển (R&D): Theo Luật Công nghệ cao năm 2025 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2026), doanh nghiệp công nghệ cao đáp ứng mức đầu tư cho R&D tại Việt Nam đạt tối thiểu 1% doanh thu thuần sẽ được hưởng mức ưu đãi cao nhất: miễn thuế 4 năm, giảm 50% trong 9 năm tiếp theo và áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm. Đây là đòn bẩy tài chính rất mạnh để doanh nghiệp tự tin đầu tư vào công nghệ lõi.
Về xác lập cơ chế "thử nghiệm có kiểm soát": Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã chính thức xác lập công cụ pháp lý sandbox, cho phép thử nghiệm các công nghệ chiến lược (AI, Blockchain, bán dẫn...) trong môi trường pháp lý giới hạn. Đặc biệt, chính sách miễn trừ trách nhiệm dân sự đối với các rủi ro khách quan phát sinh trong quá trình thử nghiệm sẽ giúp các nhà khoa học và doanh nghiệp dám dấn thân vào những lĩnh vực mới.
Về kiến tạo thị trường qua mua sắm công: Quốc hội luôn thúc đẩy cơ chế "Nhà nước là khách hàng đầu tiên", đặt hàng và giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp trong nước thực hiện các sản phẩm công nghệ số trọng điểm. Việc này không chỉ tạo đầu ra ổn định mà còn giúp công nghệ Việt Nam khẳng định vị thế ngay trên sân nhà trước khi vươn ra quốc tế.
Về thu hút nhân tài qua cơ chế đặc thù: Chúng ta đang tiếp tục hoàn thiện các chính sách đặc biệt về nhập quốc tịch, sở hữu nhà đất và thu nhập vượt trội để thu hút các chuyên gia đầu ngành, các "Tổng công trình sư" về nước dẫn dắt các dự án công nghệ chiến lược quốc gia.
Phóng viên: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW chỉ được coi là hoàn thành khi tạo ra sản phẩm cụ thể, giá trị cụ thể và có thể đo đếm bằng hiệu quả thực tế. Theo ông, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội sẽ đổi mới phương thức giám sát như thế nào để chuyển từ giám sát dựa trên hồ sơ và báo cáo sang giám sát dựa trên dữ liệu, kết quả đầu ra và tác động thực tế đối với người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế? Liệu có thể hình thành các bảng điều khiển số hoặc cơ chế công khai dữ liệu thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW để xã hội cùng tham gia giám sát hay không?
Ông Nguyễn Phương Tuấn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội: Để chuyển trạng thái giám sát từ "hồ sơ, báo cáo" sang "dữ liệu và kết quả thực tiễn", Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đang triển khai quyết liệt các đổi mới.
Thứ nhất, phải tăng cường giám sát dựa trên dữ liệu "đúng-đủ-sạch-sống". Theo đó, sẽ phải quan tâm, tận dụng việc kết nối đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp, đất đai và khoa học công nghệ để theo dõi biến động thực tế hằng ngày thay vì chờ báo cáo định kỳ. Hệ thống giám sát được thực hiện trên môi trường số, liên thông giữa Quốc hội và Chính phủ, bảo đảm tính minh bạch tuyệt đối.
Thứ hai, phải đo lường bằng bộ tiêu chí kết quả đầu ra (KPI). Hiệu quả triển khai được lượng hóa qua các chỉ số cứng của Nghị quyết số 57 như: Tỷ lệ đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đạt hơn 55%, quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP và số lượng sáng chế tăng trung bình 16-18% mỗi năm… Mọi nhiệm vụ chỉ được coi là hoàn thành khi có sản phẩm cụ thể có thể thương mại hóa hoặc giải quyết được bài toán thực tế của đất nước.
Thứ ba, nghiên cứu, hình thành các bảng điều khiển số (Dashboard) công khai. Chúng tôi cho rằng hoàn toàn có thể hình thành các bảng điều khiển số để công khai tiến độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ của người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương. Đây là cơ chế giám sát trách nhiệm cá nhân rất mạnh mẽ; lãnh đạo làm chậm hoặc không hiệu quả sẽ bị phê bình hoặc thay thế ngay.
Thứ tư, hình thành cơ chế xã hội cùng tham gia giám sát. Việc này cần nghiên cứu thực hiện thông qua các nền tảng số để người dân và doanh nghiệp có thể phản hồi trực tiếp, tương tác 24/7 về tác động của chính sách. Sự tham gia giám sát của toàn xã hội sẽ giúp các cơ quan, trong đó có các Ủy ban của Quốc hội nhận diện sớm các điểm nghẽn để kịp thời kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện thể chế.
Phóng viên: Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ là câu chuyện về khoa học công nghệ hay chuyển đổi số, mà sâu xa hơn là quá trình chuyển đổi năng lực quốc gia và chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo ông, đâu sẽ là những tiêu chí quan trọng nhất để Việt Nam có thể khẳng định mình đã bước sang giai đoạn phát triển mới dựa trên năng suất, công nghệ và tri thức, thay vì tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào lao động giá rẻ và vốn đầu tư?
Ông Nguyễn Phương Tuấn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội: Tầm nhìn chiến lược của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khi chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW không dừng lại ở câu chuyện công nghệ thuần túy, mà sâu xa hơn là một cuộc cách mạng về thể chế để chuyển đổi năng lực quốc gia. Quốc hội, với tư cách là cơ quan lập pháp và giám sát tối cao, không nhìn nhận sự chuyển dịch mô hình tăng trưởng qua các con số thống kê kinh tế thuần túy, mà nhìn nhận qua mức độ hoàn thiện, tính đồng bộ và hiệu lực thực thi của hành lang pháp lý kiến tạo phát triển. Để khẳng định Việt Nam đã thực sự bước sang giai đoạn phát triển mới dựa trên năng suất, công nghệ và tri thức chứ không còn phụ thuộc vào lao động giá rẻ, dưới góc độ lập pháp, chúng ta phải dựa trên 3 tiêu chí thể chế cốt lõi sau:
Tiêu chí 1: Sự chuyển dịch từ "Thể chế quản lý, kiểm soát" sang "Thể chế kiến tạo, thúc đẩy đổi mới sáng tạo". Tiêu chí lập pháp đầu tiên là hệ thống pháp luật của chúng ta đã rũ bỏ được tư duy quản lý hành chính áp đặt kiểu cũ hay chưa? Một nền kinh tế tri thức chỉ thực sự định hình khi các đạo luật chuyên ngành (như Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Dữ liệu, Luật Sở hữu trí tuệ…) thiết lập được một hành lang pháp lý thông thoáng, bảo vệ được tài sản trí tuệ và quyền tự chủ của các chủ thể đổi mới sáng tạo. Khi các quy định pháp luật chuyển sang cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, thừa nhận "quyền được rủi ro" trong nghiên cứu và luật hóa được các không gian thử nghiệm pháp lý cho công nghệ mới, đó là minh chứng rõ nhất cho thấy thể chế đã thực sự mở đường cho tri thức giải phóng năng suất.
Tiêu chí 2: Tính thực chất và hiệu lực của cơ chế giám sát tối cao dựa trên kết quả đầu ra. Một mô hình tăng trưởng mới đòi hỏi một phương thức giám sát mới của Quốc hội. Tiêu chí thước đo ở đây là trong hoạt động quyết định ngân sách và giám sát tối cao, Quốc hội sẽ không còn chấp nhận các báo cáo dựa trên số lượng đề án, văn bản hoàn thành theo kiểu "hồ sơ hóa". Thay vào đó, cơ chế giám sát của Quốc hội buộc các cơ quan hành pháp phải giải trình sòng phẳng về sản phẩm cụ thể, giá trị thực tế tạo ra cho xã hội và mức độ thương mại hóa công nghệ từ nguồn lực công. Khi áp lực giám sát tối cao buộc cơ quan thực thi phải xoay trục sang quản trị dựa trên sản phẩm, mô hình tăng trưởng mới có động lực vận hành thực chất.
Tiêu chí 3: Sự đồng bộ, thống nhất và thông suốt của hệ thống pháp luật chuyên ngành trong việc liên kết các yếu tố đổi mới sáng tạo. Một mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức không thể vận hành nếu hành lang pháp lý giữa các khâu từ nghiên cứu thị trường bị chia cắt bởi sự chồng chéo, xung đột giữa các đạo luật. Tiêu chí lập pháp cốt lõi ở đây là Quốc hội đã tháo gỡ triệt để các "xung đột pháp lý" giữa Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Ngân sách nhà nước và Luật Sở hữu trí tuệ. Sự thông suốt này phải được minh chứng bằng việc bãi bỏ hoàn toàn các rào cản hành chính trong thủ tục định giá tài sản trí tuệ, cho phép các cơ sở giáo dục đại học tự chủ tối đa trong việc thành lập các doanh nghiệp khởi nghiệp (spin-off), và bảo đảm dòng chảy dữ liệu chiến lược giữa Nhà nước với viện nghiên cứu, doanh nghiệp được vận hành an toàn dưới sự bảo trợ độc lập của quy định về pháp luật dữ liệu.
Khi hệ thống pháp luật không còn những khoảng trống hay mâu thuẫn giao thoa, cho phép tri thức từ phòng thí nghiệm được định giá sòng phẳng theo cơ chế thị trường và chuyển hóa thẳng thành sản phẩm thương mại, đó là lúc thể chế đã hoàn thành sứ mệnh kiến tạo nền tảng vững chắc cho một quốc gia phát triển dựa trên tri thức.
Tóm lại, dưới góc độ của một nhà lập pháp, tiêu chí tối cao để khẳng định đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới chính là việc chúng ta cần xây dựng thành công một "Hệ thống pháp luật đổi mới sáng tạo", nơi thể chế không còn là điểm nghẽn, mà trở thành động lực lớn nhất giải phóng mọi tiềm năng tri thức của con người Việt Nam theo đúng tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!