Cân nhắc lộ trình, ưu tiên các nhóm yếu thế

Miễn viện phí được xây dựng trên nền tảng bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân, là cơ chế chia sẻ rủi ro, bảo đảm công bằng, hiệu quả và bền vững tài chính. Bà Trần Thị Trang (ảnh nhỏ), Vụ trưởng Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế) trao đổi với phóng viên Nhân Dân cuối tuần về những điểm quan trọng trong thực thi chính sách này.

Bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế)
Bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế)

- Thưa bà, khi nghe nói “miễn viện phí toàn dân,” nhiều người dân thường nghĩ rằng khi vào bệnh viện sẽ không phải trả tiền. Thực tế có đúng như vậy không? Và mức đóng Quỹ Bảo hiểm y tế hiện nay đã phù hợp với chính sách mà chúng ta đang hướng tới?

- Chính sách miễn viện phí toàn dân là một chủ trương rất nhân văn, thể hiện tinh thần “lấy người khỏe chăm người bệnh, người giàu san sẻ với người nghèo” trong chế độ bảo hiểm y tế của Việt Nam. Tuy nhiên, không phải tất cả các dịch vụ đều miễn phí hoàn toàn. Nhà nước và Quỹ Bảo hiểm y tế sẽ chi trả các chi phí y tế cơ bản, thiết yếu nhằm giảm tối đa gánh nặng tài chính cho người dân, đặc biệt ưu tiên trẻ em dưới 6 tuổi, người nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách xã hội. Còn những dịch vụ vượt mức cơ bản hoặc theo yêu cầu cao cấp thì người bệnh vẫn phải chi trả một phần.

Việt Nam đang từng bước triển khai lộ trình miễn viện phí toàn dân, với mục tiêu giúp mọi người dân đều được tiếp cận dịch vụ y tế thiết yếu mà không chịu gánh nặng tài chính. Tuy nhiên, để thực hiện được chính sách này cần nguồn lực rất lớn và phải tính toán kỹ lưỡng để bảo đảm tính khả thi, công bằng và bền vững. Thí dụ, nếu mở rộng khám sức khỏe định kỳ miễn phí ít nhất một lần mỗi năm cho khoảng 84 triệu người chưa được hưởng chế độ theo pháp luật lao động, ngân sách cần thêm khoảng 25.000 tỷ đồng mỗi năm. Ngoài ra, các chương trình sàng lọc và phát hiện bệnh do trạm y tế thực hiện cũng cần bổ sung kinh phí đáng kể. Do đó, việc mở rộng dịch vụ y tế miễn phí phải được thực hiện theo lộ trình, dựa trên khả năng cân đối của Quỹ Bảo hiểm y tế và ngân sách nhà nước, ưu tiên hỗ trợ các nhóm đối tượng yếu thế trước.

Người dân vẫn phải tuân thủ quy trình chuyển tuyến và phân luồng chuyên môn nhằm bảo đảm sử dụng hiệu quả Quỹ Bảo hiểm y tế, giảm quá tải bệnh viện tuyến trên và nâng cao năng lực y tế cơ sở. Nếu khám vượt tuyến hoặc không đúng cấp, người bệnh sẽ phải chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí dù có bảo hiểm y tế”.

TRẦN THỊ TRANG, Vụ trưởng Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế)

- Vậy Bộ Y tế có những chính sách gì để mở rộng độ bao phủ bảo hiểm y tế và giảm gánh nặng cho người dân? Những nhóm đối tượng nào sẽ được ưu tiên thụ hưởng chính sách miễn viện phí?

- Chúng tôi đã đề xuất để tăng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho học sinh, sinh viên, người cao tuổi, người khuyết tật, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách xã hội nhằm mở rộng bao phủ bảo hiểm y tế. Tỷ lệ thanh toán bảo hiểm y tế cũng sẽ được nâng lên, mở rộng phạm vi quyền lợi để giảm bớt gánh nặng tài chính cho người bệnh. Nhà nước sẽ phối hợp ngân sách, Quỹ Bảo hiểm y tế và huy động xã hội hóa. Một số chuyên gia đề xuất trích thuế tiêu thụ đặc biệt từ các sản phẩm gây hại sức khỏe như thuốc lá, rượu bia, nước ngọt để vừa phòng bệnh vừa tạo nguồn lực tài chính cho Quỹ Bảo hiểm y tế và chính sách miễn viện phí. Dự kiến đến năm 2025, Quỹ Bảo hiểm y tế sẽ chi khoảng 163 nghìn tỷ đồng, vì vậy cần tăng mức đóng từ 4,5% lên tối đa 6% mức lương cơ sở theo quy định.

Ưu tiên hàng đầu là trẻ em dưới 6 tuổi, người nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách xã hội, những nhóm dễ bị tổn thương và khó tiếp cận dịch vụ y tế. Tiếp đó là người cao tuổi, người khuyết tật, dân tộc thiểu số và người sống tại vùng sâu vùng xa. Tỷ lệ đồng chi trả sẽ được giảm dần, đặc biệt với bệnh nhân nghèo mắc bệnh hiểm nghèo hoặc mãn tính có chi phí điều trị cao. Người có thu nhập cao vẫn được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế cơ bản như khám định kỳ, sàng lọc bệnh, nhưng không được Nhà nước hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế và phải chi trả phần lớn chi phí khi sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao hoặc thuốc đắt tiền. Đây là cách phân tầng hợp lý nhằm bảo đảm tính bền vững và công bằng của hệ thống y tế.

- Hiện nay tỷ lệ chi tiền túi của người dân còn khá cao, bà có thể nói rõ hơn về mục tiêu giảm tỷ lệ này? Nguồn lực tài chính cho chính sách này sẽ được huy động ra sao để bảo đảm phát triển bền vững?

- Đúng vậy, hiện tỷ lệ chi tiền túi của người dân vẫn dao động khoảng 40%-50%, trong khi mức trung bình thế giới chỉ khoảng 12%. Mục tiêu của chúng tôi là giảm tỷ lệ này xuống mức trung bình thế giới vào năm 2035. Tuy nhiên, miễn viện phí không có nghĩa người dân khám chữa bệnh ở đâu cũng miễn phí. Người bệnh vẫn phải tuân thủ quy trình chuyển tuyến và phân luồng chuyên môn nhằm bảo đảm hiệu quả sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế và giảm tải cho tuyến trên. Vì vậy, củng cố năng lực y tế cơ sở là rất quan trọng để người dân tin tưởng, hạn chế vượt tuyến không cần thiết.

Và để thực hiện mục tiêu miễn viện phí toàn dân thì nguồn lực tài chính rất lớn là một thách thức. Bên cạnh đó, chương trình sàng lọc và phát hiện bệnh cũng cần kinh phí bổ sung. Chúng tôi đề xuất tăng mức đóng bảo hiểm y tế từ 4,5% lên tối đa 6% mức lương cơ sở để bảo đảm Quỹ Bảo hiểm y tế đủ nguồn lực. Ngoài ra, Nhà nước sẽ huy động ngân sách và vận động xã hội hóa. Cũng như cân nhắc trích thuế tiêu thụ đặc biệt từ các sản phẩm gây hại sức khỏe như thuốc lá, rượu bia, nước ngọt để vừa giúp phòng bệnh, vừa tạo nguồn lực tài chính cho chính sách miễn viện phí.

- Người dân vẫn có tâm lý muốn lên tuyến trung ương khám chữa bệnh dù bệnh nhẹ, theo bà chính sách miễn viện phí có giải quyết được vấn đề này không? Chính hệ thống y tế cơ sở cần thay đổi ra sao để chính sách phát huy hiệu quả?

- Trong hành trình tiến tới miễn viện phí, chất lượng tại các cơ sở y tế là điểm then chốt. Chúng tôi sẽ nâng cấp toàn diện y tế cơ sở từ chức năng, mô hình tổ chức, nhân lực đến trang thiết bị, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa. Cần đủ bác sĩ và nhân viên y tế có chuyên môn để khám, chữa bệnh ngoại trú, chỉ định xét nghiệm, theo dõi và quản lý bệnh mãn tính. Phát triển mạng lưới bác sĩ gia đình, tăng cường đào tạo, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại cơ sở cũng là ưu tiên hàng đầu. Chúng tôi có chính sách hỗ trợ đặc biệt nhằm thu hút và giữ chân bác sĩ làm việc tại trạm y tế xã và các cơ sở y tế dự phòng, giúp người dân tin tưởng, giảm tình trạng vượt tuyến không cần thiết và giảm tải cho tuyến trên. Chỉ khi y tế cơ sở đủ mạnh, dịch vụ chất lượng, người dân mới tin tưởng và hạn chế tình trạng vượt tuyến không cần thiết.

Chính sách sẽ được triển khai từ nay đến 2030-2035 theo các bước cụ thể. Năm 2026 sẽ bắt đầu khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho toàn dân. Tiếp đó sẽ giảm dần tỷ lệ đồng chi trả, tăng phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế, mở rộng gói dịch vụ y tế cơ bản và các chương trình sàng lọc sớm. Mục tiêu cuối cùng là mọi người dân, không phân biệt vùng miền hay mức thu nhập, đều được tiếp cận dịch vụ y tế thiết yếu mà không phải lo gánh nặng tài chính.

Chúng tôi không hướng tới miễn phí tuyệt đối mà là giảm tối đa chi phí tiền túi, tăng bao phủ bảo hiểm y tế, nâng cao chất lượng và sự công bằng của hệ thống y tế.

- Xin cảm ơn bà về cuộc trò chuyện này!.

anh-2-dsc-4158.jpg
Miễn viện phí giúp mọi người dân được tiếp cận dịch vụ y tế thiết yếu mà không chịu gánh nặng tài chính. (Ảnh Anh Sơn)

NHỮNG THAY ĐỔI TỪ NGÀY 1/7/2025 KHI LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CÓ HIỆU LỰC:

• Bổ sung nhiều nhóm được ngân sách đóng hoặc hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế như: người từ 75 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng; người từ 70 đến dưới 75 tuổi thuộc hộ cận nghèo đang hưởng trợ cấp tuất; nhân viên y tế thôn bản, cô đỡ thôn bản; người tham gia lực lượng bảo vệ an ninh cơ sở; hộ gia đình nông-lâm-ngư-diêm nghiệp có mức sống trung bình.

• Người dân được tự do đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại bất kỳ cơ sở y tế nào trong hệ thống bảo hiểm y tế trên toàn quốc, không phụ thuộc nơi cư trú hay làm việc. Mỗi quý, người tham gia có quyền thay đổi nơi đăng ký nếu cần. Ngoài ra, bệnh nhân nội trú được quyền điều trị tại cơ sở cấp cơ bản toàn quốc mà không cần giấy chuyển tuyến.

• Người tham gia được thanh toán 100% chi phí khám chữa bệnh trong nhiều trường hợp, như: khám tại cơ sở đăng ký ban đầu trên toàn quốc; điều trị nội trú tại cơ sở bảo hiểm y tế cấp cơ bản; người dân tộc thiểu số, hộ nghèo vùng khó khăn khám chữa bệnh chuyên sâu; đặc biệt, điều trị tật khúc xạ mắt được hỗ trợ đến 18 tuổi thay vì dưới 6 tuổi như trước.

Có thể bạn quan tâm

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.