"Cảm biến sống” cảnh báo ô nhiễm không khí

Không khí ô nhiễm là mối đe dọa, âm thầm tấn công sức khỏe cộng đồng. Trong khi công nghệ giám sát hiện đại còn hạn chế do chi phí cao, một hướng đi sáng tạo và hiệu quả đã được các nhà khoa học hạt nhân Việt Nam phát triển là sử dụng cây rêu tự nhiên như những “cảm biến sống” để “bắt bệnh” cho bầu không khí và xác định nguồn phát thải ô nhiễm.
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hồng Khiêm giới thiệu mẫu rêu thu thập để nghiên cứu.
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hồng Khiêm giới thiệu mẫu rêu thu thập để nghiên cứu.

Theo các nhà khoa học, trung bình mỗi người trưởng thành hít khoảng 3.000 lít không khí mỗi ngày, nếu không khí bị nhiễm độc, cơ thể con người hấp thụ những chất đó mỗi giờ.

Thế nhưng, không khí ô nhiễm lại không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Việc kiểm soát không khí đòi hỏi những công nghệ giám sát hiện đại, thường là các trạm quan trắc tự động, với chi phí đầu tư cao.

Hệ thống quan trắc mà Việt Nam sử dụng chủ yếu chỉ phát hiện được một số khí như NO2, SO2, CO, PM2.5… Các kim loại nặng rất độc như chì, asen, thủy ngân, cadmi ,... thường không thể đo được nếu không có cảm biến chuyên biệt. Bên cạnh đó, cần có đội ngũ chuyên gia thường xuyên hiệu chỉnh các sensor; thiết bị phải sửa chữa thường xuyên do lắp đặt ngoài trời...

Một trong những giải pháp được đánh giá tốt với chi phí thấp là sử dụng sinh vật chỉ thị sinh học, cụ thể là cây rêu mọc tự nhiên ở khắp nơi.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hồng Khiêm, nguyên Viện trưởng Viện Vật lý, Ủy viên Hội đồng khoa học Viện liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna (Liên bang Nga) cho biết, cây rêu đã được các nhà khoa học ở châu Âu nghiên cứu và sử dụng để quan trắc chất lượng không khí từ cuối những năm 1970. Giải pháp dùng rêu để quan trắc chất lượng không khí đã và đang được nhiều quốc gia áp dụng. Tại Paris (Pháp), những bức tường rêu được xây dựng để “lọc” không khí trong thành phố.

Bài toán đặt ra với các nhà khoa học Việt Nam là cần tìm phương pháp quan trắc thích hợp, chi phí thấp, dễ áp dụng và có thể triển khai đồng thời ở nhiều tỉnh, thành phố. Công trình nghiên cứu “Sử dụng rêu tự nhiên để quan trắc ô nhiễm không khí tại Việt Nam” do Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hồng Khiêm và các cộng sự triển khai nhiều năm qua nhằm giải bài toán này.

Đây là nhóm đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu sử dụng chỉ thị sinh học bằng rêu mọc tự nhiên tại các tỉnh, thành phố (rêu Barbula Indica) để quan trắc ô nhiễm không khí. Rêu là thực vật bậc thấp, rễ của nó là “rễ giả”, không hút chất dinh dưỡng từ đất mà chủ yếu hấp thụ chất từ không khí. Cấu tạo xốp, không có biểu bì bảo vệ, nên bề mặt rêu giống như một “tấm lọc sống”, giữ lại những chất ô nhiễm có trong không khí mà con người đang hít thở hằng ngày.

Từ năm 2016, ông Khiêm bắt đầu lấy mẫu tại các khu vực có nhiều khu công nghiệp và mật độ dân số cao như: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên, Lâm Đồng.

Quy trình nghiên cứu bắt đầu bằng việc thu thập rêu sống từ tự nhiên, mẫu rêu sau đó được làm sạch, sấy khô và đưa vào phòng thí nghiệm sử dụng kỹ thuật hạt nhân để phân tích hàm lượng các nguyên tố ô nhiễm có trong rêu. Bằng phương pháp phân tích kích hoạt neutron, hàm lượng của các nguyên tố độc hại sẽ được xác định chính xác. Kết quả phân tích được xử lý bằng phần mềm bản đồ (GIS) và các mô hình toán học thống kê để xác định mức độ ô nhiễm cũng như chỉ ra các nguồn phát thải ô nhiễm.

Đối với những nơi không có rêu tự nhiên, nhóm áp dụng phương pháp “túi rêu”, lấy rêu sạch từ vùng núi cao cho vào túi lưới và treo tại các vị trí cần quan trắc ô nhiễm trong khoảng từ một đến vài tháng. Rêu treo sẽ hấp thụ chất ô nhiễm trong không khí, sau đó được thu về phân tích như các mẫu rêu sống ngoài tự nhiên. Phương pháp này rất phù hợp với các địa bàn đô thị, khu công nghiệp, nơi mật độ bê-tông hóa cao không thể thu thập được rêu sống.

Từ kết quả phân tích, nhóm xây dựng các bản đồ phản ánh mức độ ô nhiễm của từng địa phương và chỉ ra nguồn phát thải từ đâu (như từ giao thông, công nghiệp, đốt than, đốt sinh khối...). Cơ quan quản lý sẽ dựa vào các số liệu này để đưa ra giải pháp tối ưu kiểm soát và hạn chế các nguồn thải.

Kết quả nghiên cứu của Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hồng Khiêm và đồng nghiệp đã công bố trên nhiều tạp chí khoa học quốc tế uy tín và được đánh giá cao.

Trong nghiên cứu mới nhất, nhóm đã phân tích 29 nguyên tố trong các mẫu rêu thu thập tại Lâm Đồng và 40 nguyên tố trong các mẫu rêu thu thập tại Hải Phòng, chỉ ra 6 nguồn gây ô nhiễm chính. Các bản đồ phân bố mức độ ô nhiễm của từng độc tố trong không khí tại Lâm Đồng và Hải Phòng đã được thiết lập.

Nhóm nghiên cứu cũng ước lượng hiệu quả kinh tế, thí dụ đối với địa bàn Hà Nội, nếu sử dụng 30 trạm quan trắc trên toàn thành phố thì mỗi năm mất khoảng 51 tỷ đồng, còn kinh phí quan trắc dùng rêu sẽ chỉ mất khoảng 1 tỷ đồng.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hồng Khiêm nhấn mạnh, nhóm sẵn sàng chuyển giao công nghệ và hợp tác với các địa phương để quan trắc thường niên nhằm cung cấp số liệu ô nhiễm không khí cho các nhà quản lý.

Có thể bạn quan tâm

Hoạt động tại phòng thí nghiệm Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: Diệp Ngọc)

Chiến lược công nghệ lượng tử nhằm bảo vệ chủ quyền công nghệ, tích hợp không gian số toàn cầu

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, công nghệ lượng tử được đặt ở vị trí trung tâm, cụ thể hóa trong Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Nhiều hành vi thường xuất hiện trong các vụ lừa đảo công nghệ cao tăng mạnh mức xử phạt.

Tăng mức xử phạt hàng loạt thủ đoạn lừa đảo công nghệ cao

Từ 1/7/2026, Nghị định 174/2026/NĐ-CP có hiệu lực, thay thế nhiều quy định của Nghị định 15/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Đáng chú ý, nhiều hành vi thường xuất hiện trong các vụ lừa đảo công nghệ cao... đã tăng mạnh mức xử phạt.

Một hội nghị của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) trao đổi về công tác thanh tra xử lý vi phạm bản quyền về sở hữu công nghiệp.

Bước chuyển trong tư duy chính sách về sở hữu trí tuệ

Kết luận 51-KL/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội trong tình hình mới đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy chính sách, đưa sở hữu trí tuệ từ công cụ bảo hộ quyền thành nguồn lực phát triển quốc gia, gắn với yêu cầu hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi đồng bộ.

Diễn đàn châu Âu-châu Phi nhằm tăng cường hợp tác trong kỷ nguyên số. (Ảnh: ACCORD)

Đối phó thách thức tin giả

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra nhiều cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song cũng tạo ra những thách thức lớn. Nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch gia tăng không chỉ ở những khu vực công nghệ chưa phát triển đồng đều như châu Phi mà ở cả những nơi đã phát triển mạnh mẽ như châu Âu. 

Tiến sĩ Hoàng Lương trao đổi với nhóm nghiên cứu về kết quả xử lý nước thải bằng công nghệ EBB (Ảnh: LƯƠNG HIẾU)

Ứng dụng “gạch sinh học” xử lý nước thải

Việc xử lý nước thải tại các khu dân cư, làng nghề, trang trại chăn nuôi ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn như chi phí đầu tư cao, công nghệ xử lý phức tạp do nhiều loại nước thải đan xen và khó vận hành ở quy mô nhỏ…

Hoạt động nghiên cứu, thực hành tại Trường đại học Phenikaa. (Ảnh: VŨ THƠM)

Mô hình hợp tác “3 nhà” trong phát triển khoa học, công nghệ

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, toàn hệ thống chính trị; trong đó, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và thúc đẩy.

Xã Phụng Hiệp, thành phố Cần Thơ lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Chuyển đổi số - “chìa khóa” vận hành hiệu quả chính quyền cơ sở

Thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị theo yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã từng bước góp phần tạo đột phá trong xây dựng và vận hành chính quyền nhân dân.

Nông dân tham gia dự án hỗ trợ kinh doanh nông hộ tại Cao Bằng (Ảnh: VIỆT HÀ)

Chuyển giao công nghệ, đổi mới tư duy sản xuất

Chuyển giao khoa học và công nghệ đang góp phần đổi mới tư duy sản xuất, hình thành nhiều mô hình kinh tế và nâng cao năng lực công nghệ tại địa phương. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả cao hơn, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng gắn chặt với thị trường, doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng.

Quang cảnh sự kiện Shopee Brands And Creators Summit 2026.

AI trở thành động lực tăng trưởng mới của thương mại điện tử

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử, không chỉ góp phần nâng cao trải nghiệm mua sắm, mà còn hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu vận hành, mở rộng tiếp cận khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường số.

Nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Triển khai Nghị quyết 57: Tạo đột phá trong phát triển và trọng dụng nhân tài khoa học

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều kết quả quan trọng đã tạo nền tảng cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để tạo đột phá tăng trưởng, yêu cầu cấp bách hiện nay là xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao đủ năng lực làm chủ các công nghệ chiến lược.

Hội thảo “Kết nối 3 nhà - Huy động nguồn lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế-xã hội thành phố Huế” diễn ra chiều 2/7 tại Huế.

Huế kích hoạt nền tảng số kết nối “3 nhà”: Biến bài toán thực tiễn thành động lực đổi mới sáng tạo

Từ quản lý đô thị thông minh, bảo tồn di sản đến phát triển kinh tế số, thành phố Huế đang đứng trước nhiều bài toán lớn cần lời giải. Nền tảng số kết nối “3 nhà” vừa được Huế ra mắt kỳ vọng sẽ tạo cơ chế liên kết thực chất giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển.

Hoạt động nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: MẠNH XUÂN)

Chú trọng công tác nghiên cứu khoa học cơ bản

Trong đột phá phát triển khoa học, công nghệ, nghiên cứu khoa học cơ bản được xác định là nền móng tri thức, vấn đề chiến lược, liên quan trực tiếp đến mô hình phát triển, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia.