Bài toán vốn của doanh nghiệp điện tử

Muốn có đơn hàng thì phải đầu tư dây chuyền. Muốn đầu tư dây chuyền lại phải có đơn hàng. Vòng luẩn quẩn ấy đang giữ nhiều doanh nghiệp điện tử Việt đứng ngoài chuỗi cung ứng, trong khi cuộc đua bán dẫn đòi hỏi nguồn vốn ngày càng lớn.

Robot hàn chíp điện tử được các doanh nghiệp quan tâm. Ảnh: NAM ANH
Robot hàn chíp điện tử được các doanh nghiệp quan tâm. Ảnh: NAM ANH

Điện tử hiện chiếm hơn 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, phía sau quy mô xuất khẩu hàng đầu ấy, phần giá trị do doanh nghiệp trong nước tạo ra vẫn còn khá khiêm tốn.

Nút thắt vốn trong chuỗi điện tử và bán dẫn

Theo ông Lê Song Hào, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Điện tử SHDC, Việt Nam hiện có hơn 2.100 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong lĩnh vực điện tử, nhưng doanh nghiệp thuần Việt tham gia vào chuỗi này chưa đến 1%. Riêng tại miền bắc, số doanh nghiệp sản xuất bo mạch điện tử có dây chuyền SMT cũng chưa đến 10 doanh nghiệp.

“Dù rất nỗ lực nhưng doanh nghiệp Việt đang mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn con gà, quả trứng. Muốn có đơn hàng từ chuỗi cung ứng lớn thì sẽ phải có nhà xưởng và máy móc. Nhưng muốn đầu tư dây chuyền thì mình phải có đơn hàng, khi chưa có đơn hàng thì chưa dám đầu tư. Trong khi đó giá trị cầm cố nhà xưởng để vay chỉ có giá trị 70%”.

Câu chuyện của SHDC phản ánh một thực tế rộng hơn: Doanh nghiệp trong nước không chỉ thiếu công nghệ, mà còn thiếu khả năng tiếp cận nguồn vốn đủ dài để đầu tư những dây chuyền có giá trị lớn.

Ngay cả những doanh nghiệp công nghệ lớn cũng chưa dễ giải bài toán nội địa hóa. Theo ông Tào Đức Thắng, Chủ tịch, Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel, với điện thoại, doanh nghiệp đã nâng tỷ lệ nội địa hóa lên khoảng 20%, chủ yếu ở thân vỏ và một số bộ phận. Đối với thiết bị 5G, tỷ lệ nội địa hóa chỉ khoảng 8%; hơn 90% linh kiện điện tử vẫn phải nhập khẩu. Những bộ phận quan trọng như bộ nhớ, màn hình và chip xử lý về cơ bản vẫn phụ thuộc nguồn cung nước ngoài.

“Không chỉ thiếu linh kiện cốt lõi, ngay cả một số vật tư, linh kiện yêu cầu chất lượng cao phục vụ sản xuất thiết bị cũng chủ yếu do doanh nghiệp nước ngoài cung cấp”, ông Thắng cho biết thêm. Nếu điện tử còn thiếu những mắt xích sản xuất đầu chuỗi thì bán dẫn lại đối mặt với chu kỳ đầu tư dài và rủi ro lớn hơn.

Theo ông Tào Đức Thắng, Viettel được giao xây dựng nhà máy bán dẫn, nhưng “thực tế để có thể vận hành được Nhà máy thì thời gian không thể dưới 10 năm được”. Khoảng thời gian ấy cho thấy đây không phải cuộc chơi của những khoản vay ngắn hạn.

Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn, từ một bản thiết kế đến sản phẩm thương mại là khoảng cách rất xa. Doanh nghiệp phải tiếp cận các bộ công cụ EDA (tự động hóa thiết kế điện tử ), thư viện IP bản quyền với chi phí cao; riêng một lần sản xuất thử chip có thể tiêu tốn hàng triệu USD và luôn tiềm ẩn rủi ro kỹ thuật.

Ngay cả khi đã có mẫu chip, doanh nghiệp vẫn phải hoàn thiện phần mềm, bo mạch, đánh giá độ tin cậy và tích hợp sản phẩm. Trong khi đó, hệ sinh thái trong nước vẫn chưa hoàn chỉnh từ thiết kế, chế tạo, đóng gói, kiểm thử đến chứng nhận chất lượng. Với những doanh nghiệp có đơn hàng nhỏ, việc tiếp cận dịch vụ đóng gói và kiểm thử quốc tế với chi phí hợp lý vẫn là thách thức.

Nhìn ở góc độ tài chính, nút thắt của ngành không chỉ nằm ở quy mô đầu tư, mà còn ở việc doanh nghiệp phải bỏ vốn từ rất sớm trong khi doanh thu đến rất muộn.

Mở thị trường để khơi thông dòng vốn

Theo các chuyên gia, muốn doanh nghiệp Việt lớn mạnh, chính sách cần chuyển từ hỗ trợ riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái có tính kết nối cao.

Trong bán dẫn, Việt Nam lựa chọn phát triển chip chuyên dụng (specialized chip) như hướng đi phù hợp năng lực hiện nay. Đây là loại chip có thể ứng dụng trong camera AI, thiết bị IoT, robot, UAV, hệ thống viễn thông, điện tử công suất, lưới điện thông minh và thiết bị bảo mật.

Theo ông Phạm Anh Tuấn, hướng đi này cho phép tận dụng đội ngũ thiết kế chip đang hình thành, nền công nghiệp điện tử và thị trường trong nước trong các lĩnh vực viễn thông, AI, ô-tô điện, năng lượng và chuyển đổi số.

Tuy nhiên, để doanh nghiệp đi từ phòng thí nghiệm ra thị trường, điều quan trọng là tạo được “khách hàng đầu tiên”.

Theo ông Tuấn, nhà nước dự kiến ban hành danh mục khoảng 20 nhóm chip chuyên dụng ưu tiên đặt hàng, tập trung vào AI, điện toán biên, viễn thông thế hệ mới, cảm biến, IoT, điện tử công suất và bảo mật phần cứng. Đây được xem là tín hiệu thị trường quan trọng, giúp doanh nghiệp xác định sản phẩm cần đầu tư, đồng thời chia sẻ một phần rủi ro trong giai đoạn đầu. Các dự án đầu tư công, chương trình chuyển đổi số quốc gia và những dự án hạ tầng trọng điểm cũng có thể trở thành thị trường ban đầu để doanh nghiệp kiểm chứng sản phẩm và hoàn thiện công nghệ.

Ở lĩnh vực điện tử, ông Lê Song Hào đề xuất đặt sản xuất bo mạch và lắp ráp thiết bị điện tử đầu cuối ở vị trí ưu tiên tương xứng, bởi đây là những mắt xích có khả năng kéo theo nhiều ngành công nghiệp hỗ trợ. Ông cũng kiến nghị nghiên cứu thành lập quỹ phát triển điện tử Việt Nam hoặc tích hợp với quỹ hỗ trợ bán dẫn; mở rộng tín dụng ưu đãi trung và dài hạn, cho phép doanh nghiệp thế chấp máy móc, dây chuyền công nghệ cao hình thành từ vốn vay và xem xét cho vay dựa trên hợp đồng xuất khẩu hoặc các khoản phải thu.

Bên cạnh dòng vốn, việc kết nối doanh nghiệp trong nước cũng được coi là một khoảng trống cần lấp đầy. Ông Tào Đức Thắng đề xuất xây dựng “bản đồ hệ sinh thái” vật tư, linh kiện điện tử để nhận diện rõ những mắt xích còn thiếu và những sản phẩm doanh nghiệp trong nước đã có thể cung ứng.

Song song với đó, ông Nguyễn Anh Tuấn cho rằng, Việt Nam không cần theo đuổi tự chủ toàn bộ chuỗi giá trị bán dẫn, mà nên tập trung làm chủ những khâu quyết định như kiến trúc hệ thống, thiết kế, xác minh, dữ liệu kiểm thử và khả năng lựa chọn đối tác trong chuỗi cung ứng.

Ở khu vực doanh nghiệp, Qualcomm đang mở rộng các trung tâm R&D tại Việt Nam theo hướng kết hợp AI, bán dẫn, phần mềm và kỹ thuật hệ thống, đồng thời đào tạo nhân lực có khả năng thiết kế vi mạch end-to-end (quy trình toàn diện từ ý tưởng đến con chip hoàn chỉnh). Trong nước, Geleximco đang xúc tiến đầu tư nhà máy sản xuất chip tại Hưng Yên, dự kiến khởi công tháng 11/2026 và đưa sản phẩm thương mại ra thị trường vào đầu năm 2028.

Từ một nền sản xuất dựa nhiều vào gia công đến làm chủ thiết kế và sản phẩm là chặng đường dài. Nếu thiếu vốn đầu tư dài hạn, doanh nghiệp Việt sẽ khó bước sâu vào chuỗi giá trị. Khi cơ chế tài chính đủ sức chia sẻ rủi ro đầu tư, những con chip, bo mạch và thiết bị “Made in Vietnam” mới có cơ hội giữ lại nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế.

Có thể bạn quan tâm

Chi phí vốn hạ nhiệt sẽ tạo dư địa để ngân hàng giảm lãi suất cho vay. Ảnh: NGUYỆT ANH

Dư địa giảm lãi suất cuối năm

Lợi nhuận ngân hàng tiếp tục tăng, biên lãi thuần cải thiện nhưng nợ xấu vẫn nhích lên và bộ đệm dự phòng thu hẹp. Nhiều chuyên gia cho rằng, các ngân hàng đang có thêm dư địa giảm lãi suất cho vay vào cuối năm 2026, dù mức giảm sẽ khó diễn ra trên diện rộng.

Theo Thông tư 49, Nhà nước chia sẻ rủi ro, đồng thời huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu khoa học. Ảnh: NAM ANH

Cơ chế tài chính mới mở đường cho công nghệ chiến lược

Thông tư 49/2026/TT-BKHCN mở ra cách tiếp cận mới trong cơ chế tài chính cho khoa học, chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả. Cơ chế này tăng quyền tự chủ, giảm gánh nặng thủ tục và tạo dư địa đầu tư cho các công nghệ chiến lược có độ rủi ro cao.

Đối với người dân, giá cả tăng làm giảm sức mua thực tế và buộc nhiều hộ gia đình phải thắt chặt chi tiêu. Ảnh: NGUYỆT ANH

Áp lực giữ lạm phát trong giới hạn mục tiêu

Chỉ còn cách mục tiêu kiểm soát lạm phát 0,05 điểm phần trăm, Việt Nam bước vào chặng cuối năm với áp lực cân bằng giữa kiềm chế giá cả và duy trì đà tăng trưởng. Đây sẽ là phép thử đối với hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và tài khóa.

Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, người dân vẫn quen với các giao dịch bằng tiền mặt.

Ngoại lệ của tiền mặt

Cho phép doanh nghiệp trả lương bằng tiền mặt tại vùng khó khăn là một sự điều chỉnh cần thiết khi hạ tầng ngân hàng chưa theo kịp đời sống. Tuy nhiên, ngoại lệ này chỉ thật sự hợp lý nếu vừa bảo vệ được quyền lợi của người lao động, vừa giúp doanh nghiệp chứng minh chi phí hợp pháp, đồng thời không tạo thêm khoảng trống để kê khống, trốn thuế.

Cá ngừ đóng hộp và các sản phẩm đông lạnh tiêu chuẩn chịu nhiều áp lực cạnh tranh. Ảnh: NAM ANH

Xuất khẩu chật vật giữ đơn hàng

Xuất khẩu tiếp tục lập kỷ lục, nhưng doanh nghiệp đang đứng trước sức ép ngày càng lớn từ chính sách thuế mới của Mỹ. Bài toán giữ đơn hàng và duy trì sức cạnh tranh ngày càng khó khăn.

Câu chuyện nâng hạng thị trường tiếp tục là chất xúc tác trung hạn quan trọng. Ảnh: NGUYỆT ANH

Thị trường giằng co, cơ hội vẫn hiện diện

Thị trường chứng khoán đang bước vào giai đoạn giằng co khi thanh khoản suy yếu và chi phí vốn tiếp tục gây sức ép. Dù vậy, định giá hấp dẫn, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và câu chuyện nâng hạng vẫn được xem là những động lực đáng chú ý cho giai đoạn tới.

Thị trường vàng cần tiến thêm một bước từ truy vết giao dịch sang truy xuất sản phẩm.

Thị trường vàng cần sự cân bằng bền vững

Sau nhiều năm, khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới đã thu hẹp về mức dưới 5 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, chưa thể chỉ dựa vào mức chênh lệch thu hẹp để kết luận thị trường đã hoàn toàn lành mạnh. Một trạng thái thị trường cân bằng bền vững còn là vận hành sát hơn với giá trị thật và giảm bớt tác động lên các cân đối lớn của nền kinh tế.

Trong giai đoạn tuần đầu tháng 8, tỷ giá có xu hướng giảm. Ảnh: NAM ANH

Tỷ giá hạ nhiệt, áp lực USD giảm

Sau giai đoạn chịu nhiều sức ép, tỷ giá USD/VND đang hạ nhiệt nhờ nguồn cung ngoại tệ cải thiện, chênh lệch lãi suất và dư địa điều hành chính sách. Các yếu tố này được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ tỷ giá trong những tháng cuối năm.

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

Vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản, duy trì hiệu quả sinh lời thuộc nhóm dẫn đầu và liên tiếp được các tổ chức tài chính quốc tế ghi nhận, HDBank đang cho thấy bước chuyển rõ nét về chất lượng tăng trưởng. Mới đây, ngân hàng được Vietnam Report xếp hạng dẫn đầu Top 50 công ty đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50).

Thị trường cổ phiếu giúp doanh nghiệp gia tăng đệm vốn tự có và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động tài chính. Ảnh: NAM ANH

Giảm áp lực tín dụng ngân hàng

Tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt xa huy động tiền gửi đang tạo ra áp lực thanh khoản lớn cho hệ thống ngân hàng. Thực tế này buộc nền kinh tế phải chuyển dịch sang cấu trúc tài chính đa tầng, phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu và các kênh đầu tư xanh nhằm giảm tải cho tín dụng ngắn hạn và khơi thông nguồn vốn dài hạn bền vững.

Việc nâng hạng lên thị trường chứng khoán mới nổi là môi trường thuận lợi cho cả đầu tư dài hạn lẫn giao dịch ngắn hạn. Ảnh: NAM ANH

Chứng khoán đem cơ hội cho tích lũy

Diễn biến thận trọng cùng sự phân hóa sâu sắc của VN-Index thời gian qua đang phản ánh rõ tâm lý phòng thủ của giới đầu tư. Các chuyên gia nhận định thị trường chứng khoán hiện tại đã lùi về vùng định giá hấp dẫn, mở ra cơ hội đầu tư trong dài hạn.

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Người dân lựa chọn gửi tiền tiết kiệm để bảo toàn vốn khi các kênh đầu tư khác còn nhiều biến động. Ảnh: NAM ANH

Tiền gửi lập kỷ lục, lãi suất leo cao

Nghịch lý này cho thấy hệ thống đang chịu áp lực tìm kiếm nguồn vốn đúng kỳ hạn, đủ ổn định và phân bổ đúng nơi để theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Khách xếp hàng để mua bán vàng . Ảnh: NGUYỆT ANH

Cuộc đại phẫu thị trường vàng

Cơn sóng bán vàng những ngày gần đây phơi bày những điểm yếu lâu năm về thanh khoản, nguồn gốc hàng hóa và cơ chế định giá. Vẫn còn rất nhiều vấn đề trước khi đạt được đích đến, một thị trường thực sự minh bạch, liên thông và bớt méo mó.

Không gian Thế giới kim cương tại các trung tâm thương mại lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

“Vùng trũng” quản lý tài sản có giá trị

Kim cương có giá trị hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, thậm chí được xem như một kênh tích trữ, nhưng vẫn được giao dịch trong một thị trường thiếu tiêu chuẩn thống nhất, truy xuất nguồn gốc và cơ chế bảo vệ người mua.

Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH

Giữ lợi thế thu hút FDI bằng môi trường đầu tư

Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn mở ra cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.

Doanh nghiệp bất động sản đang phải cạnh tranh quyết liệt hơn để thu hút vốn. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn triệu USD đổi “khẩu vị”

Thị trường mua bán sáp nhập (M&A) bất động sản đang bước sang một chu kỳ thận trọng hơn. Nhà đầu tư yêu cầu dự án phải chứng minh được pháp lý, tiến độ, hiệu quả khai thác và dòng tiền.

Việc nâng trần lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay trung, dài hạn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Hướng đi của dòng tiền mới được “mở van”

Việc nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được đánh giá sẽ mở thêm không gian tín dụng, với hơn 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng đặt ra lo ngại về hướng đi của lượng vốn mới này.

Người trẻ mua chứng chỉ quỹ

Công ty chứng khoán (CTCK) SSI vừa công bố việc tích hợp các quỹ mở do Dragon Capital Việt Nam (DCVFM) quản lý lên hệ thống giao dịch SSI iBoard. Điều này đồng nghĩa nhà đầu tư (NĐT) có tài khoản của SSI ngoài việc theo dõi các chứng chỉ quỹ (CCQ) của SSI quản lý còn theo dõi được thêm CCQ của DCVFM.

Hàng tồn kho là một trong những nguyên nhân khiến lợi nhuận chưa thể chuyển hóa thành tiền mặt. Ảnh: NAM ANH

Dòng tiền mới là phép thử

Dù lợi nhuận vẫn hiện hữu trên báo cáo tài chính, nhưng dòng tiền kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bất động sản lại tiếp tục âm. Khoảng cách kéo dài giữa “lãi trên sổ sách” và “tiền thật” có thể biến thành áp lực thanh khoản, đặc biệt với doanh nghiệp có nợ ngắn hạn lớn.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng xanh. Ảnh: NGUYỆT ANH

Nút thắt “tiêu chí” của dòng vốn xanh

Tín dụng xanh tại Việt Nam tăng trưởng tích cực nhưng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn. Doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận do nút thắt tiêu chí về môi trường, dữ liệu và quản trị.

Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: NAM ANH

“Hòn đá tảng” của thị trường chứng khoán

Trong các báo cáo phân loại thị trường hằng năm, tình trạng hết tỷ lệ sở hữu nước ngoài (room ngoại) liên tục được một công ty tài chính đa quốc gia (MSCI - Mỹ) nhắc đến như một hạn chế lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nhà đầu tư tìm hiểu thông tin về dự án tại sàn giao dịch bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Bất động sản không còn là cuộc chơi của kỳ vọng

Sau một chu kỳ tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản đang chứng kiến sự thay đổi tâm lý của nhà đầu tư, từ kiếm lợi nhuận nhờ chênh lệch giá sang tìm kiếm dòng tiền khai thác. Sự thay đổi này bắt nguồn từ việc nhà đầu tư đã không còn tin tuyệt đối vào khả năng tăng giá liên tục của bất động sản.

Tư vấn cho khách hàng vay mua bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn đang được phân loại theo giá trị

Nếu trước đây tín dụng bất động sản chủ yếu được nhìn dưới góc độ rủi ro và cần kiểm soát chặt, thì quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) được xem là bước điều chỉnh quan trọng nhằm định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phục vụ nhu cầu thực như nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.