Bài toán nâng tầm giá trị hạt gạo

Lúa phát thải thấp giúp nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế, nhưng đồng thời cũng đặt ra bài toán lớn liên quan nguồn vốn và tổ chức canh tác nông nghiệp.

Bảy mô hình Đề án 1 triệu ha lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận năng suất đều tăng, nâng cao thu nhập cho nông dân từ 4-7,6 triệu đồng/ha. (Ảnh Lê Phương)
Bảy mô hình Đề án 1 triệu ha lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận năng suất đều tăng, nâng cao thu nhập cho nông dân từ 4-7,6 triệu đồng/ha. (Ảnh Lê Phương)

Hướng đi tất yếu

Những ngày đầu năm 2026, tại hợp tác xã Hữu Chung (xã Tân An, Hải Phòng), diễn ra lễ khởi động mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, phát thải thấp do Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI), Cục Trồng trọt và bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cùng Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng phối hợp thực hiện. Đây là mô hình thứ ba trong chuỗi ba mô hình được triển khai tại Đồng bằng sông Hồng, sau mô hình tại Hưng Yên và Thái Bình, trong khuôn khổ Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050”.

Trước đó, nhiều hợp tác xã tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cũng đã triển khai thí điểm các mô hình trồng lúa phát thải thấp nhằm thực hiện Đề án “Phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” (Đề án 1 triệu ha lúa).

Từ góc nhìn đơn vị triển khai, ông Trần Thanh Phương, Giám đốc Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Hữu Chung cho biết: Chi phí sản xuất theo phương pháp cũ rất lớn, khiến người dân không mặn mà với cây lúa. Do đó, nông dân kỳ vọng mô hình mới giúp giảm chi phí mà vẫn bảo đảm năng suất, chất lượng. “Nếu mô hình chứng minh được hiệu quả rõ ràng về kinh tế và môi trường, nông dân chắc chắn sẽ hăng hái tham gia. Bởi, điều nông dân quan tâm nhất vẫn là bài toán lợi nhuận trên từng sào ruộng”, ông Phương nói.

Ở góc độ quản lý địa phương, theo bà Lương Thị Kiểm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng: Mô hình sản xuất lúa giảm phát thải là bước cụ thể hóa mục tiêu chuyển đổi xanh của thành phố. Tuy nhiên, một trong những rào cản lớn hiện nay là tình trạng ruộng đất manh mún, nhỏ lẻ, gây khó khăn cho cơ giới hóa đồng bộ.

Để tháo gỡ, Hải Phòng đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ: Hỗ trợ tối đa 300 triệu đồng/máy cho nông dân đầu tư máy móc; hỗ trợ 5 triệu đồng/ha/năm trong 5 năm nhằm khuyến khích tích tụ ruộng đất. Đây được xem là đòn bẩy quan trọng để mở rộng quy mô sản xuất lúa giảm phát thải.

Còn GS, TS Phạm Văn Cường, Phó Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng: Trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi xanh ngành lúa gạo thông qua các mô hình sản xuất lúa phát thải thấp không chỉ xuất phát từ áp lực thị trường mà còn là cơ hội tái cơ cấu sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng, nâng tầm vị thế và xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam trên trường quốc tế.

Thực tế, những mô hình đã được triển khai thí điểm cho thấy, canh tác lúa phát thải thấp đem lại nhiều kết quả tích cực. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, bảy mô hình tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận chi phí sản xuất giảm khoảng 8,2-24,2% nhờ giảm lượng hạt giống, nước tưới, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Tiết kiệm vật tư nông nghiệp nhưng năng suất của các mô hình đều tăng, qua đó nâng cao thu nhập cho bà con nông dân từ 4-7,6 triệu đồng/ha. “Điều này là động lực quan trọng để người nông dân chủ động tham gia chuyển đổi canh tác lúa phát thải thấp”, PGS, TS Mai Quang Vinh, Viện trưởng Viện Công nghệ xanh, nhận xét.

Về hiệu quả môi trường, canh tác lúa phát thải thấp giúp cắt giảm khoảng 2-12 tấn khí thải carbon tương đương/ha, chưa kể đến hạn chế tác động tiêu cực tới hệ sinh thái nhờ giảm phân bón, thuốc trừ sâu hóa học. Qua đó, các mô hình trồng lúa phát thải thấp có thể tạo ra tín chỉ carbon, đem lại lợi nhuận bổ sung cho bà con nông dân cũng như doanh nghiệp và hợp tác xã.

Còn nhiều thách thức trong tương lai

Thực tế, việc thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa là bước đi nhằm chuyển đổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long trở thành trung tâm canh tác lúa phát thải thấp của cả nước và khu vực. Đây cũng là đề án kế thừa mô hình cánh đồng mẫu lớn, với những tinh chỉnh phù hợp với yêu cầu thời đại.

Nhưng điểm đáng lưu tâm là sau giai đoạn đầu thu hút được nhiều sự quan tâm và tham gia, mô hình cánh đồng mẫu lớn dần giảm sức hút, chỉ còn rất ít doanh nghiệp duy trì được cánh đồng liên kết để sản xuất lúa quy mô lớn. Nguyên nhân chính được cộng đồng doanh nghiệp chỉ ra đến từ nút thắt về tín dụng. Cụ thể, nông nghiệp vốn là lĩnh vực phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu, tạo ra những rủi ro khiến ngân hàng và tổ chức tín dụng lo ngại khi cho vay. Ngoài ra, với nhóm các nông hộ, hợp tác xã, hạn chế về trình độ kế toán và quản lý tài chính cũng khiến các tổ chức tín dụng thiếu công cụ đánh giá tín dụng để đưa ra quyết định cấp vốn.

Trong khi đó, muốn canh tác lúa bài bản đòi hỏi nguồn vốn dài hạn dồi dào để đầu tư công nghệ, cơ sở vật chất. Với doanh nghiệp, nguồn vốn ngắn hạn cũng cần thiết để thanh toán tiền thu mua cho nông dân, tránh việc “bán tống bán tháo” để xoay vòng vốn.

Nút thắt tín dụng “bóp nghẹt” mô hình cánh đồng mẫu lớn, nếu không được giải quyết, rất có thể cũng đe dọa đến khả năng triển khai thành công Đề án 1 triệu ha lúa cũng như chuyển đổi mô hình canh tác lúa phát thải thấp.

Bên cạnh tín dụng thông thường, các nguồn tín dụng xanh có thể góp phần giải tỏa cơn khát vốn của những cánh đồng lúa phát thải thấp. Tuy nhiên, vay vốn xanh đòi hỏi dữ liệu minh bạch, đáng tin cậy về giảm phát thải, cũng là hạn chế hiện nay của các mô hình bền vững tại Việt Nam, trong bối cảnh thiếu hụt về công cụ, đội ngũ chuyên gia cũng như các tiêu chí chuẩn hóa về kiểm kê, đo đạc phát thải khí nhà kính.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Trần Mạnh Báo, Chủ tịch ThaiBinh Seed nhìn nhận: Nhật Bản - với nền nông nghiệp công nghệ cao, hệ thống quản trị carbon tiên tiến và tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt - là đối tác chiến lược của Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang sản xuất lúa gạo phát thải thấp.

Theo ông Báo, hai bên có thể hợp tác sâu hơn trong chuyển giao công nghệ đo đếm và kiểm kê phát thải, nghiên cứu, chọn tạo giống phù hợp với mô hình canh tác ít phát thải, cũng như phát triển thị trường gạo carbon thấp. Đồng thời, ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi giá trị sẽ là nền tảng để nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của gạo Việt Nam ■

Giữa năm 2025, 500 tấn gạo phát thải thấp trong Đề án 1 triệu ha lúa chính thức được xuất khẩu sang Nhật Bản dưới tên thương hiệu Gạo Việt xanh phát thải thấp, mức giá đạt 820 USD/tấn, cao gấp đôi so với giá gạo 5% tấm của Việt Nam tại thời điểm đó. Một minh chứng cho thấy, tiềm năng thị trường của gạo phát thải thấp, khi các tiêu chuẩn bền vững đang dần trở nên bắt buộc.

Có thể bạn quan tâm

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.

Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.

“Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản hữu nghị Việt Nam – Cuba”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của mối quan hệ hữu nghị sắt son giữa hai dân tộc, cũng như những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi. 

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.