Bài toán nâng tầm giá trị hạt gạo

Lúa phát thải thấp giúp nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế, nhưng đồng thời cũng đặt ra bài toán lớn liên quan nguồn vốn và tổ chức canh tác nông nghiệp.

Bảy mô hình Đề án 1 triệu ha lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận năng suất đều tăng, nâng cao thu nhập cho nông dân từ 4-7,6 triệu đồng/ha. (Ảnh Lê Phương)
Bảy mô hình Đề án 1 triệu ha lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận năng suất đều tăng, nâng cao thu nhập cho nông dân từ 4-7,6 triệu đồng/ha. (Ảnh Lê Phương)

Hướng đi tất yếu

Những ngày đầu năm 2026, tại hợp tác xã Hữu Chung (xã Tân An, Hải Phòng), diễn ra lễ khởi động mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, phát thải thấp do Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI), Cục Trồng trọt và bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cùng Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng phối hợp thực hiện. Đây là mô hình thứ ba trong chuỗi ba mô hình được triển khai tại Đồng bằng sông Hồng, sau mô hình tại Hưng Yên và Thái Bình, trong khuôn khổ Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050”.

Trước đó, nhiều hợp tác xã tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cũng đã triển khai thí điểm các mô hình trồng lúa phát thải thấp nhằm thực hiện Đề án “Phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” (Đề án 1 triệu ha lúa).

Từ góc nhìn đơn vị triển khai, ông Trần Thanh Phương, Giám đốc Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Hữu Chung cho biết: Chi phí sản xuất theo phương pháp cũ rất lớn, khiến người dân không mặn mà với cây lúa. Do đó, nông dân kỳ vọng mô hình mới giúp giảm chi phí mà vẫn bảo đảm năng suất, chất lượng. “Nếu mô hình chứng minh được hiệu quả rõ ràng về kinh tế và môi trường, nông dân chắc chắn sẽ hăng hái tham gia. Bởi, điều nông dân quan tâm nhất vẫn là bài toán lợi nhuận trên từng sào ruộng”, ông Phương nói.

Ở góc độ quản lý địa phương, theo bà Lương Thị Kiểm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng: Mô hình sản xuất lúa giảm phát thải là bước cụ thể hóa mục tiêu chuyển đổi xanh của thành phố. Tuy nhiên, một trong những rào cản lớn hiện nay là tình trạng ruộng đất manh mún, nhỏ lẻ, gây khó khăn cho cơ giới hóa đồng bộ.

Để tháo gỡ, Hải Phòng đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ: Hỗ trợ tối đa 300 triệu đồng/máy cho nông dân đầu tư máy móc; hỗ trợ 5 triệu đồng/ha/năm trong 5 năm nhằm khuyến khích tích tụ ruộng đất. Đây được xem là đòn bẩy quan trọng để mở rộng quy mô sản xuất lúa giảm phát thải.

Còn GS, TS Phạm Văn Cường, Phó Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng: Trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi xanh ngành lúa gạo thông qua các mô hình sản xuất lúa phát thải thấp không chỉ xuất phát từ áp lực thị trường mà còn là cơ hội tái cơ cấu sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng, nâng tầm vị thế và xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam trên trường quốc tế.

Thực tế, những mô hình đã được triển khai thí điểm cho thấy, canh tác lúa phát thải thấp đem lại nhiều kết quả tích cực. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, bảy mô hình tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận chi phí sản xuất giảm khoảng 8,2-24,2% nhờ giảm lượng hạt giống, nước tưới, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Tiết kiệm vật tư nông nghiệp nhưng năng suất của các mô hình đều tăng, qua đó nâng cao thu nhập cho bà con nông dân từ 4-7,6 triệu đồng/ha. “Điều này là động lực quan trọng để người nông dân chủ động tham gia chuyển đổi canh tác lúa phát thải thấp”, PGS, TS Mai Quang Vinh, Viện trưởng Viện Công nghệ xanh, nhận xét.

Về hiệu quả môi trường, canh tác lúa phát thải thấp giúp cắt giảm khoảng 2-12 tấn khí thải carbon tương đương/ha, chưa kể đến hạn chế tác động tiêu cực tới hệ sinh thái nhờ giảm phân bón, thuốc trừ sâu hóa học. Qua đó, các mô hình trồng lúa phát thải thấp có thể tạo ra tín chỉ carbon, đem lại lợi nhuận bổ sung cho bà con nông dân cũng như doanh nghiệp và hợp tác xã.

Còn nhiều thách thức trong tương lai

Thực tế, việc thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa là bước đi nhằm chuyển đổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long trở thành trung tâm canh tác lúa phát thải thấp của cả nước và khu vực. Đây cũng là đề án kế thừa mô hình cánh đồng mẫu lớn, với những tinh chỉnh phù hợp với yêu cầu thời đại.

Nhưng điểm đáng lưu tâm là sau giai đoạn đầu thu hút được nhiều sự quan tâm và tham gia, mô hình cánh đồng mẫu lớn dần giảm sức hút, chỉ còn rất ít doanh nghiệp duy trì được cánh đồng liên kết để sản xuất lúa quy mô lớn. Nguyên nhân chính được cộng đồng doanh nghiệp chỉ ra đến từ nút thắt về tín dụng. Cụ thể, nông nghiệp vốn là lĩnh vực phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu, tạo ra những rủi ro khiến ngân hàng và tổ chức tín dụng lo ngại khi cho vay. Ngoài ra, với nhóm các nông hộ, hợp tác xã, hạn chế về trình độ kế toán và quản lý tài chính cũng khiến các tổ chức tín dụng thiếu công cụ đánh giá tín dụng để đưa ra quyết định cấp vốn.

Trong khi đó, muốn canh tác lúa bài bản đòi hỏi nguồn vốn dài hạn dồi dào để đầu tư công nghệ, cơ sở vật chất. Với doanh nghiệp, nguồn vốn ngắn hạn cũng cần thiết để thanh toán tiền thu mua cho nông dân, tránh việc “bán tống bán tháo” để xoay vòng vốn.

Nút thắt tín dụng “bóp nghẹt” mô hình cánh đồng mẫu lớn, nếu không được giải quyết, rất có thể cũng đe dọa đến khả năng triển khai thành công Đề án 1 triệu ha lúa cũng như chuyển đổi mô hình canh tác lúa phát thải thấp.

Bên cạnh tín dụng thông thường, các nguồn tín dụng xanh có thể góp phần giải tỏa cơn khát vốn của những cánh đồng lúa phát thải thấp. Tuy nhiên, vay vốn xanh đòi hỏi dữ liệu minh bạch, đáng tin cậy về giảm phát thải, cũng là hạn chế hiện nay của các mô hình bền vững tại Việt Nam, trong bối cảnh thiếu hụt về công cụ, đội ngũ chuyên gia cũng như các tiêu chí chuẩn hóa về kiểm kê, đo đạc phát thải khí nhà kính.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Trần Mạnh Báo, Chủ tịch ThaiBinh Seed nhìn nhận: Nhật Bản - với nền nông nghiệp công nghệ cao, hệ thống quản trị carbon tiên tiến và tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt - là đối tác chiến lược của Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang sản xuất lúa gạo phát thải thấp.

Theo ông Báo, hai bên có thể hợp tác sâu hơn trong chuyển giao công nghệ đo đếm và kiểm kê phát thải, nghiên cứu, chọn tạo giống phù hợp với mô hình canh tác ít phát thải, cũng như phát triển thị trường gạo carbon thấp. Đồng thời, ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi giá trị sẽ là nền tảng để nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của gạo Việt Nam ■

Giữa năm 2025, 500 tấn gạo phát thải thấp trong Đề án 1 triệu ha lúa chính thức được xuất khẩu sang Nhật Bản dưới tên thương hiệu Gạo Việt xanh phát thải thấp, mức giá đạt 820 USD/tấn, cao gấp đôi so với giá gạo 5% tấm của Việt Nam tại thời điểm đó. Một minh chứng cho thấy, tiềm năng thị trường của gạo phát thải thấp, khi các tiêu chuẩn bền vững đang dần trở nên bắt buộc.

Có thể bạn quan tâm

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.