Ấn Độ "khuấy động lòng biển, tìm thuốc trường sinh"

Được đặt mật danh "Samudra Manthana" (một sự tích trong Hindu giáo nói về việc các vị thần khuấy động đại dương tìm thuốc trường sinh), "Sứ mệnh thăm dò nước sâu quốc gia" mà Thủ tướng Narendra Modi công bố hồi tháng 8 là nỗ lực mới nhất của Ấn Độ nhằm bảo đảm tự chủ năng lượng.

Ấn Độ "khuấy động lòng biển, tìm thuốc trường sinh"

Mệnh lệnh của thời đại

Ấn Độ hiện đang phải nhập khẩu tới 80% lượng dầu thô, 50% lượng khí nén thiên nhiên (CNG) và khí hóa lỏng (LNG) để đáp ứng nhu cầu năng lượng của hơn 1,4 tỷ dân. Với dân số và tốc độ phát triển tiếp tục tăng, việc tìm kiếm các giải pháp bảo đảm nguồn cung năng lượng tự chủ và ổn định đang trở thành ưu tiên hàng đầu của quốc gia Nam Á này, đặc biệt trong bối cảnh những biến động địa chính trị phức tạp hiện nay đang tạo ra nhiều thách thức đối với bài toán an ninh năng lượng.

Theo Thủ tướng Narendra Modi, việc giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu không chỉ là một mệnh lệnh kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Sản lượng dầu khí trong nước, nếu được tăng lên đáng kể, cũng sẽ giúp bảo vệ người tiêu dùng Ấn Độ khỏi những cú sốc giá cả toàn cầu. Và, trong một nỗ lực hướng tới mục tiêu ấy, Ấn Độ đã khởi động "Sứ mệnh thăm dò nước sâu quốc gia" - sáng kiến chiến lược được Thủ tướng Narendra Modi công bố nhân Ngày Quốc khánh 15/8/2025 - nhằm khai thác trữ lượng dầu khí ở những vùng nước sâu và siêu sâu.

Mang mật danh "Samudra Manthana", sứ mệnh này sẽ tập trung vào các lưu vực như Andaman-Nicobar (nơi có khoảng 1 triệu km² mặt biển vừa được cho phép thăm dò), Vịnh Bengal và ngoài khơi phía Tây (Saurashtra, Mumbai High).

Tham vọng của Ấn Độ, theo Bộ trưởng Dầu khí Hardeep Singh Puri, là thúc đẩy nội địa hóa theo phương châm "Sản xuất tại Ấn Độ", tăng gấp đôi dự trữ dầu khí quốc gia vào năm 2032 và tăng gấp ba sản lượng hiện tại vào năm 2047. "Trữ lượng dầu khí khai thác được thông qua hoạt động thăm dò nước sâu sẽ thay đổi diện mạo đất nước", ông Puri nhấn mạnh.

"Samudra Manthana" đồng thời cũng là sự mở rộng của "Sứ mệnh Đại dương" mà New Delhi khởi động từ năm 2021 như một phần của tầm nhìn "Ấn Độ Mới vào năm 2030". Theo Bộ Khoa học Trái đất Ấn Độ, việc thăm dò biển sâu sẽ thúc đẩy đổi mới trong kỹ thuật khai thác ngoài khơi, đánh giá tài nguyên và có thể đóng góp cho "Sứ mệnh Khoáng sản quan trọng Quốc gia", một trụ cột khác của nền "kinh tế xanh" mà Ấn Độ đang hướng đến, với mục tiêu thăm dò khoáng sản tại 1.200 địa điểm trên khắp đất nước.

Theo báo điện tử The Print, "Samudra Manthana" sẽ triển khai các công nghệ tiên tiến bao gồm tàu ​​ngầm có người lái MATSYA-6000 với khả năng mang theo thủy thủ đoàn ba người xuống tới độ sâu 6.000 m, các thiết bị tự hành dưới nước và tàu lập bản đồ đại dương hiện đại. New Delhi cũng sẽ thành lập một quỹ đầu tư chuyên trách hỗ trợ hoạt động thăm dò dầu khí ở vùng nước siêu sâu, bảo đảm nguồn lực tài chính ổn định.

Tới hiện tại, Ấn Độ đã hoàn thành khảo sát địa chất 3D trên hơn 1.000 km2 ở lưu vực Kerala-Konkan, với một số lô ngoài khơi đã được dọn sạch để khoan thăm dò. Tháng 12/2024, nhóm nghiên cứu của Viện Công nghệ Đại dương Quốc gia (NIOT) đã phát hiện một lỗ thông thủy nhiệt dưới độ sâu khoảng 4.500 m ở Ấn Độ Dương. Thành tựu này cho thấy tiềm năng khoáng sản sạch (niken, coban cho pin xe điện) và là động lực to lớn thúc đẩy các nhà khoa học tiếp tục sứ mệnh.

Trong khi đó, tàu ngầm MATSYA-6000 đã trải qua quá trình thử nghiệm thành công. Các thợ lặn Ấn Độ, trong nỗ lực chuẩn bị vận hành MATSYA-6000, cũng xuống tới độ sâu 4.025 m và 5.002 m ở Đại Tây Dương vào tháng 8/2025 trên một con tàu của Pháp. Dự kiến, tàu MATSYA-6000 có thể được triển khai vào năm 2027.

Cơ hội song hành thách thức

Với "Samudra Manthana", Ấn Độ đang trên đường bắt kịp các cường quốc thăm dò nước sâu, trở thành quốc gia thứ sáu trên thế giới có sứ mệnh biển sâu riêng (sau Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và Pháp), tập trung vào Khu vực Đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa.

Dù có ý nghĩa chiến lược rất lớn và những lợi ích tiềm năng rộng mở, song thách thức đối với sứ mệnh "Samudra Manthana" cũng không kém phần nặng nề.

Hầu hết các phát hiện dầu khí lớn của Ấn Độ - chẳng hạn như KG-D6 của Reliance và KG-DWN-98/2 của ONGC - đều hiện hữu trước năm 2014. Kể từ đó, hoạt động thăm dò đã chậm lại, do tính phức tạp về địa chất và khả năng tiếp cận hạn chế. Trong khi đó, hoạt động thăm dò biển sâu rất phức tạp về mặt công nghệ, cực kỳ tốn kém (khoan nước sâu tốn gấp 5-10 lần so với khoan ở ven biển) và tiềm ẩn nhiều yếu tố nhạy cảm về môi trường, như ô nhiễm tiếng ồn, độ rung và ánh sáng; hay rò rỉ và tràn nhiên liệu cũng như các hóa chất khác được sử dụng trong quá trình khai thác. Không chỉ vậy, sau quá trình khai thác, các luồng trầm tích bùn đôi khi được bơm trở lại biển và có thể gây hại cho các loài ăn lọc như san hô và bọt biển, hoặc ảnh hưởng đến một số sinh vật khác.

Trước những lo ngại này, Chính phủ Ấn Độ nhiều lần nhấn mạnh: Các hoạt động thăm dò, đặc biệt là ở những khu vực dễ bị tổn thương như Biển Andaman, sẽ được tiến hành thận trọng để bảo vệ hệ sinh thái biển. Hiện tại, Ấn Độ cũng hợp tác với Pháp để học hỏi khía cạnh bảo vệ môi trường trong các sứ mệnh thăm dò, khai thác vùng nước sâu.

Điều quan trọng nhất, dù sẽ không chấm dứt sự phụ thuộc của Ấn Độ vào nhập khẩu ngay lập tức, nhưng sứ mệnh này của Ấn Độ có thể định hình lại quỹ đạo năng lượng của quốc gia, tạo ra sự cân bằng thực tế giữa tự lực, an ninh và bền vững, như phép ẩn dụ trong tên gọi "Samudra Manthana" ■

Nếu thực hiện tốt, "Samudra Manthana" có thể đánh dấu một bước ngoặt, vừa khai phá tiềm năng to lớn của đại dương, đồng thời khẳng định vai trò dẫn dắt của quốc gia này tại Ấn Độ Dương và tăng cường hợp tác quốc tế.

Có thể bạn quan tâm

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.

Cô giáo Quàng Thị Diên thường xuyên “lấy mình ra làm gương” tham gia mọi hoạt động với học sinh.

Cúi xuống ngang tầm mắt học sinh

Rời sân trường, điều gì thật sự ở lại trong trái tim một đứa trẻ? Đó chắc chắn không chỉ là những bài giảng từ trang sách, trong giờ học chính.

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.

Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.

“Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản hữu nghị Việt Nam – Cuba”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của mối quan hệ hữu nghị sắt son giữa hai dân tộc, cũng như những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi.