Người viết chèo nhiều nhất Việt Nam

Chắc sẽ không ai phản đối khi thời điểm này gọi tác giả Trần Đình Ngôn là "kiện tướng" trong làng chèo Việt Nam, bởi ông là người viết nhiều kịch bản dài với nhiều đề tài khác nhau và có nhiều kịch bản được dàn dựng. Mặc dù ông vẫn luôn nói rằng, phía trước mình còn cụ Hà Văn Cầu, cụ Trần Bảng, bác Hoài Giao mà ông hằng tôn kính và ngưỡng mộ, nhưng về số lượng tác phẩm và sự phong phú, sâu sắc về văn hóa dân tộc thì những người làm trong giới sân khấu phải nể phục.

Cảnh trong vở Chuông ngân rừng trúc (Nhà hát chèo Hải Dương). Ảnh:THÚY HIỀN
Cảnh trong vở Chuông ngân rừng trúc (Nhà hát chèo Hải Dương). Ảnh:THÚY HIỀN

Mất giọng, nên mới làm tác giả

- Ông đến với vai trò tác giả chèo như thế nào nhỉ?

- Mọi chuyện tưởng như tình cờ, nhưng ngẫm lại tôi thấy nó tuần tự như có sự sắp đặt. Xuất thân trong một gia đình nông dân, nhưng ông nội và bố tôi đều là nhà nho, ít nhiều các cụ cũng có vốn kiến thức về văn học cổ, nhất là thơ Đường. Còn mẹ tôi cho đến khi tạ thế vẫn là người không biết chữ, nhưng cụ lại là một kho tàng ca dao tục ngữ. Ở lứa tuổi thiếu niên, tôi lại hay đi xem Đoàn chèo Tả Ngạn diễn các vở chèo cổ, khai thác các câu chuyện dân gian.

Thời đó tôi đã mê chèo lắm, thuộc lòng một số nhân vật và cũng biết hát vài điệu. Bố tôi khi đó cũng viết một số làn điệu chèo, ở nhà cụ lại hay hát chèo nên càng làm cho mình yêu chèo hơn. Lúc bé tôi hát cũng khá hay, nhưng năm 16 tuổi, sau một trận ốm bị vỡ giọng nên bây giờ giọng mới rè rè như ống bơ.

- Cũng may vì hỏng giọng không làm được diễn viên, để giờ đây ngành chèo không mất một tác giả nổi tiếng...

- Từ một sự tình cờ, nhưng chính lại là duyên phận. Hồi học lớp 10 tôi là học sinh giỏi văn.

Khóa 1962, lần đầu tiên mới tổ chức thi học sinh giỏi văn toàn miền bắc, tôi và ông Trần Mai Hạnh được chọn đi thi. Trong thời kỳ này, tôi được đi dạy bổ túc văn hóa lớp 6 ở Trường Đảng. Cơ duyên cũng từ đây. Lúc này tôi đã làm hồ sơ để thi vào Đại học Sư phạm, khoa Văn. Ở lớp bổ túc văn hóa có ông cán bộ của Đoàn chèo Tả Ngạn đi học, thấy tôi dạy văn được thế là ông ngỏ ý xin để đào tạo thành tác giả viết chèo cho đoàn. Ông viết một bức thư dài đến tám trang rất chân thành và thuyết phục khiến tôi xuôi lòng đồng ý. Thế nhưng về đoàn nhiệm vụ của tôi vẫn lại là bổ túc văn hóa cho diễn viên của đoàn. Thời đó đoàn không có biên chế giáo viên nên cũng phải lên sân khấu đóng lính tráng, quần chúng. Nhưng chính nhờ được đóng những vai phụ ấy mà hiểu được sân khấu nhiều hơn. Sau ba tháng về đoàn tôi lại được cử đi học lớp lý luận cơ bản về sân khấu cho các tác giả bốn tỉnh miền duyên hải của Bộ Văn hóa tổ chức. Ngay những ngày đầu tiên học kiến thức cơ bản đã được học những người thầy mực thước: Sỹ Hùng, Trần Bảng, Dương Ngọc Đức, Đình Quang. Trở về đoàn, ban ngày dạy học, ban đêm làm diễn viên phụ và lại được giao công việc nhắc vở. Xem hàng trăm vở diễn nên kiến thức về chèo ngấm, năm sau, tôi đã bắt đầu tập viết, ban đầu chỉ là những bài ca lẻ gửi Đài Tiếng nói Việt Nam.

"Phu chữ" cho chèo

- Thường thì mỗi tác giả mạnh với một mảng đề tài nhưng ông có lẽ là trường hợp đặc biệt, nổi tiếng ít nhất trong năm mảng đề tài, thậm chí trái ngược nhau: đề tài văn học dân gian; lịch sử danh nhân văn hóa; đề tài hiện đại; cách mạng và lãnh tụ; đề tài dã sử, nước ngoài, chèo cổ viết lại. Ông có bí quyết gì đặc biệt không?

- Thì cũng do học tập, tích lũy nghệ thuật viết chèo. Với một tác giả, quá trình sáng tác phải đồng thời với quá trình nghiên cứu lý luận, tích lũy vốn kiến thức về văn hóa, đặc biệt là văn hóa cổ, từ phong tục tập quán đến lời ăn tiếng nói của con người qua nhiều thời kỳ. Nguyên tắc cấu trúc của một kịch bản trong các đề tài đều giống nhau, cái khác nhau chính là văn hóa.

Muốn là một tác gia sân khấu trước hết phải là một nhà văn hóa. Khi có được vốn hiểu biết tối cần thiết thì đi vào mảng đề tài nào mình cũng có thể trình bày được đời sống con người chân thực.

- Từng làm Đoàn phó Đoàn chèo Hải Dương, Trưởng Ban biên tập NXB Sân khấu, Viện trưởng Viện Sân khấu, rồi bảo vệ luận án tiến sĩ, thế mà ở công việc làm "phu chữ" cho chèo, tính đến nay ông đã viết được 105 kịch bản dài với nhiều đề tài khác nhau, dàn dựng tới 95 vở - quả là sức làm việc phi thường.

- Ông Phó Chủ tịch Hội đồng Guiness Việt Nam đã nói sẽ làm cho tôi danh hiệu Người giữ kỷ lục viết chèo nhiều nhất Việt Nam. Trong 105 kịch bản đã viết, chỉ có độ 10 kịch bản kịch nói và cải lương. Tôi cũng rất mừng khi biết được con số thống kê của Viện Sân khấu, tính từ năm 1955 - 2005 (1/2 thế kỷ), số kịch bản của tôi tham gia hội diễn thì chiếm 33% tổng số Huy chương vàng, 26% tổng số Huy chương bạc. Tôi cũng được biết, trong cuốn Chèo - nhận thức từ một phíacủa PGS Tất Thắng chọn 40 vở chèo tiêu biểu của thế kỷ 20 thì tôi có 11 vở.

- 10-15 năm trở lại đây, ở các đợt liên hoan, hội diễn sân khấu chèo chuyên nghiệp toàn quốc đã xuất hiện nhiều "slogan vỉa hè": Liên hoan chèo Trần Đình Ngôn mở rộng, Hội diễn của bố con ông Ngôn... Hẳn ông vui và tự hào về điều đó?

- Vui chứ vì những đóng góp của mình có chất lượng thì các đoàn mới chọn dựng. Từ hội diễn 1995 - 2013, cuộc nào tôi cũng là người có đóng góp số kịch bản nhiều nhất. Hội diễn mà tôi tham gia 8/17 vở anh em đã gọi là hội diễn chèo Trần Đình Ngôn mở rộng.

- Để trở thành một tác giả viết chèo nổi tiếng, ông đã phải trải qua những giai đoạn lận đận, thăng trầm, thậm chí có lúc phải đấu tranh gay gắt giữa việc giữ nghiệp và mưu sinh. Thế nhưng khán giả hôm nay không mặn mà với chèo lắm, ông có buồn về thực trạng này không?

- Nhiều người cứ có định kiến khán giả không mê chèo, thực tế không phải như thế. Nếu căn cứ vào hiện tượng vắng khách ở các rạp hát thì thấy khán giả thành thị không mê chèo lắm, nhưng khán giả nông thôn vẫn rất mê chèo, đặc biệt đi xem không mất thì tiền đến rất đông.

Khán giả của sân khấu là người trung niên, ngại ra khỏi nhà, ngại tham gia giao thông trên đường. Nhưng nếu có chương trình nhà hát truyền hình họ vẫn sẵn sàng bỏ phim để xem sân khấu truyền hình.

- Theo ông, muốn cho nghệ thuật chèo đến được với khán giả thì phải làm thế nào?

- Phải giới thiệu cái hay của chèo đến với công chúng, nhất là công chúng trẻ. Mặt khác, bản thân người sáng tạo phải làm hay hơn, muốn hay hơn thì phải làm kỹ hơn. Ngày hôm nay, nghệ sĩ chưa làm hết sức mình, đạo diễn chỉ dựng 10 - 15 ngày, diễn viên chỉ là con rối thực hiện ý đồ đạo diễn. Ngay tác giả cũng chưa làm hết mình.

- Được biết, ngoài viết kịch bản chèo, ông còn làm thơ. Liệu có thể gọi TS Trần Đình Ngôn là nhà viết kịch, nhà thơ?

- Tính đến nay cũng có khoảng 300 bài. Thơ của tôi công chúng bình dân thuộc nhiều vì mang tính đại chúng. Nhưng nói như nhà thơ Vân Long thì tôi chỉ là nhà thơ hạng hai. Mà hạng hai thì cũng là nhà thơ, nhỉ?

Có thể bạn quan tâm