Người tìm ra "nguyên tố kỳ diệu"

NDO - Khoa học và nghệ thuật, khô cứng và lãng mạn, những khái niệm cố tình được tách biệt thật ra lại là hai phương tiện quan trọng và không thể tách rời để hiểu và mô tả thế giới. Trong thế giới hiện đại, một trong những dấu gạch nối hai khái niệm ấy đang hiện hữu rõ nét mang tên John Sabraw, với các dự án của ông.
0:00 / 0:00
0:00
Người tìm ra "nguyên tố kỳ diệu"

Hai phía của dòng sông

Sunday Creek là một nhánh của sông Hocking, nằm ở đông nam bang Ohio, Mỹ. Nơi này đã từng là mỏ khai thác than. Sau khi đóng cửa, nó trở thành khu vực chịu ô nhiễm nặng nề nhất tiểu bang.

Tuy nhiên, John Sabraw, giáo sư mỹ thuật tại Trường đại học Ohio, đã phát hiện ra tiềm năng của… những chất thải độc hại này. Trong một chuyến tham quan Ohio năm 2007, John đã vô cùng ngạc nhiên khi vùng nước ở đây có những mầu sắc sặc sỡ như cam, đỏ, nâu. Nhóm các nhà bảo vệ môi trường đi cùng giải thích: Mầu nước bị thay đổi là do các oxide sắt hình thành từ mỏ khai thác bỏ hoang, tạo thành dòng chất thải mỏ (AMD). Điều thú vị: Oxide sắt cũng là nguyên liệu dùng để sản xuất mầu sơn, mầu vẽ. Từ đó, ý tưởng tận dụng nguồn chất thải gây ô nhiễm môi trường kia lóe lên! Và việc biến nước các dòng suối bị ô nhiễm bởi hơn 4.000 mỏ than bỏ hoang ở Ohio thành nước sạch cũng như chất mầu vẽ bằng đất an toàn được nảy ra như thế!

"Tất cả những bài báo, thông tin về than, nhà máy nhiệt điện than, hay rộng hơn là về điện và năng lượng tái tạo được các phương tiện truyền thông đăng tải đều cho rằng than là một nguyên liệu tệ hại, tác động xấu đến môi trường. Trong khi, bản chất đích thực của nó là một thứ đẹp đẽ. Tôi muốn tìm cách để chúng phát huy tác dụng và coi nó như một nguyên tố kỳ diệu - như bản chất vốn có", John hồi tưởng.

Mất hơn một thập niên chuẩn bị, ông cùng đồng nghiệp - Tiến sĩ Guy Riefler, Phó Giáo sư kỹ thuật môi trường và các sinh viên của họ, cuối cùng đã có thể khởi động dự án. Họ bắt đầu với việc xây dựng một hệ thống cống thoát nước dẫn AMD từ một mỏ than đã đóng cửa cách đây hơn 100 năm. Sau đó, số chất thải này sẽ được tách nước qua một chiếc máng lớn và chuyển đến khu vực nghiên cứu để làm sạch những tạp chất có thể ảnh hưởng đến chất lượng mầu sơn.

Tiếp theo, họ sấy khô chúng trong một lò sấy khổng lồ, nghiền thành bột mịn thu được mầu bột. Tùy vào sự điều chỉnh nhiệt độ mà sẽ tạo ra ba mầu khác nhau, bao gồm vàng, đỏ và tím. Cuối cùng, họ gửi số mầu bột này đến nhà máy sản xuất mầu sơn ở Portland, Oregon. Tại đây, họ thêm vào thành phần dầu hạt lanh và kẽm, chế biến để thu được thành phẩm cuối cùng. Tuy nhiên, do công nghệ thô sơ, mọi công đoạn thu gom và xử lý ban đầu đều được tiến hành bằng tay, nên rất khó có thể thu gom được hết số chất thải khổng lồ từ mỏ khai thác này.

Bởi vậy, quy trình vẫn đang trong giai đoạn tiếp tục phát triển. Sabraw và nhóm của ông đang có kế hoạch tạo ra một cơ sở thí điểm làm sạch nước và sản xuất bột mầu. Nhóm kỳ vọng: "Nếu tăng được năng suất, chúng tôi ước tính có thể tạo ra hơn một tấn bột mầu khô mỗi ngày. Và không chỉ dừng để chế biến sơn, chúng tôi sẽ còn cung cấp cho nhiều ngành sản xuất khác như làm gạch, sản xuất mầu nhuộm, phân bón hoặc dùng cho công nghiệp mỹ phẩm".

Việc bán bột mầu hy vọng sẽ bù đắp được chi phí sản xuất. Bất kỳ khoản lợi nhuận nào cũng sẽ được dùng để làm sạch những con suối bị ô nhiễm ở Ohio. Sabraw cho rằng, các cơ sở sản xuất tương tự như có thể dễ dàng được nhân rộng khắp Ohio, cũng như bất kỳ khu vực nào trên thế giới. Từ đó, cộng đồng địa phương sẽ được dạy cách quản lý các cơ sở, và tạo ra việc làm cho họ.

Người tìm ra "nguyên tố kỳ diệu" ảnh 1
John tự tham gia vào việc thu gom nước thải từ mỏ than.

Mở ra cơ hội tương tác giữa nghệ thuật, khoa học

Giống như cách ông làm việc, John lớn lên trong một môi trường tổng hòa nhiều yếu tố. Sinh ra ở Cornwall, Vương quốc Anh, John cùng gia đình chuyển đến Nam Idaho, Mỹ. Phần lớn thời thơ ấu của John được dành cho các hoạt động ngoài trời, khám phá hẻm núi và cảnh quan sa mạc, cắm trại bên cạnh những hồ nước và bắt cá hồi để nấu trên đống lửa. Thích vẽ và vẽ rất giỏi, nhưng John không theo đuổi sự nghiệp hội họa.

Ông yêu thích khoa học, nhưng không phải là các môn học ở trường. Thay vào đó, John thích bắt châu chấu, đọc sách về tìm kiếm kim loại quý và chế tạo chất nổ. Thế nhưng, chính các thí nghiệm đã khiến ông gặp rắc rối. Do đó, John được gia đình và nhà trường gửi gắm cho một giáo sư hóa học, người đã mở ra thế giới mới cho John và hơn thế nữa. Ông nhớ lại: "Bên cạnh kiến thức về các hợp chất, nguyên tố, tôi được học nhiều hơn về vũ trụ, cách nó hoạt động và vị trí của chúng ta trong đó. Và điều đó tạo nên cốt lõi của con người tôi hôm nay, không cần bàn cãi".

Có lẽ bởi vậy, John đã tạo nên sự khác biệt. Từ khoảng những năm 70 của thế kỷ trước, các nghệ sĩ như Robert Smithson đã làm nghệ thuật về suy thoái môi trường, nhưng rất ít trong số đó có sự tham gia trực tiếp của các nhà khoa học. Còn John thì ngược lại. Tất cả các bức tranh, bản vẽ và tác phẩm sắp đặt của ông đều được thực hiện theo phong cách nghệ thuật bền vững và thân thiện với môi trường. Với rất nhiều dự án đang được thực hiện, mục đích cuối cùng của John là tạo cơ hội cho công chúng tương tác với cả nghệ thuật lẫn khoa học.

Ông khẳng định: "Các nghệ sĩ và nhà khoa học có trách nhiệm to lớn là ngay bây giờ phải đưa công chúng trở lại cuộc thảo luận. Không chỉ dừng ở "Này nhìn này, bạn có thích nó không?", mà phải là "Hãy đến và làm việc này với chúng tôi, ra ngoài và xem động vật hoang dã đang làm gì, xem đường nước của bạn đang đi đâu, thăm nhà máy điện tại địa phương của bạn, hiểu khoa học để bạn biết những thứ này kết nối với bạn như thế nào với tư cách là một cá nhân. Để từ đó, đưa ra sự lựa chọn của bạn". Tất cả những cuộc thảo luận đó sẽ trở nên thú vị hơn rất nhiều khi nghệ thuật và khoa học được thực hiện cùng một lúc, và với công chúng".