Đánh giá đúng chất lượng dự án và năng lực triển khai

Khi tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp ngày càng tăng, thu hút thêm dự án không còn là mục tiêu duy nhất. Vấn đề quan trọng hơn là nâng cao chất lượng dòng vốn, sử dụng hiệu quả quỹ đất và gia tăng giá trị sản xuất. Đây là yêu cầu đặt ra để khu công nghiệp đóng góp thực chất hơn vào tăng trưởng kinh tế.

Khu kinh tế Vân Phong được hưởng nhiều chính sách đặc thù để trở thành một động lực phát triển cho tỉnh Khánh Hòa.
Khu kinh tế Vân Phong được hưởng nhiều chính sách đặc thù để trở thành một động lực phát triển cho tỉnh Khánh Hòa.

Trong nhiều năm qua, Khu kinh tế (KKT) Vân Phong cùng hệ thống khu công nghiệp (KCN) đã trở thành một trong những động lực phát triển công nghiệp của tỉnh Khánh Hòa.

Hình thành hệ sinh thái công nghiệp hiện đại

Theo số liệu thống kê, KKT Vân Phong đã thu hút 285 dự án, với tổng vốn đăng ký khoảng 246 nghìn tỷ đồng. Vốn thực hiện đạt hơn 100 nghìn tỷ đồng, tạo việc làm cho khoảng 39 nghìn lao động. Năm 2025, doanh thu sản xuất, kinh doanh đạt hơn 2,3 tỷ USD, đóng góp khoảng 16,7% tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) toàn tỉnh.

Giai đoạn 2026-2030, Khánh Hòa đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân
11-12%/năm. Công nghiệp và năng lượng được xác định là những động lực quan trọng, với trọng tâm là công nghiệp công nghệ cao, chế biến, chế tạo và năng lượng sạch.

Trong định hướng này, KKT Vân Phong được xác định là động lực phát triển kinh tế của tỉnh. Khánh Hòa đặt mục tiêu thu hút tối thiểu 450 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư đăng ký mới trong giai đoạn 2026-2030, phấn đấu đưa vốn thực hiện đạt 75% tổng vốn đăng ký mới.

Tại hội nghị xúc tiến và gặp gỡ nhà đầu tư năm 2026, ông Trần Hòa Nam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy thu hút đầu tư và nâng cao chất lượng phục vụ doanh nghiệp. Tỉnh sẽ tập trung hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; đẩy nhanh tiến độ các công trình giao thông kết nối, cảng biển, logistics, năng lượng, nhà ở và các thiết chế phục vụ người lao động.

Khánh Hòa cũng tiếp tục cải cách hành chính, chuyển đổi số và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục. Tỉnh cam kết đồng hành cùng doanh nghiệp từ khâu nghiên cứu, triển khai dự án đến khi đi vào hoạt động.

Từ tỷ lệ lấp đầy đến hiệu quả thực chất

Những định hướng trên tạo cơ sở để công nghiệp Khánh Hòa mở rộng quy mô và tăng cường liên kết với khu vực Tây Nguyên. Với lợi thế cảng biển, logistics và vị trí kết nối vùng, các KCN có điều kiện thu hút doanh nghiệp, phát triển chuỗi cung ứng và nâng cao giá trị sản xuất.

Tuy nhiên, mở rộng không gian và hoàn thiện hạ tầng mới chỉ tạo điều kiện ban đầu. Hiệu quả phát triển phụ thuộc vào khả năng đưa dự án vào hoạt động, khai thác quỹ đất và hình thành năng lực sản xuất thực chất. Vì vậy, lựa chọn nhà đầu tư cần dựa trên chất lượng dự án và khả năng triển khai, thay vì chỉ nhìn vào vốn đăng ký hoặc diện tích đất thuê.

Theo ông Phạm Văn Nam, đại diện Cổng Thông tin Khu công nghiệp Việt Nam, các KCN cần chuyển từ mô hình cung cấp hạ tầng đơn thuần sang vai trò kết nối chuỗi giá trị. Qua đó, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước có thể liên kết, chia sẻ công nghệ, đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Sự chuyển đổi này đòi hỏi cách đánh giá hiệu quả KCN phải thay đổi. Bên cạnh tỷ lệ lấp đầy, cần theo dõi tỷ lệ dự án đã đi vào sản xuất, vốn thực hiện so với vốn đăng ký, hiệu quả sử dụng đất và mức độ tuân thủ quy định môi trường. Doanh thu, giá trị sản xuất và số lao động trên mỗi đơn vị diện tích đất công nghiệp cũng là những chỉ tiêu cần xem xét, phù hợp với đặc thù từng ngành.

Cùng với đó, KCN cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, sử dụng năng lượng tái tạo và tuần hoàn tài nguyên. Hạ tầng logistics và chất lượng nguồn nhân lực cũng phải được cải thiện để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.

Theo ông Nam, đây là những yếu tố then chốt giúp KCN Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư quốc tế và tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn.