Tuy nhiên, đằng sau không khí hội hè náo nhiệt ở các trường đua là những bất công, lộng quyền và sự thiệt thòi của chủ ngựa, công chúng người Việt dưới thời thuộc địa.
Phải là nhà giàu mới chơi được ngựa thi!
Cuốn “Le Vieux Tokin” (Bắc kỳ xưa) của Claude Bourrin cho biết: Ngày 15/7/1886, những cuộc đua ngựa đầu tiên ở Bắc Kỳ đã diễn ra ở Hà Nội trong khuôn khổ các hoạt động mừng Quốc khánh Pháp.
Đáng chú ý, không chỉ giới chức Pháp mà cả báo chí và dư luận người Việt đương thời cũng sớm đặt câu hỏi: Lập trường đua để làm gì, phục vụ cho ai và nhằm mục đích nào? Trên Công luận báo ngày 25/2/1929, mục đích ấy đã được lý giải một cách thẳng thắn và đầy tính thời cuộc: “…trước là để giục lòng các nhà nuôi ngựa giống, hầu trong xứ có ngựa cao lớn, mạnh mẽ bền bỉ mà dùng, sau để thâu tiền vào cửa và tiền xâu đánh cá giúp cho các hội phước thiện. Quý hóa thay mục đích hội đua ngựa!”.
Trên thực tế, đua ngựa không phải là thú chơi dành cho số đông. Ngay từ những năm 1930, các ký giả đã chỉ rõ đây là một môn tiêu khiển tốn kém, đòi hỏi tiềm lực tài chính lớn, vượt xa khả năng của phần đông người dân. Một bài viết trên Thực nghiệp dân báo đã nói thẳng: “Phải là nhà giàu lớn mới chơi được ngựa thi”.
“Điều đó thì ngay ở xứ ta là xứ dân ít người để ý đến ngựa thi, ai cũng biết rõ rồi. Có một chuồng ngựa thi tất phải là nhà giàu lớn, tiền bạc nhiều. Nhưng ít người biết trước khi con ngựa đem ra được tại trường thi thì phải tiêu tốn những thế nào… Những người chuyên giữ việc luyện tập ngựa cũng là những nhân vật rất quan trọng trong nghề này. Người này trước hết phải biết “tâm lý” từng con ngựa một. Phải lựa mà chiều theo tính ngựa, nếu trái tính nó thì lúc ra vòng đua khó lòng mà thắng giải. Chủ ngựa lại phải có sẵn một viên thú y. Ngựa hơi xầy da, sổ mũi hay biếng ăn là ông thầy thuốc loài 4 cẳng kia phải can thiệp vào ngay. Ở bên Pháp, những người chơi ngựa rất trọng thứ ngựa giống. Một con ngựa giống 1 tuổi tuy chưa hề có thi lần nào, giá bán cũng nửa triệu quan rồi. Còn ngựa thi thường giá từ 10 vạn, 20 vạn quan trở đi” (Thực nghiệp dân báo, ngày 27/8/1933).
Song mua được ngựa mới chỉ là bước khởi đầu của một chuỗi chi phí kéo dài!
“Mua ngựa xong giao cho người ta luyện mỗi ngày tiền công này mất 50 quan… Cho ngựa dự thi, đơn dự cuộc phải nộp tiền lệ phí từ 100 đến 1.000 quan tùy theo từng giải. Mang ngựa từ chuồng ra đến vòng đua chẳng như bên ta ngựa cứ nghễu nghện kéo nhau từng đàn qua các phố đâu mà ở bên Pháp người ta đã có thứ “chuồng ô tô”, mỗi lần chở ngựa như thế tốn mất chừng 400 quan, còn jockey (nài ngựa) cưỡi ngựa mỗi lần thì cũng được chừng 200 quan… Như vậy tất phải là những nhà triệu phú mới dám có chuồng ngựa thi vậy” (Thực nghiệp dân báo, ngày 27/8/1933).
Những bất công ở trường đua ngựa
Những năm đầu thế kỷ XX, đua ngựa không chỉ là những cuộc tranh tài, mà trở thành những sự kiện xã hội thu hút đông đảo công chúng, được báo chí theo sát và tường thuật chi tiết. Mỗi kỳ đua đều được chuẩn bị công phu, từ trang hoàng trường đua đến các hoạt động bên lề, tạo nên một không khí hội hè rộn ràng.
Báo Đông Pháp ngày 9/4/1931 cho biết, hội đấu mã tổ chức “một cuộc đua ngựa đặc biệt”: “Đến ngày chủ nhật 12 này hội đấu mã sẽ tổ chức một cuộc đua ngựa đặc biệt, có đủ các ngựa nuôi ở Bắc kỳ từ 4 tuổi đến 5 tuổi dự đấu. Hội đấu mã đã lập một chương trình ngày đua ngựa ấy, trường đua có kết hoa và sửa soạn lại, hôm ấy chắc sẽ đông người đến xem. Hội đội định tổ chức một cuộc đua ngựa chạy nước kiệu, theo như những người ở Hanoi đã lâu thì cuộc đua ngựa này từ năm 1912 đến nay lại mới có. Trước khi đua ngựa lại có cuộc xổ số ngựa, người nào rút thăm trúng tên ngựa được giải nhất thì được 800p, trúng tên ngựa được giải nhì thì được 400p, trúng tên ngựa được giải ba thì được 200p, còn 200p thì chia cho những người rút thăm trúng tên ngựa chạy. Ban đêm lại có tổ chức cuộc dạ hội tại trường đấu mã” (Báo Đông Pháp, ngày 9/4/1931).
Những dịp lễ, Tết, trường đua lại càng trở nên sôi động, với các hình thức thi đấu mới lạ để tăng phần hấp dẫn cho công chúng: “Hanoi - Nhân dịp Tết, tại trường Đua ngựa “Henri de Monpezat” có mở thêm một kỳ thi ngựa vào ngày chủ nhật 11 Février 1934, tức là ngày 28 tháng chạp ta này. Kỳ thi này rất vui, vì hội đua ngựa có tổ chức một giải, gọi là giải “Nhà quê” cho chạy vào lúc 2 giờ rưỡi chiều. Giải này định cho chạy 1.200 thước… chỉ để riêng cho những ngựa nào chưa thi bao giờ và người cưỡi không được là nhà nghề đã từng chiếm giải ở các trường Đua ngựa Bắc kỳ xưa nay. Như vậy cuộc đánh đố này mới thú, vì chưa ai biết những ngựa nào đến thi” (Hà Thành ngọ báo, ngày 8/2/1934).
Bên cạnh không khí náo nhiệt và thú tiêu khiển hào nhoáng, trường đua ngựa cũng sớm bộc lộ những mặt trái. Bấy giờ, báo chí đã lên tiếng phản ánh các biểu hiện bất công, lộng quyền trong cách tổ chức và điều hành hội đua ngựa, đặc biệt là sự thua thiệt của chủ ngựa và công chúng nước ta với người Pháp. Trong bài viết “Những việc bất công và lộng quyền của hội đua ngựa: Các chủ ngựa nên lập hội để bênh vực quyền lợi cho nhau”, ký giả nhấn mạnh: “Không những chủ ngựa An Nam mà công chúng tại trường đua đều thấy những việc trái tai gai mắt, đã xảy ra thường thường. Thử hỏi chủ ngựa An Nam nhiều hơn chủ ngựa Tây gấp mấy, công chúng An Nam đông hơn công chúng Tây bao nhiêu? Không cần nói ra ai ai cũng biết hội đua ngựa nhờ đâu làm giàu. Trong ban trị sự đua ngựa chỉ có hai người An Nam có chân nghị viên thôi, còn bao nhiêu là Tây. Đối với những việc bất bình xảy ra chủ ngựa và công chúng trách sao 2 ông nghị viên An Nam mình không dám bênh vực quyền lợi cho An Nam. Trách vậy thật là quá đáng. Ta nên nghĩ rằng, hai ông nghị viên An Nam bao giờ bỏ bụng đồng bào, nhưng mà hai ông có thể nào tranh biện lại với mấy ông nghị viên Tây thắng số hơn kia. Số hội viên Tây đông thì việc gì họ muốn làm lợi cho họ thì họ làm ngay nào ai cản trở được” (Công luận báo, ngày 25/2/1929).
Những bất công diễn ra công khai ngay trong từng kỳ đua: “Tại trường đua ngựa mỗi kỳ đua đều thấy những việc hiếp bức, chủ ngựa và công chúng An Nam không biết làm gì khác hơn là la lối om xòm rồi bỏ qua. Ngựa ra trường xếp hàng, người phất cờ ra lệnh cho ngựa chạy là người Tây, vẫn đợi cho ngựa Tây chạy trước mới phất cờ, chẳng kể ngựa của An Nam xếp hàng còn lộn xộn. Làm như vậy cho ngựa An Nam bị kẹt, đường vắn không tranh đua gì kịp. Đến khi về mức ăn thua, ngựa của An Nam chạy song song với ngựa Tây hoặc ăn một cái đầu thì người giám cuộc để ngựa Tây ăn. Lại khi có xảy ra kiện thưa thì ban trị sự thường để chủ ngựa Tây hay là người trong phe đắc kiện” (Công luận báo, ngày 25/2/1929).
Đối diện với tình trạng ấy, chủ ngựa và công chúng nước ta hầu như không có con đường nào khác ngoài sự chịu đựng: “Đối với các việc bất chính đó thì chỉ có kêu nài, một người kêu nài không được thì hết thả chủ ngựa phải đồng tâm kêu nài. Nếu kêu nài với hội đua ngựa không hiệu quả gì thì kêu nài với chính phủ. Đến như chính phủ không để ý đến không làm sao vừa lòng chủ ngựa An Nam thì chỉ còn có làm cho trường đua phải đóng cửa một đôi kỳ thì thấy ngay cái sự đồng tâm của các chủ ngựa An Nam ta kết quả ra sao” (Công luận báo, ngày 26/2/1929).
Có thể thấy, trường đua ngựa thời thuộc địa hiện lên như một lát cắt sinh động của đời sống xã hội đương thời: Vừa rộn ràng, hào nhoáng, vừa ẩn chứa nhiều bất công và mâu thuẫn. Từ một hình thức giải trí du nhập từ phương Tây, đua ngựa dần trở thành không gian phản chiếu rõ nét sự chênh lệch quyền lực, tiếng nói và quyền lợi giữa người bản xứ và bộ máy tổ chức do người Pháp chi phối. Những phản ánh, kiến nghị của báo chí lúc bấy giờ đã cho thấy ý thức xã hội và khát vọng công bằng của người Việt trong một sinh hoạt tưởng như chỉ thuần túy giải trí, nhưng thực chất lại gắn chặt với những vấn đề lớn của thời cuộc.