1. Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, không gian phát triển của khu vực Nam Trung Bộ - Tây Nguyên có sự thay đổi rõ rệt theo hướng hình thành các tỉnh mang cấu trúc “biển-cao nguyên”. Đây là bước chuyển quan trọng, mở rộng không gian kinh tế, tăng cường kết nối giữa cao nguyên và biển đảo, đồng thời tạo ra các hành lang phát triển mới về giao thông, logistics, thương mại và du lịch. Những liên kết như Kon Tum - Quảng Ngãi, Gia Lai - Bình Định, Đắk Lắk - Phú Yên, Lâm Đồng-Đắk Nông-Bình Thuận mở ra cơ hội hình thành chuỗi sản phẩm mới có biển, cao nguyên, rừng và văn hóa bản địa, góp phần định hình thương hiệu du lịch vùng theo hướng xanh, bền vững và giàu bản sắc.
Ngoài ra, hạ tầng kỹ thuật du lịch của Tây Nguyên cũng được cải thiện đáng kể. Các sân bay Liên Khương, Buôn Ma Thuột, Pleiku hiện đón khoảng 4,5 - 5 triệu lượt khách mỗi năm, dự kiến đến 2030 nâng công suất lên 12-15 triệu khách. Song song, hệ thống cảng như Quy Nhơn đang được nâng cấp để đón tàu du lịch quốc tế, cùng các tuyến quốc lộ và cao tốc như Quy Nhơn - Pleiku giúp tăng khả năng kết nối Tây Nguyên với duyên hải, Đông Nam Bộ và các vùng kinh tế trọng điểm. Liên kết vùng trở thành xu hướng nổi bật từ phạm vi hẹp giữa các tỉnh trong vùng, nay đã mở rộng và tích hợp hơn, nhiều địa phương đồng thời sở hữu cả không gian biển và cao nguyên mà trước đây chưa có.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại những điểm nghẽn hạ tầng khi một số khu vực như Măng Đen, Tà Đùng, hồ Lắk hay các buôn làng du lịch cộng đồng còn phụ thuộc vào quốc lộ, tỉnh lộ nhỏ hẹp, xuống cấp, dễ bị ảnh hưởng mùa mưa. Ngoài Đà Lạt có hệ thống lưu trú và dịch vụ hoàn chỉnh, nhiều điểm đến mới vẫn thiếu cơ sở lưu trú chất lượng cao, trung tâm thông tin, biển chỉ dẫn, bãi đỗ xe và công trình xử lý môi trường. Đặc biệt, khi hình thành các tỉnh biển - cao nguyên, yêu cầu phát triển hạ tầng đòi hỏi những yếu tố khắt khe hơn.
TS Trần Du Lịch, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách và Tiền tệ quốc gia chia sẻ, phát triển hạ tầng hiện đại phải được tiếp cận như một hệ sinh thái hoàn chỉnh, đan cài chặt chẽ giữa năm nhóm cấu thành chiến lược. Trong đó có hạ tầng kết nối (đường bộ, đường sắt, hàng không, cảng biển); hạ tầng dịch vụ phụ trợ và lưu trú quy mô lớn; hạ tầng tiện ích tại các điểm đến; hạ tầng số quản lý thông minh và hạ tầng mềm sinh thái bao gồm nguồn nhân lực, cơ chế quản lý liên vùng và các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường.
2. Thực tế, mạng lưới kết cấu hạ tầng tại Tây Nguyên dù đã có nhiều chuyển biến tích cực, song vẫn đứng trước nhiều thách thức. Với đặc điểm các tỉnh đều có cấu trúc biển - cao nguyên, yêu cầu phát triển hạ tầng đã chuyển dịch mạnh mẽ từ kết nối dọc nội vùng sang các hành lang ngang đông - tây. Các tuyến giao thông chiến lược từ Quy Nhơn lên Pleiku, Tuy Hòa lên Buôn Ma Thuột, Quảng Ngãi lên Măng Đen hay Phan Thiết - Gia Nghĩa - Đà Lạt là những trục động lực phát triển trọng điểm, kết nối miền trung - Tây Nguyên với Đông Nam Bộ, cũng như mở rộng ra cửa ngõ nam Lào và đông bắc Campuchia.
Hiện nay, đơn cử như tỉnh Gia Lai đang dồn lực tháo gỡ các điểm nghẽn giao thông trọng điểm trên cả ba tuyến đường bộ, đường thủy và đường hàng không. Tuyến cao tốc Quy Nhơn - Pleiku được kỳ vọng sẽ rút ngắn thời gian di chuyển xuống còn hơn hai giờ đồng hồ. Ở đường thủy, việc kết nối không gian đại ngàn với cửa ngõ Cảng Quy Nhơn mở ra hướng khai thác dòng khách du lịch tàu biển quốc tế thông qua các chương trình trải nghiệm đặc trưng 4 - 8 giờ. Trên hành lang hàng không, hai cảng hàng không Phù Cát và Pleiku duy trì tần suất cao, cùng việc dồn sức hoàn thiện dự án Đường cất hạ cánh số 2 tại Cảng hàng không Phù Cát để sẵn sàng đón các dòng máy bay thân rộng và đường bay quốc tế cũng đang được triển khai.
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai Đỗ Thị Diệu Hạnh cho biết, tỉnh đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành và hãng hàng không như Bamboo Airways nhằm sớm khai thác các chuyến bay charter quốc tế. Dự kiến trong tháng 9 này các chuyến charter từ Hàn Quốc sẽ được khai thác, tiếp đó là Trung Quốc, Nhật Bản và khu vực Đông Bắc Á.