Văn hóa đối ngoại giàu bản sắc
- Thưa ông, có một quan ngại lâu nay là trong rất nhiều hoạt động văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, chúng ta có vẻ không tránh được sự trùng lặp cả về hình thức lẫn cách thức thực hiện. Từ nghệ thuật biểu diễn đến trang phục cứ quanh quẩn với nón lá, áo dài, ẩm thực, múa rối nước, dàn nhạc dân tộc... Ông có bình luận gì về điều này?
- Đó là những hình ảnh bề nổi và cách nhìn đó phần nào phiến diện. Trong quan điểm văn hóa đối ngoại, chúng ta phải đưa ra thế giới những gì là thế mạnh của chúng ta, là nhận diện của văn hóa, nghệ thuật Việt Nam khác biệt hoặc có nét độc đáo so với nước khác, nền văn hóa khác. Trong nước, có thể rất ít người Việt hào hứng với múa rối nước. Nhưng vừa qua trong chuyến công tác chuẩn bị cho Ngày văn hóa Việt Nam ở Nhật Bản, phía bạn đề nghị chúng tôi tiếp tục đưa rối nước sang biểu diễn, đơn giản vì người Nhật thích thú vô cùng với sự lạ lẫm và bí ẩn của loại hình nghệ thuật này.
Trong rất nhiều chương trình văn hóa đối ngoại hằng năm, thông qua các sự kiện chính như ngày văn hóa, tuần văn hóa, năm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, có nhiều hoạt động đã được tìm tòi, đổi mới về cách thức thể hiện. Vẫn là dàn nhạc dân tộc với những nhạc cụ độc đáo ấy nhưng tác phẩm biểu diễn và cách trình diễn đã mang tinh thần mới mẻ, hiện đại. Đơn cử, gần đây nhất, trong chương trình khai mạc Năm Việt Nam tại Pháp, tiết mục biểu diễn đàn bầu do nghệ sĩ Hồ Hoài Anh trình bày đã khiến cả 2.000 khán giả chật khán phòng đứng dậy vỗ tay, có người nói chưa bao giờ được thưởng thức những giai điệu Việt Nam với cảm xúc ấy... Những hội thảo chuyên sâu của các chuyên gia, học giả về văn hóa, những triển lãm mỹ thuật... ngày càng được quan tâm hơn.
- Nhưng thưa ông, đời sống nghệ thuật của Việt Nam lâu nay cũng đã xuất hiện nhiều hình thức mới, thể hiện được hình ảnh của Việt Nam hôm nay. Những lĩnh vực này đã có khi nào được đề cập đến trong kế hoạch văn hóa đối ngoại của đất nước?
- Phải khẳng định là chúng ta vẫn đưa nghệ thuật đương đại, như một số tác phẩm mỹ thuật chẳng hạn, đi quảng bá tại nước ngoài. Nhưng khi nói văn hóa đối ngoại thì phải thẳng thắn với nhau là những hình thức ấy đã có thể đại diện cho bức tranh văn hóa nghệ thuật mang tính dân tộc hay chưa? Bên cạnhđó, ta du nhập các hình thức nghệ thuật ấy từ bên ngoài nhưng sáng tạo còn chưa thật sự nhuần nhuyễn, đâu đó vẫn bị bắt chước, ảnh hưởng bên ngoài nặng nề... nên chưa chắc có lợi cho việc đại diện văn hóa dân tộc. Ta mang cái ta học hỏi, thậm chí là cái ta bắt chước họ đến cho họ xem ư? Các loại hình nghệ thuật đương đại có sân chơi riêng và lâu dài còn cần thời gian để các nghệ sĩ tìm tòi, kết hợp, phát triển và đến lúc tác phẩm của họ đại diện đầy đủ, độc đáo cho bản sắc riêng của văn hóa Việt Nam.
Tiết mục của Nhà hát Tuổi trẻ trình diễn trong Lễ hội Việt Nam tại Tô-ky-ô (Nhật Bản).
Đối nội tốt thì đối ngoại mới mạnh
- Chúng ta tự hào có một nền văn hóa đa dạng, độc đáo và giàu bản sắc, nhưng các hoạt động văn hóa đối ngoại dường như vẫn dừng ở mục tiêu giao lưu là chính, thưa ông?
- Hoạt động văn hóa đối ngoại đang gặp rất nhiều khó khăn. Thứ nhấtlà thiếu tính đồng bộ trong kết hợp giữa các bộ, ngành. Thí dụ: trong phim truyền hình Hàn Quốc, hầu hết các vật dụng như xe hơi, điện thoại, thời trang, mỹ phẩm... đều do các hãng kinh doanh của nước họ tài trợ. Khi phim được xuất khẩu, đó là một cách làm quảng cáo vô cùng hiệu quả. Đó là kết quả từ sự kết hợp đồng bộ giữa các ngành, lĩnh vực trong tầm nhìn chung của họ về phát triển văn hóa như một đòn bẩy kinh tế. Còn ta, khoan nói đến chất lượng phim, ta có hãng sản xuất nội địa nào muốn xây dựng hình ảnh của mình qua phim để quảng cáo trong nước thôi đã?
Thứ hai là những ràng buộc về cơ chế chính sách. Thí dụ, có khi chúng tôi muốn mời một số cá nhân tài năng ở địa phương hoặc nghệ sĩ tự do tham gia chương trình văn hóa đối ngoại của nhà nước, nhưng chiểu theo Luật Ngân sách, chúng tôi lại phải hợp thức hóa việc chi phí mời họ bằng những hình thức giấy tờ phức tạp, gây tâm lý không thoải mái cho tất cả các bên tham gia. Bên cạnh đó, khi tình hình kinh tế chung khó khăn, ngân sách dành cho công tác này liên tục bị cắt giảm, như năm nay là cắt tới 30%.
Thứ ba là nguồn lực của chúng ta chưa đủ mạnh, bao gồm cả nhân lực thực hiện chiến lược này cũng như chính nguồn lực văn hóa trong nước...
- Có lẽ đây mới chính là khó khăn của mọi khó khăn?
- Tôi không khẳng định như vậy! Nhưng đối nội có tốt thì đối ngoại mới mạnh. Chị từng đề cập việc giới thiệu các hình thức nghệ thuật mới của ta với thế giới. Ta cùng xem: về nhạc nhẹ, có thể tiến cử ai? Về điện ảnh, truyền hình, ta có thể có một danh sách tác giả, tác phẩm xứng tầm dài đến đâu để lựa chọn? Ngay với nghệ thuật truyền thống, ta phải chọn mang đi cái gì? Trong nhiều khuôn khổ eo hẹp của một chương trình biểu diễn trước khán giả nước ngoài với nền văn hóa, ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt, khó có thể hiểu và cảm được nội dung cả một vở chèo hoặc tuồng...
Quan trọng hơn, chúng ta phải thừa nhận là ngay trong nước, văn hóa nghệ thuật còn đang yếm thế với chính công chúng của mình thì rõ ràng rất khó khăn để phát triển văn hóa đối ngoại. Xin nói thêm, văn hóa đối ngoại không chỉ là đưa văn hóa của mình ra nước ngoài mà còn đưa văn hóa đến với người nước ngoài ở trong nước mình, như giới thiệu văn hóa Việt với hàng triệu khách du lịch đến Việt Nam hằng năm chẳng hạn.
- Vậy theo ông, ta có thể học tập xây dựng mô hình một ủy ban phát triển hình ảnh quốc gia, như một đầu mối quy tụ và phát huy mọi nguồn lực cho chiến lược văn hóa đối ngoại mạnh mẽ, như cách mà Hàn Quốc đã làm thành công?
- Tôi nghĩ, thêm một cơ quan mới là thêm gánh nặng cho ngân sách. Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, chỉ nên nâng cấp cơ quan đang thực thi công việc này mà thôi. Đồng thời có những điều chỉnh chính sách, cơ chế để thích ứng với quan điểm tất cả vì mục tiêu chung. Tôi hy vọng sẽ không mất quá nhiều thời gian để đất nước ta có một đời sống văn hóa nghệ thuật thật sự phát triển, văn minh, tạo thế cân bằng cho chiến lược phát triển văn hóa đối ngoại.
- Xin chân thành cảm ơn ông!