Vai trò của đảng bộ, đảng viên tiên phong làm chủ công nghệ chiến lược

Ngày 6/8/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký ban hành Quyết định số 1493/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.

Bộ Công thương đã hoạch định bốn nhóm nhiệm vụ trọng tâm có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau. Ảnh: Mai Huyên
Bộ Công thương đã hoạch định bốn nhóm nhiệm vụ trọng tâm có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau. Ảnh: Mai Huyên

Đây được xem là bước cụ thể hóa quyết liệt nhằm đưa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đi vào thực tiễn. Trong toàn bộ định hướng và giải pháp thực hiện, vai trò của cộng đồng doanh nghiệp được xác định là hạt nhân, đóng vai trò quyết định để đưa các công nghệ lõi từ phòng thí nghiệm ra thị trường toàn cầu.

Đặt doanh nghiệp ở vị trí trung tâm của hệ sinh thái

Chương trình đặt mục tiêu tổng quát là làm chủ, phát triển, hoàn thiện và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ chiến lược có năng lực cạnh tranh cao, từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, việc hình thành một hệ sinh thái công nghệ chiến lược dựa trên sự liên kết chặt chẽ giữa “ba nhà”: Nhà nước-Doanh nghiệp-Tổ chức khoa học và công nghệ được coi là yếu tố then chốt, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò chủ thể ứng dụng và thương mại hóa.

Nhằm đặt nền móng vững chắc cho sự bứt phá của nền kinh tế trong kỷ nguyên mới, chương trình đã phác thảo một lộ trình bài bản với những cột mốc cụ thể, hướng tới hình thành lực lượng doanh nghiệp công nghệ chiến lược đóng vai trò "đầu tàu" dẫn dắt. Theo đó, trọng tâm giai đoạn 2026-2030 tập trung nuôi dưỡng và phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp đủ năng lực làm chủ các công nghệ lõi và sản phẩm chiến lược thông qua việc trực tiếp gánh vác các nhiệm vụ quốc gia. Trong số đó, ít nhất 5 doanh nghiệp sẽ là những "cánh chim đầu đàn" đưa sản phẩm Việt hiện diện trên bản đồ giá trị toàn cầu, đồng thời nâng tỷ lệ nội địa hóa của các sản phẩm thương mại đạt mức khoảng 40%. Đối với tầm nhìn giai đoạn 2031-2035 sẽ tiếp tục mở rộng quy mô, hướng đến mục tiêu hình thành ít nhất 30 doanh nghiệp tự chủ hoàn toàn về công nghệ và sản phẩm. Đây sẽ là chặng đường chứng kiến sự trưởng thành vượt bậc khi có tối thiểu 10 doanh nghiệp tự tin vươn tầm thế giới, chủ động tham gia và khẳng định vị thế trong các chuỗi giá trị toàn cầu.

Để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua "thung lũng chết" trong quá trình thương mại hóa sản phẩm công nghệ cao, Chương trình đề ra nhóm nhiệm vụ, giải pháp quyết liệt về thị trường và đầu ra. Theo đó, Nhà nước thúc đẩy các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập và các doanh nghiệp ưu tiên đặt hàng, mua sắm, thuê và sử dụng các sản phẩm công nghệ chiến lược được phát triển trong khuôn khổ chương trình.

Song song với các chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại và kết nối cung cầu, Chương trình đặc biệt chú trọng cơ chế kết nối ngay từ khâu thiết kế nhiệm vụ. Việc khuyến khích xác định ngay doanh nghiệp tiếp nhận, thử nghiệm hoặc thương mại hóa từ giai đoạn đăng ký đề tài sẽ giúp các nghiên cứu bám sát nhu cầu thực tiễn, tránh tình trạng "nghiên cứu cất tủ".

Một điểm nhấn quan trọng khác trong Quyết định 1493/QĐ-TTg là mô hình lan tỏa công nghệ. Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ chiến lược - đặc biệt là các doanh nghiệp đầu chuỗi - chủ động hợp tác với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các viện nghiên cứu và trường đại học. Mối quan hệ hợp tác này bao trùm từ nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm cho đến hoàn thiện và chuyển giao, từ đó hình thành các chuỗi liên kết sản xuất công nghệ chiến lược mang thương hiệu Việt.

2khcn1786084925916-2144425532258970042-5403002401184974723-8a3fadb85448af2d70ab44eec081543d.jpg
Mô hình liên kết "Ba nhà" (Nhà nước-Doanh nghiệp-Viện/Trường) giúp gắn kết nghiên cứu khoa học với nhu cầu thực tiễn của thị trường. (Ảnh Đỗ Bảo-Mai Huyên)

Cùng với đó, doanh nghiệp cũng sẽ là môi trường thực tiễn quan trọng để đào tạo nhân lực. Chương trình khuyến khích sự phối hợp ba bên giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời thu hút các Tổng công trình sư, chuyên gia và nhà khoa học xuất sắc tham gia trực tiếp vào các dự án trọng điểm.

Quyết định số 1493/QĐ-TTg không chỉ khẳng định quyết tâm của Chính phủ trong việc nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, mà còn mở ra cơ hội lớn, trao sứ mệnh lịch sử cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trên con đường làm chủ các công nghệ chiến lược của tương lai.

Hạt nhân lãnh đạo từ đảng bộ và vai trò tiên phong của mỗi đảng viên

Tuy nhiên, để những mục tiêu lớn của Quyết định 1493/QĐ-TTg và định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW thực sự đơm hoa kết trái tại từng cơ sở, yếu tố quyết định trước hết nằm ở năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng tại mỗi doanh nghiệp.

Thực tiễn cho thấy, đảng bộ trong doanh nghiệp chính là "bánh lái" định hướng chính trị và là chỗ dựa vững chắc cho mọi bước đi đột phá về công nghệ. Thông qua việc ban hành các nghị quyết chuyên đề, Đảng bộ trực tiếp cụ thể hóa các mục tiêu khoa học và công nghệ quốc gia thành nhiệm vụ sản xuất-kinh doanh trọng tâm; đồng thời xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát để nguồn lực nghiên cứu-phát triển (R&D) được sử dụng đúng hướng, hiệu quả và minh bạch. Trong bối cảnh việc nghiên cứu công nghệ lõi luôn đối mặt với rủi ro và áp lực lớn, chính sự đồng hành và bản lĩnh chính trị của cấp ủy sẽ truyền nguồn năng lượng "dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm" cho Ban điều hành và toàn thể cán bộ, công nhân viên.

Song hành cùng vai trò kiến tạo của tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên tại doanh nghiệp chính là những "mũi nhọn tiên phong" trực tiếp hiện thực hóa khát vọng công nghệ. Dù ở vị trí nhà quản lý, kỹ sư nghiên cứu hay công nhân vận hành, người đảng viên luôn phải tiên phong trong việc làm chủ tri thức mới, chủ động nhận lãnh những khâu khó, việc mới trong chuỗi nghiên cứu-phát triển và thương mại hóa sản phẩm. Bằng tinh thần trách nhiệm, tư duy sáng tạo và sự gương mẫu trong phong trào lao động, mỗi đảng viên không chỉ khẳng định vai trò nòng cốt chuyên môn mà còn lan tỏa ngọn lửa đổi mới sáng tạo, kết nối đồng nghiệp và phát huy sức mạnh tập thể.

Có thể khẳng định, Quyết định số 1493/QĐ-TTg không chỉ mở ra cơ hội lớn cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trên con đường làm chủ công nghệ chiến lược, mà còn đặt lên vai đảng bộ và từng đảng viên tại doanh nghiệp một sứ mệnh lịch sử: làm hạt nhân quy tụ, dẫn dắt và biến các chủ trương lớn của Đảng, Chính phủ thành những sản phẩm công nghệ cụ thể, đóng góp thiết thực cho sự tự chủ và vươn tầm của nền kinh tế quốc gia.

Bài học quốc tế: Trung Quốc - Từ “công xưởng thế giới” đến cường quốc công nghệ cao

Qua hơn 40 năm cải cách, mở cửa, Trung Quốc đã chuyển dịch mạnh mẽ từ nền kinh tế thâm dụng lao động sang mô hình phát triển dựa trên khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Giai đoạn đầu công nghiệp hóa, Trung Quốc khẳng định vị thế “công xưởng của thế giới” nhờ nguồn lao động giá rẻ và quy mô sản xuất lớn. Tuy nhiên, từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, mô hình này dần bộc lộ hạn chế khi chi phí lao động tăng cao, cạnh tranh quốc tế gay gắt và phụ thuộc lớn vào thị trường bên ngoài. Nhằm nâng cao vị thế trong trật tự kinh tế toàn cầu, Bắc Kinh đã chủ động chuyển trọng tâm sang công nghệ cao, tự chủ công nghệ và xem đây là chiến lược phát triển mang tính sống còn.

Theo đó, tiến trình chuyển đổi mang tính bước ngoặt này được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua hàng loạt chiến lược quốc gia tầm cỡ. Trước hết, phải kể đến chiến lược “Made in China 2025” ban hành năm 2015, đánh dấu bước ngoặt đưa Trung Quốc từ “cường quốc sản xuất số lượng lớn” thành “cường quốc sản xuất công nghệ cao”, tập trung vào 10 ngành then chốt như robot, hàng không vũ trụ, công nghệ thông tin tiên tiến, xe năng lượng mới và sinh học. Song song với đó, chương trình “Internet Plus” tiếp tục tạo động lực bằng việc tích hợp internet, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) vào toàn bộ nền kinh tế nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số quốc gia. Không dừng lại ở đó, sáng kiến “China Standards 2035” được triển khai như một bước đi chiến lược tiếp theo, thể hiện rõ tham vọng không chỉ tham gia mà còn tiến tới định hình các tiêu chuẩn công nghệ toàn cầu trong kỷ nguyên số.

Trên nền tảng đó, Trung Quốc tập trung xây dựng chuẩn mực cho các công nghệ tương lai như IoT, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, 5G và AI - những mắt xích cốt lõi của hạ tầng chiến lược toàn cầu. Nhờ vậy, quốc gia này đã gặt hái nhiều thành tựu then chốt: hạ tầng số được nội địa hóa hoàn toàn; tỷ lệ tự chủ ngành bán dẫn tăng vượt bậc từ gần 0% lên 40% vào đầu năm 2025 (Global Times). Thực tiễn này khẳng định bước ngoặt trong tư duy phát triển của Bắc Kinh: từ “sản xuất để tăng trưởng” sang “làm chủ công nghệ để dẫn dắt”.

Tuy nhiên, sự bứt phá của các tập đoàn công nghệ không đến tự nhiên mà gắn liền với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo do Nhà nước định hướng và kiến tạo. Cụ thể, việc kết nối chặt chẽ giữa Nhà nước, viện-trường, quỹ đầu tư mạo hiểm và cộng đồng khởi nghiệp đã biến Thâm Quyến, Hàng Châu hay Bắc Kinh thành những “cực tăng trưởng” nòng cốt. Sự đầu tư bài bản cho nghiên cứu công nghệ lõi cùng nguồn nhân lực chất lượng cao chính là bệ phóng giúp Trung Quốc làm chủ cuộc chơi công nghệ toàn cầu.

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Nhìn từ kinh nghiệm của các nền kinh tế hàng đầu khu vực như Trung Quốc hay Hàn Quốc, có thể thấy hành trình vươn lên thành cường quốc công nghệ chưa bao giờ là kết quả của sự may mắn hay các quy luật thị trường tự phát. Soi chiếu thực tiễn đó vào bối cảnh nước ta đang tích cực triển khai Quyết định số 1493/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhiều bài học lý luận và thực tiễn sâu sắc đã được gợi mở, đòi hỏi một sự chuyển mình mạnh mẽ trong tư duy chỉ đạo lẫn tổ chức thực hiện.

Trước hết, cần đề cao vai trò kiến tạo của Nhà nước để định hình tầm nhìn chiến lược dài hạn. Công nghiệp công nghệ cao và các ngành công nghệ chiến lược vốn mang đặc thù rủi ro lớn, chi phí đầu tư khổng lồ và thời gian thu hồi vốn kéo dài. Nếu chỉ dựa vào sự vận hành đơn thuần của cơ chế thị trường, nền kinh tế rất dễ rơi vào bẫy gia công với giá trị gia tăng thấp. Do đó, Nhà nước buộc phải đóng vai trò mở đường và dẫn dắt thông qua một chính sách công nghiệp chiến lược đủ tầm: lựa chọn đúng các lĩnh vực ưu tiên, dám dấn thân vào những "vùng đất khó" của công nghệ lõi, kết hợp với các cơ chế hỗ trợ đột phá cho lực lượng doanh nghiệp mũi nhọn. Đó chính là chìa khóa then chốt để xây dựng tính tự chủ và năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Song song với đó, phải coi đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và giáo dục-đào tạo là đầu tư cho tương lai quốc gia. Không một quốc gia nào có thể làm chủ công nghệ nếu thiếu đi đội ngũ nhân lực chất lượng cao và năng lực R&D độc lập. Bài học quốc tế cho thấy, tỷ lệ chi cho R&D trên GDP không đơn thuần là một chỉ số kinh tế, mà còn là thước đo quyết tâm chính trị và tầm nhìn phát triển của cả một dân tộc. Để bứt phá trong kỷ nguyên mới, Việt Nam cần tập trung nguồn lực nuôi dưỡng nhân tài, đổi mới căn bản chương trình đào tạo kỹ thuật-công nghệ; đồng thời tạo cơ chế vượt trội nhằm thu hút các chuyên gia, Tổng công trình sư hàng đầu trực tiếp tham gia giải quyết những bài toán lớn của đất nước.

5khoa-hoc-cn1786085328726-2144425532258970042-5403002401184974723-dbef1b6dcd160a6205cda86be18736b4.jpg
Đầu tư mạnh mẽ cho hạ tầng R&D và ươm mầm nhân tài công nghệ là con đường cốt lõi để hiện thực hóa khát vọng tự cường dân tộc. (Ảnh Mai Huyên-Hải Linh)

Mặt khác, việc vận hành hiệu quả mô hình liên kết "Ba nhà" là điều kiện tiên quyết để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ. Sức mạnh của một nền công nghệ không nằm ở các "ốc đảo" nghiên cứu riêng lẻ, mà ở sự kết nối hữu cơ trong một hệ sinh thái hoàn chỉnh. Mối liên kết giữa "Nhà nước-Doanh nghiệp-Viện/Trường" phải được nâng tầm thành quan hệ đối tác chiến lược sinh tử: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, chủ động đặt hàng và bảo đảm thị trường đầu ra; các Viện, Trường là "máy đẻ" sinh ra tri thức và nguồn nhân lực trình độ cao; và đặc biệt, Doanh nghiệp được đặt ở vị trí trung tâm, đóng vai trò hạt nhân thương mại hóa để đưa các sản phẩm công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường toàn cầu.

Tuy nhiên, để những định hướng chiến lược ấy thực sự trở thành nguồn sức mạnh nội sinh tại mỗi đơn vị, vai trò hạt nhân lãnh đạo của đảng bộ và tính tiên phong của từng đảng viên giữ vị trí quyết định.

Thực tiễn đã chứng minh, chính sự lãnh đạo sát sao, bản lĩnh của các cấp ủy Đảng tại doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học sẽ là "kim chỉ nam" biến các mục tiêu của Quyết định 1493/QĐ-TTg thành chương trình hành động cụ thể, sát với thực tiễn sản xuất-kinh doanh. Đảng bộ phải là chỗ dựa chính trị vững chắc, lan tỏa tinh thần "dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm", tiếp thêm tự tin cho doanh nghiệp dấn thân vào các khâu R&D rủi ro cao. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên trên từng vị trí công tác - từ nhà quản lý, kỹ sư nghiên cứu đến người thợ trên dây chuyền - phải thực sự là những hạt nhân đi đầu về tư duy đổi mới, nỗ lực làm chủ tri thức và truyền cảm hứng sáng tạo cho toàn thể người lao động.

Bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Cục trưởng Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công thương) cho biết: trên tinh thần Nghị quyết số 57/NQ-TW của Bộ Chính trị, Quyết định số 1493/QĐ-TTg cùng các chủ trương xuyên suốt của Chính phủ, Bộ Công thương đã chủ động xây dựng Chương trình hỗ trợ thúc đẩy sản xuất thông minh và chuyển đổi số trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại. Chương trình xác định sản xuất thông minh là "mắt xích" trung tâm kết nối chuyển đổi số với chuyển đổi xanh, tạo động lực giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.

Nêu rõ mối quan hệ tương hỗ này, bà Nguyễn Thị Lâm Giang phân tích: Công nghệ số chính là công cụ đắc lực giúp doanh nghiệp đo lường, kiểm soát phát thải và tối ưu hóa nguồn nguyên nhiên liệu. Ngược lại, các tiêu chuẩn của chuyển đổi xanh sẽ đặt ra những bài toán thực tiễn, định hình chỉ số cụ thể để dẫn dắt, định hướng quá trình chuyển đổi số đi đúng lộ trình.

Nhằm hiện thực hóa các định hướng chiến lược trên, Bộ Công thương đang từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách đồng bộ, kết nối chặt chẽ giữa ứng phó biến đổi khí hậu, kinh tế tuần hoàn với chuyển đổi số. Trong đó, Kế hoạch chuyển đổi số của Bộ Công thương giai đoạn 2026-2030 (theo Quyết định số 405/QĐ-BCT) và Chương trình hỗ trợ thúc đẩy sản xuất thông minh, chuyển đổi số trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại đến năm 2035 (Chương trình 2708) được xem là hai trụ cột chính sách cốt lõi, hiện thực hóa các mục tiêu vĩ mô vào đời sống sản xuất của doanh nghiệp.

Bước sang giai đoạn mới, Chương trình 2708 được triển khai trên quan điểm xuyên suốt: Lấy doanh nghiệp làm trung tâm, gắn kết chuỗi giá trị giữa chuyển đổi số-chuyển đổi xanh, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức hỗ trợ nhằm hình thành hệ sinh thái sản xuất thông minh vững chắc.

Thực hiện lộ trình đến năm 2030, Chương trình tập trung xây dựng nền tảng hạ tầng kỹ thuật thông qua việc hoàn thiện bộ chỉ số đánh giá mức độ sẵn sàng, hệ thống tiêu chuẩn, khung kiến trúc nhà máy thông minh và phát triển lực lượng chuyên gia tư vấn. Đáng chú ý, Chương trình đặt mục tiêu đào tạo cho ít nhất 1.000 lượt doanh nghiệp, đánh giá mức độ sẵn sàng cho 500 đơn vị và hỗ trợ tối thiểu 200 doanh nghiệp áp dụng thành công các giải pháp sản xuất thông minh. Tầm nhìn đến năm 2035, quy mô sẽ tiếp tục mở rộng với 5.000 lượt doanh nghiệp được đào tạo và 500 doanh nghiệp được hỗ trợ triển khai thực tế.

Để tháo gỡ điểm nghẽn và đưa Chương trình 2708 đi vào chiều sâu, Bộ Công thương đã hoạch định bốn nhóm nhiệm vụ trọng tâm có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau.

Trước hết, nền tảng pháp lý phải được đặt lên hàng đầu thông qua việc hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn, quy chuẩn và kiến trúc tham chiếu cho sản xuất thông minh, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho doanh nghiệp vươn lên. Song song với khung khổ ấy, yếu tố con người được đặc biệt coi trọng qua nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực và văn hóa số, trong đó tập trung nâng cao tư duy chiến lược cho đội ngũ lãnh đạo và rèn giũa kỹ năng nghề nghiệp thực tế cho người lao động.

Để các giải pháp kỹ thuật có "đất" bén rễ, việc phát triển hệ sinh thái và mở rộng hợp tác quốc tế đóng vai trò là cầu nối quan trọng nhằm thúc đẩy mạnh mẽ kết nối cung-cầu công nghệ giữa các bên. Và để hiện thực hóa toàn bộ quá trình đó, nhiệm vụ cốt lõi cuối cùng chính là phát triển hạ tầng số, dữ liệu số cùng các nền tảng công nghệ, trực tiếp phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thông minh của doanh nghiệp.

Trong mô hình này, Bộ Công thương giữ vai trò đầu mối điều phối, huy động đa dạng các nguồn lực từ ngân sách, hợp tác quốc tế và xã hội hóa. Các hiệp hội ngành hàng đóng vai trò cầu nối, còn bản thân doanh nghiệp vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là chủ thể chủ động triển khai, đánh giá và nhân rộng các mô hình hiệu quả. Khép lại tham luận, đại diện Bộ Công thương nhấn mạnh: Chính sách chỉ thực sự phát huy tác dụng khi được chuyển hóa thành năng lực thực tiễn của doanh nghiệp trên cùng một nền tảng dữ liệu thống nhất.

Việc triển khai Quyết định 1493/QĐ-TTg không chỉ dừng lại ở một chương trình khoa học-công nghệ thông thường, mà thực chất là giao sứ mệnh lịch sử cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Khi chủ trương đúng đắn của Đảng và Chính phủ được "nâng tầm" bằng năng lực lãnh đạo toàn diện của các tổ chức Đảng cơ sở, cùng sự tiên phong gánh vác của từng đảng viên, chúng ta hoàn toàn có cơ sở vững chắc để hiện thực hóa khát vọng tự cường, đưa Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Có thể bạn quan tâm

Các đại biểu thực hiện nghi thức kích hoạt Tổng đài ứng dụng trí tuệ nhân tạo và thông tin thuế qua nền tảng thanh toán số. (Ảnh: Lê Tú)

Thuế Thành phố Hồ Chí Minh ra mắt Tổng đài AI và nền tảng thanh toán số

Ngày 8/8, Thuế Thành phố Hồ Chí Minh ra mắt và vận hành Tổng đài AI và tích hợp thông tin thuế lên các nền tảng thanh toán số nhằm hỗ trợ người nộp thuế tra cứu nhanh chóng, chính xác và an toàn. Hoạt động này triển khai khi kết quả thu ngân sách 7 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 466 nghìn tỷ đồng, tăng 24,5% so cùng kỳ năm 2025.

Hiện nay một số tuyến phố nằm trong khu đô thị mới thường xuyên xảy ra tình trạng ô-tô đỗ tràn lan trên đường. Nguyên nhân xuất phát từ việc dự án khu đô thị chưa hoàn thiện nhưng chủ đầu tư đã cho khách hàng mua nhà vào sử dụng.

Gỡ “nút thắt” quản lý hạ tầng tại các khu đô thị mới: Cần giải pháp quyết liệt, đồng bộ

Việc chậm bàn giao hạ tầng kỹ thuật tại các khu đô thị ở phường Định Công (Hà Nội) đang tạo “khoảng trống” pháp lý, gây khó khăn cho quản lý trật tự đô thị, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông và phòng cháy, chữa cháy, đòi hỏi giải pháp quyết liệt, đồng bộ từ các bên liên quan.

Một góc Quảng trường xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Ninh Phước: Từ vùng quê nông nghiệp hướng đến đô thị tương lai

Từ những cánh đồng măng tây xanh mướt, vườn nho trĩu quả đến những tuyến đường đang rộng mở, nhà cửa khang trang và nhịp thương mại ngày một sôi động, xã Ninh Phước (Khánh Hòa) đang chuyển mình từ một vùng quê nông nghiệp, đậm đà bản sắc văn hóa Chăm sang một diện mạo mới năng động hơn, hiện đại hơn.

Lễ ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nhãn giữa các hợp tác xã, nhà vườn lớn và các doanh nghiệp tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, nhằm thúc đẩy đầu ra bền vững cho sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên. (Ảnh: BCT cung cấp)

Nâng tầm thương hiệu nhãn lồng Hưng Yên từ không gian mạng đến thị trường xuất khẩu

Với sự tham gia của các KOL, KOC, nhà sáng tạo nội dung, hợp tác xã và doanh nghiệp, chuỗi livestream quảng bá nhãn lồng và nông sản tiêu biểu đang trở thành một trong những điểm nhấn nổi bật của Lễ hội và Xúc tiến thương mại Nhãn lồng Hưng Yên năm 2026, mở thêm kênh tiếp cận người tiêu dùng trên môi trường thương mại điện tử.

Ủy ban Cạnh tranh quốc gia xử phạt Grab 1,36 tỷ đồng. (Ảnh: KIM DUNG)

Ủy ban Cạnh tranh quốc gia xử phạt Grab 1,36 tỷ đồng

Ủy ban Cạnh tranh quốc gia, Bộ Công thương vừa xử phạt 1,36 tỷ đồng đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn Grab do hàng loạt vi phạm, trong đó có những vấn đề liên quan sử dụng thông tin người dùng, quảng bá qua người có ảnh hưởng và hiển thị kết quả đánh giá.

Người dân được thấy những cây sâm Ngọc Linh.

Đà Nẵng tạo động lực phát triển ngành dược liệu

Lễ hội sâm Ngọc Linh và Dược liệu quốc tế Đà Nẵng 2026 đã ghi nhận nhiều kết quả nổi bật, góp phần quảng bá giá trị của sâm Ngọc Linh, mở rộng cơ hội hợp tác trong lĩnh vực dược liệu và tạo nền tảng để thành phố từng bước khẳng định vị thế là trung tâm dược liệu của cả nước.

Lễ hội thu hút nhiều du khách đến tham quan. (Ảnh: QUÝ NGỌC)

Hấp dẫn lễ hội trái cây của xã miền núi Lâm Đồng

Sáng 8/8, Ủy ban nhân dân xã La Dạ (tỉnh Lâm Đồng) tổ chức khai mạc Lễ hội trái cây lần thứ I với chủ đề “Hương sắc La Dạ-Trái ngọt vươn xa”, thu hút hơn 1.000 người đến tham quan. Đây là sự kiện văn hóa, kinh tế và du lịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước ngoặt trên hành trình phát triển mới của La Dạ.

Tây Ninh bảo đảm nguồn cung năng lượng - một trong những điều kiện tiên quyết để duy trì tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút các dòng vốn đầu tư mới.

Tây Ninh gỡ điểm nghẽn năng lượng, mở đường tăng trưởng

Để đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng, Tây Ninh đang tập trung tháo gỡ vướng mắc tại các dự án nguồn, lưới điện trọng điểm; đẩy nhanh Nhà máy điện khí LNG Long An I và II, bổ sung nguồn điện sạch, phát triển đồng bộ hạ tầng truyền tải, tạo nền tảng bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Ông Nguyễn Quang Duy, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Doanh nhân trẻ Khánh Hòa, giới thiệu tiềm năng của địa phương với đối tác, khách hàng. (Ảnh: DTGROUP)

Khánh Hòa: Doanh nghiệp gặp khó, kiến nghị cơ chế tiếp sức phục hồi sản xuất

Từ việc khó khăn tiếp cận vốn, vướng mắc thủ tục đất đai, thuế đến áp lực tuyển dụng lao động, tiền lương…, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đang phải xoay xở để vượt khó, duy trì sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, nhất là sau khi tỉnh thực hiện sáp nhập địa giới hành chính.

Việt Nam đang trở thành điểm hấp dẫn với các đơn vị tư vấn quốc tế. (Ảnh: HNV)

Phát triển theo chiều sâu - Động lực mới gia tăng sức hấp dẫn của thị trường bất động sản Việt Nam với các đối tác quốc tế

Nhiều năm qua, cùng với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), các quỹ đầu tư hay các tập đoàn phát triển bất động sản quốc tế, một xu hướng mới đang dần hình thành và ngày càng rõ nét khi Việt Nam đang trở thành điểm đến của các đơn vị tư vấn, quy hoạch, kiến trúc và thiết kế có thương hiệu trên thế giới.

Khách hàng quét mã VietQR Global thanh toán tại điểm bán hàng. (Ảnh: QUỲNH TRANG)

“Lá chắn” bảo vệ thanh toán số

Tội phạm tài chính trên không gian số thay đổi rất nhanh, từ chiếm quyền tài khoản, giả mạo danh tính đến thao túng tâm lý để chính người dùng tự thực hiện giao dịch. Ngành ngân hàng đang từng bước thiết lập một “lá chắn” nhiều tầng cho hệ sinh thái thanh toán số.

Phát triển vườn hồ tiêu bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. (Ảnh: MINH ANH)

Gia tăng áp lực cạnh tranh tại thị trường EU

Sáu tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông sản sang Liên minh châu Âu (EU) tăng 2,2% so cùng kỳ năm 2025. Dù ghi nhận tăng trưởng nhưng thị trường này cũng đang tạo ra nhiều áp lực cạnh tranh cho doanh nghiệp xuất khẩu từ chính sách đa dạng nguồn cung cũng như yêu cầu cao hơn về truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.

Cả nước hiện có hơn 80.300 tàu cá đăng ký, được cập nhật thông tin trên cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia. (Ảnh minh họa: TRẦN TRUNG HIẾU)

Quyết tâm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU

Thực hiện quyết tâm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” trong năm 2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác IUU yêu cầu từ nay đến ngày 31/8 phải tạo chuyển biến thực chất, xây dựng kế hoạch hành động theo các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) và nền tảng quản lý nghề cá thống nhất trên toàn quốc.