Ứng dụng “gạch sinh học” xử lý nước thải

Tiến sĩ Hoàng Lương trao đổi với nhóm nghiên cứu về kết quả xử lý nước thải bằng công nghệ EBB (Ảnh: LƯƠNG HIẾU)
Tiến sĩ Hoàng Lương trao đổi với nhóm nghiên cứu về kết quả xử lý nước thải bằng công nghệ EBB (Ảnh: LƯƠNG HIẾU)

Việc xử lý nước thải tại các khu dân cư, làng nghề, trang trại chăn nuôi ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn như chi phí đầu tư cao, công nghệ xử lý phức tạp do nhiều loại nước thải đan xen và khó vận hành ở quy mô nhỏ… Trước thực tế này, các nhà khoa học đã nghiên cứu, ứng dụng thành công vật liệu mang vi sinh (EBB - Eco-Bio-Block) dạng “gạch sinh học” để xử lý.

Hiện nay, tình trạng ô nhiễm nước thải tại một số làng nghề, cơ sở chăn nuôi, khu công nghiệp đã đến mức báo động, bởi lượng nước thải giàu chất hữu cơ, nitơ xả ra ngày càng nhiều khiến môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là các sông, suối và ao, hồ.

Trong khi đó, tại một số địa phương, việc quy hoạch và xây dựng hệ thống xử lý nước thải thiếu đồng bộ hoặc ứng dụng công nghệ xử lý cũ. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư ban đầu, vận hành các công nghệ nước ngoài để xử lý nước thải như MBBR, biochip, bùn hoạt tính rất lớn...

Xuất phát từ thực tiễn đó, nhóm nghiên cứu do Tiến sĩ Hoàng Lương, Viện Khoa học công nghệ Năng lượng và Môi trường (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) làm Chủ nhiệm nhiệm vụ đã triển khai, thực hiện dự án: “Sản xuất vật liệu mang vi sinh (EBB) để xử lý nước thải giàu chất hữu cơ và nitơ theo quy trình khép kín trên hệ thiết bị đồng bộ”.

EBB là vật liệu thân thiện môi trường, có khả năng xử lý nhanh các chất hữu cơ, amoni và đã được ứng dụng rộng rãi để xử lý nước ở nhiều nước châu Á, châu Âu.

Mặc dù EBB có nhiều ưu điểm trong xử lý các loại nước thải, nhưng khi áp dụng công nghệ này tại Việt Nam thì chi phí đầu tư ban đầu cao, không phù hợp điều kiện kinh tế của nhiều nhà đầu tư. Do vậy, hiện nay vẫn chưa có đơn vị nào trong nước áp dụng.

Tuy nhiên, Việt Nam có nhiều loại vật liệu tự nhiên, thân thiện với môi trường, như: Cát vàng, than carbon hóa, keramzit, zeolit. Các loại vật liệu này được nhiều nhà khoa học đánh giá cao về những tác dụng cụ thể trong xử lý môi trường. Hơn nữa, EBB khi được cải tiến nghiên cứu và chế tạo từ các vật liệu nêu trên có công dụng tương đương với EBB nhập khẩu.

Theo Tiến sĩ Hoàng Lương, vật liệu chế tạo EBB hay còn gọi là “gạch sinh học” đều là những vật liệu có sẵn trong tự nhiên hoặc tái chế từ các sản phẩm nông nghiệp và có công dụng lọc nước cao, với chi phí thấp hơn khoảng 40-50% so với giá thể ngoại nhập.

Đáng chú ý, khi phối trộn các vật liệu nêu trên để sản xuất “gạch sinh học” EBB sẽ giúp sản phẩm xốp hơn, đồng thời tạo màng sinh học ổn định, yếu tố quyết định hiệu quả xử lý nước thải.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhóm tác giả kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu công nghệ EBB trên cơ sở hợp tác giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản.

Trước đó, công nghệ EBB được ứng dụng tại Nhật Bản, Malaysia, Singapore, Ấn Độ và Hoa Kỳ để xử lý ô nhiễm sông hồ, ao mương và nước thải sinh hoạt.

Tiến sĩ Hoàng Lương và các đồng nghiệp đã phát triển các nghiên cứu có tính ứng dụng cao trong thực tiễn, tạo ra sản phẩm cụ thể từ những kết quả trong phòng thí nghiệm như: Tạo ra hệ thống sản xuất viên EBB với công suất 2.000 viên/ngày và có khả năng ứng dụng trong xử lý nước thải ô nhiễm các chất hữu cơ và nitơ; ứng dụng vật liệu EBB để xử lý nước thải giàu chất hữu cơ và nitơ với công suất 50 m3/ngày.

Sau khi xử lý bằng công nghệ “gạch sinh học”, chất lượng các loại nước thải đáp ứng đầy đủ các quy chuẩn về môi trường hiện hành, bao gồm QCVN14:2015/BTNMT về nước thải sinh hoạt và QCVN 40:2011/BTNMT về nước thải công nghiệp.

Kết quả thử nghiệm thực tế cho thấy, “gạch sinh học” EBB có khả năng xử lý hiệu quả nhiều loại nước thải khác nhau từ nước thải sinh hoạt, bệnh viện cho đến nước rỉ rác có các thành phần COD, amoni và tổng nitơ.

Ngoài ra, EBB còn có ưu điểm nổi bật là phù hợp những nơi chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung hoặc cần cải tạo hệ thống cũ với chi phí thấp, nhất là tại các làng nghề, bệnh viện quy mô nhỏ, khu chế biến thực phẩm, trang trại chăn nuôi và các trạm xử lý nước thải công suất vừa và nhỏ.

Tiêu biểu, một số công trình sử dụng sản phẩm EBB xử lý nước thải cho hiệu quả tích cực như: Khu chế xuất Linh Trung 2, Thành phố Hồ Chí Minh; hồ Khương Thượng, Thành phố Hà Nội; chợ Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang...

Giáo sư, Tiến sĩ Thái Hoàng, Tổng Biên tập tạp chí Khoa học và Công nghệ cho biết, ưu điểm lớn nhất của EBB cải tiến là: Thân thiện với môi trường, thanh lọc nhanh các chất thải hữu cơ có trong nguồn nước, ức chế phần lớn các vi khuẩn có hại và giảm tối đa mùi hôi.

Thiết kế EBB linh hoạt, gọn nhẹ, phù hợp nhiều địa hình và đối tượng cần xử lý. Đặc biệt, với ưu thế vượt trội so với các vật liệu khác, EBB có thể lấy nguồn oxy tự nhiên để duy trì sự sống cho các vi sinh vật khi hệ thống xử lý không có nguồn điện cấp.

Theo Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, kết quả dự án góp phần làm đa dạng vật liệu mang vi sinh vật EBB để xử lý nước thải giàu chất hữu cơ và nitơ với chi phí thấp, vận hành đơn giản và thân thiện môi trường.

Nhóm nghiên cứu đã xây dựng thành công quy trình nghiên cứu, sản xuất, chế tạo thiết bị đến vận hành và chuyển giao công nghệ xử lý nước thải từ vật liệu EBB hoàn chỉnh. Ngoài ra, dự án còn được đánh giá cao bởi khả năng thương mại hóa nhờ sử dụng nguyên liệu trong nước, giá thành hợp lý, khả năng tối ưu hóa vật liệu mang vi sinh (EBB)...

Có thể bạn quan tâm

Hoạt động nghiên cứu, thực hành tại Trường đại học Phenikaa. (Ảnh: VŨ THƠM)

Mô hình hợp tác “3 nhà” trong phát triển khoa học, công nghệ

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, toàn hệ thống chính trị; trong đó, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và thúc đẩy.

Xã Phụng Hiệp, thành phố Cần Thơ lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Chuyển đổi số - “chìa khóa” vận hành hiệu quả chính quyền cơ sở

Thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị theo yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã từng bước góp phần tạo đột phá trong xây dựng và vận hành chính quyền nhân dân.

Nông dân tham gia dự án hỗ trợ kinh doanh nông hộ tại Cao Bằng (Ảnh: VIỆT HÀ)

Chuyển giao công nghệ, đổi mới tư duy sản xuất

Chuyển giao khoa học và công nghệ đang góp phần đổi mới tư duy sản xuất, hình thành nhiều mô hình kinh tế và nâng cao năng lực công nghệ tại địa phương. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả cao hơn, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng gắn chặt với thị trường, doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng.

Quang cảnh sự kiện Shopee Brands And Creators Summit 2026.

AI trở thành động lực tăng trưởng mới của thương mại điện tử

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử, không chỉ góp phần nâng cao trải nghiệm mua sắm, mà còn hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu vận hành, mở rộng tiếp cận khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường số.

Nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Triển khai Nghị quyết 57: Tạo đột phá trong phát triển và trọng dụng nhân tài khoa học

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều kết quả quan trọng đã tạo nền tảng cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để tạo đột phá tăng trưởng, yêu cầu cấp bách hiện nay là xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao đủ năng lực làm chủ các công nghệ chiến lược.

Hội thảo “Kết nối 3 nhà - Huy động nguồn lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế-xã hội thành phố Huế” diễn ra chiều 2/7 tại Huế.

Huế kích hoạt nền tảng số kết nối “3 nhà”: Biến bài toán thực tiễn thành động lực đổi mới sáng tạo

Từ quản lý đô thị thông minh, bảo tồn di sản đến phát triển kinh tế số, thành phố Huế đang đứng trước nhiều bài toán lớn cần lời giải. Nền tảng số kết nối “3 nhà” vừa được Huế ra mắt kỳ vọng sẽ tạo cơ chế liên kết thực chất giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển.

Hoạt động nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: MẠNH XUÂN)

Chú trọng công tác nghiên cứu khoa học cơ bản

Trong đột phá phát triển khoa học, công nghệ, nghiên cứu khoa học cơ bản được xác định là nền móng tri thức, vấn đề chiến lược, liên quan trực tiếp đến mô hình phát triển, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia.

Thiết bị đinh phản quang năng lượng mặt trời được lắp đặt thí điểm trên đoạn Quốc lộ 6 qua xã Vân Hồ (Sơn La) để đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ mới trong bảo đảm an toàn giao thông.

Đưa năng lượng mặt trời vào hạ tầng giao thông đường bộ

Lần đầu tiên, hệ thống đinh phản quang sử dụng năng lượng mặt trời được Cục Đường bộ Việt Nam cho phép thí điểm trên Quốc lộ 6. Không chỉ hướng tới nâng cao an toàn giao thông tại các đoạn đường đèo dốc, mô hình còn mở ra hướng ứng dụng công nghệ xanh, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý và khai thác kết cấu hạ tầng đường bộ.

Hồ Dầu Tiếng giữ vai trò quan trọng trong điều tiết, cấp nước cho khu vực Đông Nam Bộ.

Quản lý, vận hành công trình thủy lợi: Chuyển từ kinh nghiệm sang dựa trên cơ sở dữ liệu

Trước tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, công tác quản lý nguồn nước đang chuyển mạnh từ điều hành theo kinh nghiệm sang dựa trên dữ liệu số, quan trắc và dự báo. Đây là nền tảng quan trọng để bảo đảm an ninh nguồn nước, nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống thủy lợi và phát triển nông nghiệp bền vững.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh Điện Biên tham quan các gian hàng của doanh nghiệp khoa học-công nghệ. (Ảnh: MAI GIÁP)

Điện Biên đầu tư 60 tỷ đồng xây dựng hạ tầng kỹ thuật Trung tâm Đổi mới sáng tạo

Thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 27/2/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến 2035, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên quyết định dự kiến chi 60 tỷ đồng để xây dựng hạ tầng kỹ thuật Trung tâm Đổi mới sáng tạo.