Đưa năng lượng mặt trời vào hạ tầng giao thông đường bộ

Lần đầu tiên, hệ thống đinh phản quang sử dụng năng lượng mặt trời được Cục Đường bộ Việt Nam cho phép thí điểm trên Quốc lộ 6. Không chỉ hướng tới nâng cao an toàn giao thông tại các đoạn đường đèo dốc, mô hình còn mở ra hướng ứng dụng công nghệ xanh, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý và khai thác kết cấu hạ tầng đường bộ.

Thiết bị đinh phản quang năng lượng mặt trời được lắp đặt thí điểm trên đoạn Quốc lộ 6 qua xã Vân Hồ (Sơn La) để đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ mới trong bảo đảm an toàn giao thông.
Thiết bị đinh phản quang năng lượng mặt trời được lắp đặt thí điểm trên đoạn Quốc lộ 6 qua xã Vân Hồ (Sơn La) để đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ mới trong bảo đảm an toàn giao thông.

Công nghệ mới cho bài toán an toàn giao thông

Những tuyến đường đèo dốc, nhiều khúc cua, thường xuyên xuất hiện sương mù luôn đặt ra thách thức đối với công tác bảo đảm an toàn giao thông. Khi lưu lượng phương tiện ngày càng gia tăng, bên cạnh đầu tư, nâng cấp kết cấu hạ tầng và hoàn thiện hệ thống báo hiệu, ngành đường bộ đang từng bước ứng dụng khoa học-công nghệ nhằm tăng cường khả năng cảnh báo, dẫn hướng, hỗ trợ người tham gia giao thông trong điều kiện khai thác phức tạp.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển hạ tầng xanh đang trở thành yêu cầu của ngành giao thông, việc tìm kiếm các giải pháp vừa nâng cao an toàn giao thông, vừa sử dụng hiệu quả năng lượng sạch là xu hướng tất yếu.

Đây cũng là một trong những bước đi cụ thể của Cục Đường bộ Việt Nam nhằm hiện thực hóa chủ trương phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời từng bước đưa năng lượng sạch vào khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

screenshot-2026-07-02-123843.png
Hệ thống đinh phản quang năng lượng mặt trời tự động phát sáng vào ban đêm, tạo dải dẫn hướng liên tục, hỗ trợ người điều khiển phương tiện nhận biết hướng tuyến trên Quốc lộ 6.

Cụ thể hóa định hướng này, Cục Đường bộ Việt Nam đã cho phép Khu Quản lý đường bộ I triển khai thí điểm hệ thống dẫn hướng chủ động sử dụng năng lượng mặt trời trên đoạn Km176+200-Km176+700, Quốc lộ 6, thuộc xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

Đây là đoạn đường đèo có nhiều đường cong liên tiếp, độ dốc từ 2-5%, thường xuyên xuất hiện sương mù, tầm nhìn hạn chế vào mùa mưa và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông. Chính những điều kiện khai thác đặc thù này khiến đoạn tuyến được lựa chọn làm nơi kiểm chứng khả năng hoạt động của giải pháp trong môi trường có yêu cầu cao về an toàn giao thông.

Việc lựa chọn đoạn tuyến này không chỉ nhằm đánh giá hiệu quả của một thiết bị giao thông mới mà còn kiểm chứng khả năng ứng dụng các giải pháp công nghệ trong điều kiện khai thác thực tế, làm cơ sở để cơ quan quản lý nghiên cứu, lựa chọn những mô hình phù hợp trước khi xem xét áp dụng tại những cung đường có điều kiện địa hình tương tự.

Mục tiêu của đợt thí điểm là đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ và sử dụng năng lượng mặt trời trong bảo đảm an toàn giao thông, qua đó tạo cơ sở khoa học để lựa chọn các giải pháp phù hợp với điều kiện khai thác của hệ thống đường bộ Việt Nam.

Ông Tô Nam Toàn, Trưởng phòng Khoa học, Công nghệ, Môi trường và Hợp tác quốc tế, Cục Đường bộ Việt Nam

Kiểm chứng công nghệ trong điều kiện khai thác thực tế

Theo ông Tô Nam Toàn, Cục Đường bộ Việt Nam luôn khuyến khích doanh nghiệp nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khoa học-công nghệ phục vụ bảo đảm an toàn giao thông. Tuy nhiên, mọi công nghệ trước khi xem xét áp dụng đều phải được kiểm chứng thông qua quá trình thí điểm trong điều kiện khai thác thực tế.

Theo ông Toàn, thay vì áp dụng đồng loạt một giải pháp mới, Cục Đường bộ Việt Nam ưu tiên đánh giá thông qua các mô hình thí điểm trong điều kiện khai thác thực tế. Đây là cách tiếp cận giúp cơ quan quản lý có đủ cơ sở khoa học và thực tiễn trước khi xem xét nhân rộng trên hệ thống quốc lộ.

Ông cho rằng, điểm đáng chú ý của mô hình lần này không chỉ là khả năng dẫn hướng chủ động mà còn ở việc khai thác nguồn năng lượng mặt trời để thiết bị hoạt động độc lập, phù hợp với định hướng phát triển hạ tầng giao thông xanh, tiết kiệm năng lượng.

Theo ông, kết quả theo dõi trong thời gian thí điểm sẽ cung cấp thêm cơ sở khoa học và thực tiễn để cơ quan quản lý đánh giá khả năng áp dụng đối với những tuyến đường có điều kiện khai thác tương tự.

Ứng dụng năng lượng mặt trời trong hệ thống báo hiệu

Khác với các loại đinh phản quang truyền thống chỉ phản xạ ánh sáng từ đèn xe, hệ thống đinh phản quang mới sử dụng năng lượng mặt trời để phát sáng chủ động.

Ban ngày, thiết bị hấp thụ và tích trữ năng lượng thông qua tấm pin cảm quang; khi trời tối hoặc điều kiện ánh sáng yếu, đinh phản quang tự động phát sáng theo chế độ nhấp nháy, tạo thành dải dẫn hướng liên tục trên mặt đường.

Xe lưu thông trên đoạn Quốc lộ 6 được lắp đặt thí điểm hệ thống đinh phản quang năng lượng mặt trời. Ban ngày, thiết bị hấp thụ năng lượng; ban đêm tự động phát sáng, hỗ trợ dẫn hướng và cảnh báo cho người tham gia giao thông.

Theo ông Nguyễn Hoàng Huy, Giám đốc Công ty Cổ phần Công trình giao thông Kiến Quốc, doanh nghiệp lựa chọn phát triển công nghệ này trên cơ sở bám sát chủ trương của Đảng và Chính phủ về phát triển khoa học-công nghệ, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh.

"Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là động lực đột phá để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Cùng với đó, Quyết định số 1658 của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới trung hòa carbon. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn phát triển hệ thống đinh phản quang sử dụng năng lượng mặt trời để vừa ứng dụng công nghệ mới, vừa sử dụng nguồn năng lượng sạch", ông Huy cho biết.

Theo ông Huy, nếu phản quang truyền thống hoạt động theo nguyên lý "có ánh sáng mới phản xạ", thì hệ thống mới phát sáng chủ động nhờ năng lượng mặt trời, giúp người điều khiển phương tiện nhận biết hướng tuyến từ khoảng cách 800-1.000m, kể cả trong điều kiện sương mù hoặc ánh sáng yếu.

Phần lớn thiết bị được nghiên cứu, sản xuất trong nước, chỉ một số linh kiện chuyên dụng phải nhập khẩu, tạo thuận lợi trong công tác bảo trì, sửa chữa và giảm chi phí khi triển khai trên diện rộng.

Đánh giá để lựa chọn giải pháp phù hợp

Khu Quản lý đường bộ I cho biết, toàn bộ kinh phí triển khai thí điểm, bao gồm chi phí lắp đặt, hoàn thiện hệ thống an toàn giao thông và tổ chức giao thông trong quá trình thi công đều do doanh nghiệp tự bảo đảm.

Trong quá trình triển khai, Văn phòng Quản lý đường bộ I.1 được giao phối hợp các đơn vị liên quan kiểm tra hiện trường, giám sát thi công và tổ chức giao thông nhằm bảo đảm việc lưu thông trên tuyến luôn thông suốt, an toàn.

Ông Đinh Trung Thành, Giám đốc Khu Quản lý đường bộ I, cho rằng mục tiêu của đợt thí điểm không chỉ là kiểm chứng hiệu quả của một thiết bị mới mà còn đánh giá khả năng ứng dụng các giải pháp công nghệ trong điều kiện khai thác thực tế trên quốc lộ.

"Chúng tôi sẽ theo dõi toàn diện các tiêu chí như khả năng dẫn hướng, mức độ hỗ trợ người tham gia giao thông, độ bền của thiết bị cũng như hiệu quả khai thác trong các điều kiện thời tiết khác nhau. Nếu kết quả đáp ứng yêu cầu, đây sẽ là cơ sở để nghiên cứu áp dụng trên các đoạn tuyến có điều kiện tương tự, đặc biệt là các khu vực đèo dốc, thường xuyên có sương mù và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông", ông Thành cho biết.

Ông Thành nhấn mạnh việc đánh giá không chỉ tập trung vào khả năng phát sáng của thiết bị mà còn xem xét mức độ hỗ trợ người lái trong điều kiện sương mù, mưa lớn, ban đêm; khả năng chịu tải, độ bền và chi phí duy tu trong quá trình khai thác.

Từ mô hình thí điểm đến hạ tầng giao thông minh

Đây không phải lần đầu tiên Cục Đường bộ Việt Nam triển khai các giải pháp ứng dụng công nghệ mới trong bảo đảm an toàn giao thông. Trước đó, đơn vị đã phối hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn 3M Việt Nam thí điểm hệ thống tấm dán phản quang vạch kẻ đường 3M™ Stamark™ Tapes 380 AW trên Quốc lộ 6 nhằm nâng cao khả năng nhận diện vạch sơn trong điều kiện thời tiết bất lợi.

Việc liên tục nghiên cứu, thử nghiệm các công nghệ mới cho thấy quyết tâm của Cục Đường bộ Việt Nam trong thực hiện chủ trương chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản lý kết cấu hạ tầng và nâng cao chất lượng bảo trì hệ thống quốc lộ. Nếu các mô hình thí điểm được đánh giá hiệu quả, những thiết bị giao thông thông minh như đinh phản quang năng lượng mặt trời sẽ không chỉ góp phần giảm thiểu nguy cơ tai nạn giao thông tại các khu vực đèo dốc, sương mù mà còn mở ra hướng tiếp cận mới trong xây dựng hệ thống giao thông hiện đại, an toàn, xanh và phát triển bền vững.

Từ một mô hình thí điểm trên đoạn đèo của Quốc lộ 6, câu chuyện không chỉ dừng lại ở một thiết bị báo hiệu mới. Điều đáng chú ý hơn là cách cơ quan quản lý từng bước đưa khoa học, công nghệ và năng lượng sạch vào quá trình quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng đường bộ. Khi mỗi giải pháp đều được kiểm chứng bằng thực tiễn trước khi nhân rộng, chuyển đổi số sẽ không còn là những khái niệm trên giấy mà được hiện thực hóa bằng những thay đổi cụ thể, góp phần nâng cao an toàn giao thông và chất lượng hạ tầng quốc gia.

Có thể bạn quan tâm

Khoa học công nghệ là động lực để phát triển đất nước thời kỳ mới. (Ảnh: Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội trong giờ học về Trí tuệ nhân tạo (AI)).

Từ độc lập đến hùng cường: Một Việt Nam đứng vững giữa thời đại

Nếu thế hệ cha anh đã anh dũng giành lấy quyền quyết định vận mệnh dân tộc, thì thế hệ hôm nay mang trên vai sứ mệnh xây đắp nội lực để đất nước thực sự làm chủ tương lai của chính mình. Ngày Quốc khánh 2/9 là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường gian lao đã đi qua để soi rọi con đường phía trước.

Chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ làm thay đổi tích cực cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới

Trong 40 năm qua (1986-2026), cùng với quá trình đổi mới tư duy phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách xóa đói, giảm nghèo đã có bước chuyển căn bản cả về quan điểm, mục tiêu và phương thức thực hiện.

Cán bộ kỹ thuật VNPT hướng dẫn giáo viên Trường Tiểu học Đại Thịnh (sau sáp nhập) thao tác sử dụng các tính năng của hệ sinh thái giáo dục VnEdu. (Ảnh: VNPT)

Số hóa quản trị trường học sau sáp nhập và lời giải từ VnEdu

Đứng trước bài toán quy mô tăng gấp đôi sau sáp nhập, Trường Tiểu học Đại Thịnh (Mê Linh, Hà Nội) đã nhanh chóng giải tỏa áp lực quản trị và chuẩn hóa dòng dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống” nhờ điểm tựa vững chắc từ Hệ sinh thái giáo dục số VnEdu của VNPT.

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

Ngay sau khi SpaceX hoàn tất thương vụ thâu tóm trị giá 60 tỷ USD đối với Anysphere, công ty chủ quản của công cụ lập trình AI đình đám Cursor, OpenAI đã lập tức tuyên bố trên mạng xã hội X và website chính thức rằng sẽ chấm dứt hợp tác và khóa quyền truy cập trực tiếp của Cursor vào toàn bộ các mô hình trí tuệ nhân tạo của họ.

Giới thiệu sản phẩm ứng dụng AI tại Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam năm 2025. (Ảnh: HÀ LINH)

Chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng trí tuệ nhân tạo

Ngày 28/8/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quyết định này thay thế Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/1/2021 về ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.

Đà Nẵng triển khai thành công mô hình Trung tâm điều hành thông minh (IOC).

Nâng cao năng lực số cho cán bộ cơ sở

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, năng lực số không còn là kỹ năng bổ trợ, mà đã trở thành một bộ phận thiết yếu của năng lực thực thi công vụ. Đổi mới phương thức đào tạo sẽ giúp nâng cao năng lực số, giảm tình trạng cán bộ cấp cơ sở không đồng đều về năng lực số ở một số địa phương hiện nay.

Các diễn giả chính và thành viên Ban tổ chức hội thảo. (Ảnh: Tuấn Anh)

Gợi mở hướng nghiên cứu, thúc đẩy cơ hội hợp tác mới trong công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo

Hội thảo nhằm tạo diễn đàn để các nhà khoa học, chuyên gia và các bên liên quan cùng trao đổi, thảo luận về những thay đổi mà AI đang tạo ra đối với giáo dục, qua đó gợi mở các hướng nghiên cứu và thúc đẩy những cơ hội hợp tác mới trong lĩnh vực công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo.

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, công bố Giải thưởng tại cuộc họp báo định kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ. (Ảnh: HÀ LINH)

Giải thưởng Make in Vietnam có hạng mục riêng về trí tuệ nhân tạo

Giải thưởng “Sản phẩm công nghệ số Make in Vietnam” năm 2026 lần đầu tiên có hạng mục riêng dành cho sản phẩm trí tuệ nhân tạo (AI) xuất sắc nhằm khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam phát triển các sản phẩm trí tuệ nhân tạo có giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Giao diện Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo. (Ảnh chụp màn hình)

Vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo

Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo (AI) và cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đưa vào vận hành, hình thành một đầu mối thống nhất phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp thông tin và hỗ trợ phát triển hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo Việt Nam an toàn, có trách nhiệm.

Robot taxi tự hành do Công ty cổ phần Phenikaa-X nghiên cứu phát triển là một trong bốn dòng phương tiện được thử nghiệm.

Kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm

Việc Công ty cổ phần Phenikaa-X là đơn vị đầu tiên tại Hà Nội triển khai thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với phương tiện tự hành đánh dấu bước chuyển từ nghiên cứu, phát triển công nghệ sang kiểm chứng trong thực tế, từ quản lý công nghệ mới sang kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm và đưa vào thực tiễn.

Doanh nghiệp tìm hiểu giải pháp hạ tầng trung tâm dữ liệu tại DCCI Summit 2026 (Ảnh Viettel IDC)

Khơi thông dòng chảy dữ liệu

Việt Nam đang từng bước hình thành không gian dữ liệu thống nhất, mở rộng khả năng kết nối, chia sẻ và đưa dữ liệu vào lưu thông. 

Nguyễn Vũ An Chi, học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Lý Thái Tổ, Hà Nội. (Ảnh: VNPT)

Năm học mới và những “lớp học” trong chiếc điện thoại

Từ thời khóa biểu, tài liệu ôn tập đến những buổi học trực tuyến, chiếc điện thoại kết nối internet đang hiện diện trong nhiều hoạt động học tập hằng ngày của người trẻ. Khi năm học mới bắt đầu, nhu cầu kết nối vì thế không chỉ gắn với liên lạc hay giải trí, mà ngày càng gắn với khả năng học tập chủ động và linh hoạt hơn.

Tỉnh đoàn Tây Ninh và MobiFone Tây Ninh ký kết Thỏa thuận hợp tác chiến lược về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030. (Ảnh: THANH PHONG)

Tuổi trẻ Tây Ninh tiên phong chuyển đổi số

Nhằm cụ thể hóa mục tiêu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngày 27/8, Tỉnh đoàn Tây Ninh tổ chức Hội nghị tập huấn nâng cao năng lực số cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến tại 150 điểm cầu ở các xã, phường và trường học trên địa bàn.

(Ảnh minh họa: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Không chỉ “có sóng”, người dân cần internet đủ nhanh, ổn định

Điện thoại hiển thị vạch sóng nhưng người dân vẫn khó gửi hồ sơ, truy cập dịch vụ số; có nơi việc liên lạc còn phụ thuộc vào “may rủi”. Thông tư số 51/2026/TT-BKHCN đưa ra cách tiếp cận mới: phổ cập viễn thông công ích không chỉ được tính bằng vùng phủ, mà phải được kiểm chứng bằng chất lượng kết nối thực tế.

Cần thu hút và giữ chân những tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học đủ năng lực đảm nhận các nhiệm vụ công nghệ chiến lược. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Tạo sức hút mới với nhân lực công nghệ chiến lược

Người giỏi có thể được thu hút bằng thu nhập, nhưng để họ ở lại và tạo ra kết quả, cần những bài toán đủ lớn, phòng thí nghiệm hiện đại, đội ngũ cộng sự và quyền quyết định chuyên môn. Nghị định số 260/2026/NĐ-CP đã mở cơ chế theo hướng đó; vấn đề còn lại là đưa chính sách vào thực tiễn.

Tăng cường khả năng ứng dụng, thương mại hóa đối với sản phẩm công nghệ. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Đặt hàng từ thực tiễn, đo kết quả bằng sản phẩm

Thay vì bắt đầu từ đề xuất nghiên cứu và chờ đến khi nghiệm thu mới đánh giá, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược sẽ được hình thành từ bài toán thực tế, chia theo từng gói công việc và sàng lọc qua các mốc kết quả. Cách làm mới hướng nguồn lực nhà nước vào công nghệ có khả năng ứng dụng, thương mại hóa.