Triết lý giáo dục trong thời đại thời AI

Triết lý giáo dục là nền tảng định hướng cho bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục. Nó không chỉ là khẩu hiệu hay niềm tin chung, mà là hệ quy chiếu giá trị chi phối mọi hoạt động quản lý, giảng dạy và học tập.

Đoàn đánh giá ngoài thuộc Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Thăng Long tiến hành kiểm định chất lượng một số chương trình đào tạo của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội).
Đoàn đánh giá ngoài thuộc Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Thăng Long tiến hành kiểm định chất lượng một số chương trình đào tạo của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội).

Có thể xem xét vai trò này trên ba phương diện:

Thứ nhất, triết lý trả lời cho các câu hỏi căn bản: “Chất lượng để làm gì, cho ai, và dựa trên giá trị nào?” Nếu thiếu triết lý rõ ràng, hoạt động bảo đảm chất lượng dễ rơi vào kỹ trị – đo lường cái dễ đo thay vì cái cần nuôi dưỡng.

Thứ hai, từ triết lý, nhà trường lựa chọn mô hình chất lượng phù hợp: tuân thủ chuẩn tối thiểu, cải tiến liên tục hay hướng đến xuất sắc. Quyết định này chịu ảnh hưởng bởi sứ mạng, tầm nhìn và nguồn lực của từng cơ sở giáo dục, đồng thời chi phối khung kiểm định, tiêu chí đánh giá và văn hóa chất lượng.

Thứ ba, triết lý nuôi dưỡng văn hóa chất lượng. Khi triết lý được chia sẻ rộng rãi, nó tạo nên sự gắn bó, tự giác và trách nhiệm, biến chất lượng thành cam kết nội sinh chứ không chỉ là yêu cầu từ bên ngoài. Đó chính là nền tảng của văn hóa chất lượng trong giáo dục đại học.

Tuy nhiên, thực tiễn tại Việt Nam cho thấy triết lý vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Các bộ tiêu chuẩn thường giản lược triết lý thành mục tiêu hay chuẩn đầu ra nhằm tiện cho đo lường, nhưng như vậy lại làm mất đi bản chất giá trị của nó. Hoạt động bảo đảm chất lượng nhiều nơi mang tính hình thức và kỹ trị: chạy theo minh chứng, quy trình kế hoạch – thực hiện – đánh giá – cải tiến, trong khi phần chìm – tức là văn hóa, niềm tin, giá trị và năng lực – ít được quan tâm.

Mối quan hệ giữa triết lý và bảo đảm chất lượng là mối quan hệ nền tảng: triết lý định hướng mục tiêu và giá trị; bảo đảm chất lượng là cơ chế thực thi. Khi hai yếu tố này lệch pha, chất lượng dễ bị hiểu nhầm thành việc tối ưu các chỉ số thay vì phát triển con người. Trong bối cảnh AI tác động mạnh mẽ đến giáo dục, nguy cơ đó càng gia tăng. Do vậy, cần đặt ra câu hỏi: AI đang làm thay đổi các triết lý giáo dục truyền thống như thế nào, và kiểm định chất lượng cần điều chỉnh ra sao để vẫn gắn chặt với triết lý nền tảng của giáo dục?

Tác động của AI đến các triết lý giáo dục truyền thống

AI không chỉ là công cụ kỹ thuật mà còn là thách thức triết học sâu sắc. Nó buộc các triết lý giáo dục truyền thống phải tự chứng minh tính thích hợp của mình. AI vừa mở ra khả năng cá nhân hóa học tập, vừa đe dọa các giá trị nhân văn, hiện sinh và khai phóng trong giáo dục.

Với giáo dục khai phóng, mục tiêu là phát triển tư duy và tự do trí tuệ, song năng lực phân tích và đánh giá của AI có thể khiến người học ỷ lại, thay vì tự suy nghĩ. Với giáo dục hiện sinh, trọng tâm là lựa chọn đích thực, nhưng AI lại có xu hướng gợi ý và thay thế quyết định cá nhân. Với giáo dục nhân văn, con người là trung tâm, song khi AI vượt trội về tốc độ và độ chính xác, nguy cơ mất đi bản sắc người là điều hiện hữu. Với giáo dục thực dụng, học đi đôi với hành là cốt lõi, nhưng AI có thể mô phỏng trải nghiệm, rút ngắn quá trình thử – sai, khiến trải nghiệm thật mất đi ý nghĩa phát triển. Với sư phạm phê phán, mục tiêu là nuôi dưỡng tư duy phản biện, nhưng AI có thể củng cố thiên kiến dữ liệu – tái tạo những định kiến vốn có trong lịch sử nhận thức của máy. Cuối cùng, trong truyền thống Nho giáo, nơi tôn sư trọng đạo được xem là gốc rễ, AI làm suy yếu thẩm quyền đạo đức và mối liên hệ thầy – trò vốn mang tính nhân bản sâu sắc.

Tóm lại, trong bối cảnh giáo dục toàn cầu bị chi phối bởi chuẩn hóa, hiệu suất và kết quả đo đếm được, AI dường như là công cụ tối ưu: nhanh, chính xác, cá nhân hóa. Tuy nhiên, cách tiếp cận này có nguy cơ biến người học thành sản phẩm kỹ thuật, đánh mất những trải nghiệm nhân văn - cảm xúc, thẩm mỹ và lựa chọn đạo đức. Giáo dục không thể chỉ đào tạo người "giỏi hơn máy", mà cần nuôi dưỡng con người có năng lực tự do trí tuệ để thoát khỏi "bóng tối" của dữ liệu hóa (đây là nói về AI đề xuất hoặc gợi ý nội dung theo thiên kiến - theo dữ liệu mà nó có làm lạc hướng phản tư của chúng ta) và có trách nhiệm đạo đức.

Tuy nhiên, có ba điều AI không thể thay thế con người:

- Trải nghiệm thực tế: AI chỉ "biết" những gì đã được lưu trữ trong dữ liệu quá khứ, trong khi trải nghiệm của con người diễn ra trong thời gian và không gian sống động, chứa đựng cảm xúc và biến cố không thể tái tạo.

Phản tư và lựa chọn giá trị: AI có thể gợi ý, nhưng lựa chọn tin tưởng, hành động và chịu trách nhiệm là phần thuộc về con người.

- Sáng tạo gắn với bối cảnh: Sự sáng tạo thật sự nảy sinh từ hiểu biết, mong muốn đổi mới và trải nghiệm xã hội cụ thể - điều vượt khỏi giới hạn của dữ liệu.

AI chỉ phát triển tốt khi con người đặt ra những câu hỏi hay và dẫn dắt nó bằng đạo đức. Việc giáo dục người học biết sử dụng AI một cách phản tư chính là bước nâng cao năng lực tự do trí tuệ - nền tảng của triết lý giáo dục hiện đại. Trong thời đại AI, học giỏi không còn là trả lời tốt các câu hỏi, mà là biết đặt ra những câu hỏi tốt. Chỉ khi người học có năng lực tự do trí tuệ và nền tảng đạo đức vững vàng, giáo dục đại học Việt Nam mới có thể đáp ứng tinh thần của Nghị quyết 71- NQ/TW - không chỉ "thực học, thực nghiệp" mà còn là nòng cốt của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều đó đòi hỏi một triết lý giáo dục mới - không thay thế cái cũ, mà kết nối, diễn giải và mở rộng chúng trong bối cảnh AI.

Kiểm định dựa trên triết lý

Giáo dục đại học phải trở thành không gian khai phóng - không chỉ về tri thức mà còn về lương tâm và mục đích chung. AI sẽ định hình lại lý do và phương pháp giáo dục, nhưng nếu thiếu nền tảng triết lý, chính AI có thể thay thế giáo dục. Do đó, triết lý cần được thể hiện qua hành động, thông qua: i) Đổi mới sư phạm gắn với giá trị nhân văn; ii) Hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong dựa trên triết lý và iii) kiểm định gắn với bản sắc tổ chức.

Bài viết đề xuất khung kiểm định dựa trên triết lý - nghĩa là mỗi cơ sở giáo dục cần được đánh giá trong mối tương quan với triết lý riêng của mình. Cách tiếp cận này kết hợp tiêu chuẩn chung với tiêu chí bối cảnh, giúp các trường xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng phản ánh bản sắc và sứ mệnh riêng. Nhờ vậy, giáo dục không bị đồng nhất hóa mà vẫn giữ được tính đa dạng, sáng tạo và đặc thù - phù hợp với sự phân công sứ mạng trong toàn hệ thống: từ trường quốc gia, trọng điểm đến các trường địa phương và cộng đồng.

Giải pháp không phải là chọn giữa truyền thống và đổi mới, mà là kiến tạo một hệ sinh thái thích ứng - nơi AI, kiểm định, sứ mạng và triết lý đối thoại, bổ sung và làm giàu cho nhau, thay vì loại trừ nhau ■

Có thể bạn quan tâm

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

Bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch đất đai

Nội dung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn có một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát, làm rõ, nhất là trong quy trình giao dịch đất đai.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư cho người bị thu hồi đất. Trong ảnh: Người dân bị thu hồi đất phục vụ mở đường ở Đê La Thành về tái định cư tại Khu CT3 Nghĩa Đô, TP Hà Nội. Ảnh: HIẾU MINH

Minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế

Đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư, suất tái định cư tối thiểu cũng như cơ chế xác định giá bồi thường. Song, để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cả chủ đầu tư lẫn người có đất bị thu hồi và hạn chế vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định về vấn đề minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Học sinh Trường tiểu học Phương Mai, Thành phố Hà Nội, tham dự Chương trình giao lưu Giáo dục kỹ năng tham gia giao thông an toàn cấp tiểu học năm học 2025-2026.

Để học sinh được sống trong âm nhạc

Giờ đây, chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi học sinh có thể tiếp cận vô số ca khúc, thể loại và xu hướng âm nhạc của Việt Nam cũng như thế giới. Nhưng nghe nhiều không đồng nghĩa với biết nghe; tiếp xúc âm nhạc thường xuyên cũng chưa chắc tạo nên năng lực cảm thụ âm nhạc. Bởi vậy, bên cạnh việc trang bị kiến thức, tăng cường các hoạt động trải nghiệm cần được xem là một nội dung quan trọng của giáo dục âm nhạc trong nhà trường.

Học sinh Trường THCS Lê Ngọc Hân tham gia triển lãm tranh và giao lưu với các bác, các chú thương binh tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh ở tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Lê Ngọc

Xây dựng môi trường khuyến khích sự sáng tạo

Giáo dục nghệ thuật ở bậc phổ thông hiện nay là con đường quan trọng để phát triển cảm xúc, khả năng quan sát, tư duy sáng tạo và phát triển nhân cách của học sinh. Trong đó, môn Mĩ thuật góp phần giúp học sinh biết cảm thụ cái đẹp, biết biểu đạt suy nghĩ và cảm xúc của mình, biết sáng tạo và làm cho môi trường sống chung quanh trở nên đẹp hơn.

Cấu trúc mô hình SMART - MUSIC, một phương pháp giáo dục âm nhạc có thể phù hợp với học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt.

Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đặc biệt

Việc ứng dụng công nghệ số trong dạy học âm nhạc cho học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt mở ra khả năng tăng cường tính trực quan, linh hoạt và cá nhân hóa quá trình học tập. Những đặc điểm khác biệt về khả năng chú ý, giao tiếp, ghi nhớ và tốc độ tiếp thu của học sinh tự kỷ hoặc khuyết tật trí tuệ đặt ra yêu cầu lựa chọn nội dung, phương pháp và học liệu phù hợp với từng cá nhân.

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.