Trăm năm nghề đáy cửa sông

Với những ngư dân ở vùng cửa sông, có lẽ không có nghề nào đặc trưng và lâu đời như nghề đóng đáy. Nhưng, cũng không có nghề nào bạc bẽo, bấp bênh và trắc trở như nghề này.

Đi gỡ đáy.
Đi gỡ đáy.

Làng đáy vùng hạ lưu

Với nhiều cửa sông đổ ra biển cùng nguồn tài nguyên thủy hải sản vô cùng dồi dào, nghề đóng đáy ở những cửa sông vùng hạ lưu miền đồng bằng sông Cửu Long từng rất thịnh hành, phát triển. Thậm chí, trước kia ở ven các cửa Đại, cửa Tiểu (sông Tiền), cửa Hàm Luông, cửa Cung Hầu… còn có hẳn những làng chuyên nghề đáy, thu hút hàng trăm người tham gia.

Nằm ở nơi sông Hàm Luông rộng lớn đổ về Biển Đông, xóm đáy An Thủy của xã An Thủy (huyện Ba Tri, Bến Tre) những ngày chúng tôi đến buồn hiu hắt. Ông Đặng Văn Bảy, một ngư dân ở đây cho biết: “Vùng An Thủy này từng thu hút hàng trăm hộ dân nghề đóng đáy. Cách đây vài chục năm, dọc cửa sông Hàm Luông này có mấy chục hàng cọc đáy, mọc san sát từ cù lao Linh cho tới cù lao Đất, kéo dài ra tới tận biển. Hai bên bờ sông, ven các cù lao, cồn ở cửa sông, chỗ nào cũng có hàng đáy. Dài thì dăm chục mét, cụt thì năm mười mét… cũng được người dân dựng lên. Những khi mùa mưa như hiện nay, thủy sản dồi dào, mỗi lần gỡ đáy là túi nặng trĩu, khoang ghe đầy ắp cá tôm. Khi ấy, nhiều người còn dựng hẳn chòi canh trên cọc để canh đáy, sống cùng con nước nữa. Có thể nói, không nghề nào đặc trưng và thu hút nhiều người dân với sông nước như nghề đáy vùng hạ lưu”. Cũng theo ông Bảy, nghề đáy có hai loại riêng biệt, là đáy ven biển (cách đất liền chừng 10 hải lý, tức hai mươi cây số) và đáy cửa sông. Hiện nay, vì nhiều lý do, nghề đáy ven biển ít người tham gia, chỉ còn lại những người dân đóng đáy ven cửa sông đổ ra biển.

Nếu sông ở thượng lưu, ngay cả sông Tiền, sông Hậu cũng chỉ rộng chừng một cây số, hoặc hơn chút đỉnh thì khi chảy về hạ lưu, dù đã tách mình thành nhiều nhánh khác, mặt nước vùng cửa biển vẫn rộng mênh mang. Như cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên mà tôi thường đi qua, nhiều đoạn rộng đến bốn, năm cây số. Chưa kể sông chảy ra biển hình phễu, diện tích mặt nước dành cho nghề đáy còn tăng hơn nhiều lần. Đó là lý do mà hầu hết nghề đóng đáy thường chỉ xuất hiện những đoạn hạ lưu, nơi sông và biển gặp nhau. Ngoài ra, còn một yếu tố nữa khiến nghề đáy thường xuất hiện ở những đoạn cuối của dòng sông, chính là do sự phân bổ của dòng cá. Nếu ngư dân thượng nguồn sử dụng các hàng cọc đáy thì chỉ ít thời gian sau, tất cả ngư dân vùng hạ lưu sinh sống bằng nghề khác khó còn nguồn lợi để đánh bắt nữa!

Nghề đáy, như đã nói là nghề đặc trưng ở vùng hạ lưu. Ngư dân dùng các hàng cọc lớn, thường là các cây tràm, cây cừ dài đóng thẳng xuống lòng sông. Mỗi cọc này cách nhau chừng 3-5 mét, tùy theo kích cỡ hàng đáy. Và ở giữa khoảng cách đó, người ta căng những tấm lưới rộng, có thiết kế túi lưới thuận theo chiều nước để cho cá đi qua thì chui vào túi. Mặc dù hàng cọc chắc chắn phải đóng từ đáy sông tới mặt nước nhưng nhiều lưới đáy lại chỉ chắn một phần mặt nước. Điều này, theo ngư dân là một hình thức đánh bắt có chọn lọc chứ không tận diệt, và cũng là để loại bỏ những thứ khác không phải cá tôm chui vào lưới. Đặc biệt, nghề đáy được hình thành dựa trên cơ chế dòng nước chuyển động khi các hàng cọc và lưới được cố định từ trước. Vì thế, những dịp thủy triều lên xuống hay như mùa nước về là thời điểm mà nghề đáy bội thu nhất vì dòng chảy mạnh, dòng thủy hải sản nhiều.

Nếu ai có dịp đi dọc những khu cửa sông đổ ra biển dọc miền biển phía tây của Tổ quốc, từ vùng Gò Công cho tới mũi Cà Mau, thì điểm chung kết nối những miền đất ấy chính là nghề đáy. Trong đó, nhiều làng đáy nổi tiếng như làng đáy Đèn Đỏ ngay cửa Tiểu (sông Tiền) ở xã Tân Thành (Gò Công Đông, Tiền Giang). Hay làng đáy Mỹ Long, xã Mỹ Long Nam (Cầu Ngang, Trà Vinh), làng đáy ở thị trấn Trần Đề (huyện Trần Đề, Sóc Trăng), làng đáy Vàm Láng ở thị trấn Vàm Láng (Gò Công Đông, Tiền Giang)… Đặc điểm chung của những làng đáy này không gì khác là lịch sử lâu đời của những cư dân đã gắn bó cùng nó. Ngày nay, do giao thông đường thủy ngày càng phát triển, các phương tiện ghe thuyền qua lại nhiều khiến nhiều hàng đáy phải dời sát ven bờ hoặc thậm chí phải đóng dọc ven mặt nước, ảnh hưởng nhiều đến sản lượng thu hoạch.

Do đóng ở những vùng nước cố định nên nghề đáy thường có tính truyền đời. Nếu gặp đoạn sông nào thích hợp, ngư dân đóng cọc đáy mưu sinh, rồi có khi truyền lại cho con cho cháu. Nhiều hàng đáy bằng gỗ cừ tràm già ở vùng cửa biển mà tôi qua có tuổi đời vài chục năm. “Đáy chỉ thay lưới, thay dây nhợ chứ cọc tràm thì càng ngâm trong nước càng bền chắc. Như hàng đáy nhà tôi ở cửa sông Cổ Chiên này có từ thời ông nội còn trẻ. Lúc tôi chừng hơn mười tuổi đã chèo ghe đi thu đáy, đến giờ nó vẫn còn. Không biết nó còn ở đây được bao lâu nữa”, ngư dân Nguyễn Văn Thiều, 67 tuổi ở cồn Nghêu, ngay cửa sông Cổ Chiên (huyện Cầu Ngang, Trà Vinh) thổ lộ. Theo ông Thiều, do nhà ông chọn được vùng nước đẹp, hàng đáy tốt nên đến giờ vẫn còn sinh kế, chứ nhiều hàng đáy khác ở ngoài xa hơn một chút, nằm trong vùng nước giao thông đã phải giải tỏa. Người thì chuyển lên bờ, người thì đi tìm vùng nước hẹp hay thậm chí có người còn rong ruổi đi đóng đáy lưu động. Nghĩa là nương theo mùa nước, đóng đáy vài ba tháng lại nhổ lên, tìm sinh kế ở nơi khác. Có lẽ, không gì vất vả, nhọc nhằn hơn những người nghèo khi chấp nhận mưu sinh bằng thói quen và nỗi niềm của thời quá khứ.

Ngày một mai một

Tôi đã từng đi qua rất nhiều cửa sông, ngồi trên rất nhiều những hàng đáy cùng những ngư dân trên bập bềnh sóng nước. Hầu hết những người gắn bó với nghề đáy đều là người già và coi đây là cách mưu sinh. Ông Trần Văn Đạo ở xã Mỹ Long Bắc (huyện Cầu Ngang, Trà Vinh) cho biết, ông làm nghề đáy này đã mấy chục năm. Trước còn khỏe, ra ngoài cửa biển đóng đáy. Nhưng không có gì cơ cực và vất vả bằng nghề đáy ngoài biển nên phải vào bờ. Rồi vì nhớ nghề, mua trăm cây tràm về đóng hàng đáy ở bên phía cồn Bần để mưu sinh. Không như ngoài biển, đáy ở ven sông ít cá tôm hơn do mặt nước hẹp, lại không được chắn ngang con nước vì phải dành cho các phương tiện đường thủy lưu thông. Tuy nhiên, cứ ngày hai bận, nương theo thủy triều, đi gỡ đáy cho đỡ nhớ nghề, nhớ con nước là đủ sống vui rồi!

Nói về việc hiện nay, nhiều người đã không còn gắn bó với nghề đáy, ông Đạo trầm buồn nhìn ra những hàng cọc gỗ phía xa xa: “Nghề đáy đánh bắt theo hình thức bị động, nghĩa là khi đã đóng cọc đáy thì không có chọn lựa nào khác, chỉ chờ đợi đàn cá di chuyển vào. Khác với nghề lưới, nghề câu, nghề giã cào… là chủ động tìm đàn cá, có thể đi từ vùng này qua vùng khác, tùy theo từng mùa, từng thời điểm. Nghề đáy chỉ trông chờ vào con nước “hên xui” mà thôi. Thế nhưng, nghề đáy ngày càng ít đi vì nguồn lợi thủy sản tự nhiên khan hiếm. Đó là chưa kể, ghe tàu lớn giờ cũng nhiều hơn, lâu lâu lại va quẹt, kéo cọc đáy của ngư dân trôi tuốt ra xa, nhất là khi đêm tối, mất cả vốn lẫn hy vọng. Thú thực, nếu không vì tiếc hàng cọc, tôi đã bỏ nghề đáy lâu rồi”. Thực ra, không riêng gì ông Đạo mà nhiều ngư dân vùng cửa sông miệt châu thổ cũng nhận thấy rằng, nghề đáy đang ngày càng mai một ở vùng các cửa sông.

Sông nước mênh mông, những đợt triều cường và triều kiệt từ phía biển muôn đời đều đặn vẫn thế, mang đến và mang đi những hy vọng. Cả rặng dừa nước xanh bạt ngàn nhìn từ xa như một bức tranh thủy mặc vẫn thế. Chỉ có những hàng đáy, ngư dân và cái nghề truyền thống từ trăm năm xưa là đang quay quắt, buồn bã như một vòng quay tất yếu của cuộc mưu sinh.

Có thể bạn quan tâm

Trẻ khiếm thính tham gia hoạt động ngoại khóa.

Rút ngắn khoảng cách để nối dài yêu thương

“Trong hành trình 14 năm vừa làm mẹ vừa đồng hành cùng con, dù đã gặp nhiều người cùng hoàn cảnh nhưng đối với gia đình, con vẫn là riêng biệt nhất”, chị Nông Thị Tình, thành viên nhóm cha mẹ trẻ khiếm thính ở Thái Nguyên chia sẻ.

TS Chu Mạnh Trinh (ngoài cùng bên phải) đi thực tế tại làng gốm Mỹ Thiện.

Ông tiến sĩ của du lịch cộng đồng

“Phải bảo vệ tuyệt đối môi trường tự nhiên”, đó là quan điểm cứng rắn của TS Chu Mạnh Trinh, giảng viên Khoa Sinh - Nông nghiệp - Môi trường Trường đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng).

Những ngày trong rừng, thành viên Đoàn công tác 06 liên tục phải leo ngược dốc để lên trên cao quan sát khu vực nghi có tái trồng cây thuốc phiện.

Cuộc chiến xóa bỏ cây thuốc phiện

So nhiều năm trước, những triền núi đã không còn loang lổ sắc tím hoa thuốc phiện nhưng điều đó không có nghĩa là dấu tích của loài cây ấy không còn hiện hữu.

Tàu vào ga xép Cẩm Giàng.

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Bà Đạm Thư chia sẻ những câu chuyện về A Lưới với bạn bè.

Người phụ nữ nặng lòng với thung lũng da cam

​Tại căn hộ chung cư nhỏ ở TP Hồ Chí Minh, tôi từng chứng kiến một hình ảnh cảm động. Có một bà cụ dáng người nhỏ bé, mái tóc bạc trắng, lưng còng gập xuống đến mức phải tựa hẳn vào chiếc xe đẩy mới có thể đứng vững.

Anh hùng LLVTND Đinh Hữu Thuần trong một lần được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Từ canh trời Tổ quốc đến góc thiền giữa trời Tây Bắc

​Gặp lại người lính ra-đa năm nào, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Đinh Hữu Thuần, giờ đây là Thiền sư Thích Chánh Tuệ giữa mù sương Sa Pa, chúng tôi hiểu rằng: Sau cùng, vinh quang lớn nhất không phải là tấm huy chương lấp lánh trên ngực áo, mà là sự tự tại, bao dung trong một tâm hồn đã dâng hiến trọn vẹn cho Tổ quốc.

Quay tời thả “cá sắt” xuống dòng sông Năng.

Lặng lẽ Đầu Đẳng

Tôi mượn ý của nhà văn Nguyễn Thành Long trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” cũng để nói về những người làm nghề “gác” trạm khí tượng thủy văn ở Đầu Đẳng. Đã hơn 50 năm, tác phẩm "Lặng lẽ Sa Pa" ra đời nhưng ở Trạm thủy văn Đầu Đẳng (xã Ba Bể, Thái Nguyên) vẫn “ba không”: Không đường, không điện, không nước sạch.

Nghệ nhân Váng Vần Séng (trái) chơi đàn lìn xìn.

Đàn lìn xìn còn vang trên núi non

Thèn Hồng Quân dẫn tôi tới nhà ông Váng Vần Séng ở thôn Cốc Coọc, xã Pà Vầy Sủ, tỉnh Tuyên Quang. Ông là nghệ nhân chế tạo đàn lìn xìn - loại nhạc cụ dùng đệm cho các khúc hát dân gian của người Nùng. Đã lâu lắm mới lại có người hỏi đàn, ông nhớ người mua đàn một, nhớ điệu hát, tiếng đàn đến mười phần.

Đường lên khu A Trạm radar 485.

Vượt dốc thăm nhà trên núi của lính biển

Chỉ còn đúng một chuyến tàu cao tốc ra đảo Trà Bản (đặc khu Vân Đồn, Quảng Ninh) lúc chúng tôi tới. Những con tàu gỗ chở khách khác đã nép mình nơi góc cảng Cái Rồng. Trời đổ mưa từ sáng, gió ngoài vịnh Bái Tử Long cũng bắt đầu trở mình.

Cán bộ, chiến sĩ tàu 740 (Hải đoàn 129, Quân chủng Hải quân) được chở tới Nhà giàn DK1/20 để thực hiện bỏ phiếu sớm.

Lá phiếu chủ quyền trên sóng thềm lục địa

Những ngày đất liền vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị cho kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, thì trên Biển Đông, nhiều khu vực đã hoàn thành việc bỏ phiếu sớm. Năm nay, hành trình bỏ phiếu sớm cũng tiến hành ngay khi kỳ nghỉ Tết Nguyên đán vừa kết thúc.

Nhiệt huyết của những người lính ra khơi năm xưa còn chảy vào lớp người hôm nay ở Lý Sơn.

Nghĩa khí đất đảo hùng binh

Giữa mênh mang Biển Đông, hòn đảo vẫn lặng lẽ mà hiên ngang nơi đầu sóng ngọn gió, vừa là tiền đồn, vừa là chứng nhân cho hành trình mở cõi, giữ biển.

Những bản làng của đồng bào Pa Kô, Vân Kiều dọc đường biên giới.

Đi trong sương giá biên thùy

Có những chuyến đi để trở về, nhưng cũng có những chuyến đi để thấy mình “lớn” thêm trong sự nhỏ bé trước cuộc đời. Đêm 28 Tết Bính Ngọ, Hà Nội bắt đầu nồng nàn mùi nước lá mùi già, tôi lại chọn ngược gió, ngược sương để tìm về dải đất miền trung nắng cháy - nơi mà “Tết” là một khái niệm vừa thân thương, vừa xa xôi đến lạ lùng.

Kíp xuồng tàu Trường Sa 19 đang nhận hàng để đưa lên nhà giàn DK1/2 (bãi cạn Phúc Tần).

Đi về phía mặt trời (kỳ 1)

Từ cầu cảng KTQP Trường Sa (Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân, Thành phố Hồ Chí Minh) xuất phát, chúng tôi bắt đầu hải trình về nơi những bãi cạn trên thềm lục địa phía nam, trong chuyến thăm, chúc Tết theo thông lệ hằng năm. 

Trương Chấn Sang vẫn ngày ngày nỗ lực mang niềm tin và hy vọng đến cho những thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn trên khắp mọi miền Tổ quốc.

"Đi về phía nắng" từ bóng tối nghịch cảnh

Có những hạt mầm không may rơi vào kẽ đá, chịu đựng biết bao khắc nghiệt từ bão giông, nhưng khi vươn mình đón nắng lại trở thành nhành cây kiên cường nhất. Chàng trai sinh năm 1997 Trương Chấn Sang là một nhành cây như thế.

Anh Trần Thanh Quang (đứng giữa) lưu giữ nét tinh hoa ẩm thực Huế.

Ngọt thơm ký ức tìm về

Cứ độ Tết đến xuân về, trong mỗi gia đình xứ Huế luôn ngào ngạt hương thơm của các loại bánh mứt. Sự khéo tay, óc sáng tạo của người Huế được thể hiện qua từng đường nét và mùi vị bánh trái. Ánh nắng dịu nhẹ ở vùng đất cố đô xưa càng thêm bình yên qua từng câu chuyện về ẩm thực cung đình, bánh mứt dân gian.

Nhiều trẻ mắc chứng tự kỷ vui chơi với người thân tại khu vực Amehouse mà vợ chồng Vân Anh đã lập ra.

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Vân Anh năm nay 40 tuổi, sống cách Hoàn Kiếm của Hà Nội chỉ hơn chục cây số. Chị từng là giám đốc điều hành của một công ty có hàng trăm nhân viên, quen với áp lực, nhịp sống gấp gáp và những quyết định lớn nhỏ mỗi ngày.

Biểu diễn trống đất kết hợp hát ví, hát giang của người Mường.

Về đất Tổ nghe “Toòng Tửng” cùng trống đất

Trống đất không phải là một chiếc trống da như chúng ta hình dung bình thường, có thể mang đi, mà thật sự là nhạc cụ được tạo tác từ lòng đất. Còn Toòng Tửng là một nhạc cụ bộ gõ. Toòng Tửng đi cùng với trống đất mới tạo nên bộ nhạc cụ hoàn chỉnh.

Miến dong ở Côn Minh vẫn được phơi nắng theo phương pháp truyền thống.

Thương hiệu dong riềng trên đất sỏi

Khi sương muối giăng kín đỉnh Áng Toòng, đất Côn Minh (tỉnh Thái Nguyên) bừng tỉnh trong nhịp sống hối hả nhất của năm. Trên những sườn đồi cằn sỏi đá, cây dong riềng “ăn sương, uống gió” vẫn bung hoa đỏ. Những củ dong xù xì qua đôi bàn tay cần cù tạo nên những sợi miến dai ngon danh bất hư truyền.

Nghề nuôi thủy sản tại vịnh Xuân Đài đang gượng dậy sau thiên tai.

Bắt đầu lại với những điều chưa bao giờ

Chưa bao giờ người dân Phú Yên và Quy Nhơn cũ (nay là Gia Lai và Đắk Lắk) lại xuống giống vụ đông xuân muộn thế. Chưa bao giờ những chợ tôm hùm ở Sông Cầu (Đắk Lắk) mùa này vắng thế. Chưa bao giờ hai nơi này lại nhiều ngôi nhà phải xây sửa đến thế, dù đang vào mùa mưa...

Phạm nhân T.T.T. chạy lại đỡ mẹ già trên sân khấu chương trình.

Thắp sáng những ước mơ hoàn lương

Phía sau mỗi bản án đều là một cuộc đời. Khi sai lầm được nhận thức đúng và đủ, khát vọng làm lại sẽ thay thế những gam mầu tối trong tâm tưởng mỗi con người. Nhờ những chính sách khoan hồng của Nhà nước, ngày về trong giấc mơ mỗi đêm của phạm nhân T.T.T. đã không còn xa.