Tiêu chuẩn kỹ thuật - “Hạ tầng mềm” thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW

Để phát triển công nghệ chiến lược, bên cạnh nguồn vốn, nhân lực, hạ tầng nghiên cứu hay doanh nghiệp công nghệ, còn cần một “hạ tầng mềm” có vai trò nền tảng, đó là hệ thống tiêu chuẩn.

Tập đoàn Viettel nghiên cứu, phát triển thiết bị 5G, sản phẩm thuộc danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược.
Tập đoàn Viettel nghiên cứu, phát triển thiết bị 5G, sản phẩm thuộc danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược.

Vai trò của tiêu chuẩn đối với sản phẩm công nghệ chiến lược

Một trong những yêu cầu quan trọng khi triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là gắn phát triển công nghệ chiến lược với công tác tiêu chuẩn, đo lường, thử nghiệm, chứng nhận và đánh giá sự phù hợp. Nếu trước đây, tiêu chuẩn thường được xây dựng sau khi sản phẩm đã hình thành, thì với tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, tiêu chuẩn phải đi trước một bước, đóng vai trò định hướng, lựa chọn, làm chủ, phát triển công nghệ.

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược nhằm đẩy mạnh việc triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW sâu rộng, hiệu quả hơn. Việc ban hành quyết định đặt ra yêu cầu đổi mới cách tiếp cận trong việc lựa chọn, xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn phục vụ phát triển công nghệ chiến lược.

Quyết định xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược là các công nghệ có tốc độ đổi mới nhanh, khả năng tác động lan tỏa lớn và liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh quốc gia, tự chủ công nghệ, an ninh kinh tế, an ninh dữ liệu và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ban hành danh mục 30 sản phẩm công nghệ chiến lược. Đây là cơ sở quan trọng để hoạt động tiêu chuẩn hóa chuyển từ cách tiếp cận theo “lĩnh vực công nghệ” sang cách tiếp cận theo “sản phẩm cụ thể”. Điều này có ý nghĩa thực tiễn lớn, bởi tiêu chuẩn chỉ có thể lan tỏa rộng, phát huy hiệu quả khi gắn với sản phẩm cụ thể, thương mại hóa được trên thị trường.

Đối với sản phẩm công nghệ chiến lược, tiêu chuẩn tác động trực tiếp đến toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ thiết kế, yêu cầu kỹ thuật, quy trình sản xuất, phương pháp thử nghiệm, kiểm soát chất lượng, đánh giá chứng nhận, tới khả năng tiếp cận thị trường. Trong nhiều trường hợp, tiêu chuẩn chính là “giấy thông hành” để sản phẩm được thị trường chấp nhận. Nếu không được thử nghiệm, chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn thích hợp, doanh nghiệp khó được thị trường chấp nhận, nhất là thị trường quốc tế.

Triển khai Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia đã rà soát, cập nhật hệ thống tiêu chuẩn liên quan các nhóm công nghệ chiến lược. Kết quả bước đầu tổng hợp được 2.441 tiêu chuẩn, trong đó có 835 tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và 1.606 tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài.

Triển khai Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia đã rà soát, cập nhật hệ thống tiêu chuẩn liên quan các nhóm công nghệ chiến lược.

Kết quả bước đầu tổng hợp được 2.441 tiêu chuẩn, trong đó có 835 tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và 1.606 tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài. Bên cạnh thống kê số lượng tiêu chuẩn theo nhóm, sản phẩm công nghệ, còn xác định tiêu chuẩn cụ thể nào phục vụ trực tiếp sản phẩm công nghệ chiến lược nào, nhờ đó việc triển khai, áp dụng tiêu chuẩn dễ dàng, hiệu quả hơn.

Đổi mới cách tiếp cận xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn

Việc lựa chọn áp dụng trực tiếp tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài hay tổ chức nghiên cứu, xây dựng Tiêu chuẩn Việt Nam mới không nên xuất phát từ tư duy “có càng nhiều Tiêu chuẩn Việt Nam càng tốt”, lấy số lượng Tiêu chuẩn Việt Nam được công bố là mục tiêu, mà phải dựa trên trình độ phát triển kinh tế-xã hội, năng lực khoa học, công nghệ, mức độ làm chủ R&D (nghiên cứu và phát triển), yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu thị trường.

Đối với nhiều sản phẩm công nghệ chiến lược như nền tảng điện toán đám mây, hệ thống mạng 5G/6G, hạ tầng chuỗi khối, chíp chuyên dụng, an ninh mạng, truyền thông lượng tử, vệ tinh quỹ đạo thấp, UAV, hệ thống tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài đã phát triển rất mạnh.

Các lĩnh vực này có chu kỳ đổi mới ngắn, yêu cầu tương thích toàn cầu rất cao và phụ thuộc vào chuỗi cung ứng, hệ thống kết nối quốc tế. Do đó, cách tiếp cận phù hợp nhất là ưu tiên áp dụng trực tiếp tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài, giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian nghiên cứu, giảm chi phí tuân thủ và thuận lợi cho việc đạt chứng chỉ quốc tế, tiếp cận thị trường quốc tế.

Việc lựa chọn áp dụng trực tiếp tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài hay tổ chức nghiên cứu, xây dựng Tiêu chuẩn Việt Nam mới không nên xuất phát từ tư duy “có càng nhiều Tiêu chuẩn Việt Nam càng tốt”, lấy số lượng Tiêu chuẩn Việt Nam được công bố là mục tiêu, mà phải dựa trên trình độ phát triển kinh tế-xã hội, năng lực khoa học, công nghệ, mức độ làm chủ R&D (nghiên cứu và phát triển), yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu thị trường.

Ngược lại, một số sản phẩm, công nghệ có tính đặc thù, do doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu, phát triển, đồng hành, có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh thì ưu tiên xây dựng thành Tiêu chuẩn Việt Nam.

Trong bối cảnh thực hiện gấp, việc ưu tiên xây dựng tiêu chuẩn nào trước cần bám sát Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược. Trước mắt, có thể ưu tiên các sản phẩm công nghệ đã có thị trường hoặc có khả năng tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế, xã hội như mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, trợ lý ảo và AI chuyên ngành; AI camera xử lý tại biên; nền tảng bản sao số; nền tảng điện toán đám mây; hạ tầng chuỗi khối và truy xuất nguồn gốc; thiết bị và hệ thống mạng 5G/6G; robot công nghiệp; sản xuất thông minh; giải pháp an ninh mạng; pin, ắc-quy tiên tiến và hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS); hydrogen xanh, nhiên liệu sinh học; thiết bị điện cao áp, siêu cao áp; UAV.

Đối với các sản phẩm nền tảng cho tương lai hoặc liên quan mạnh đến tự chủ trong an ninh, quốc phòng như chíp chuyên dụng, công nghệ lượng tử, đất hiếm, công nghệ biển sâu, năng lượng ngoài khơi, đường sắt tốc độ cao… cần xây dựng lộ trình, áp dụng tiêu chuẩn trung và dài hạn. Các lĩnh vực này đòi hỏi chuyên gia sâu, hạ tầng thử nghiệm lớn, thời gian xây dựng dài hơn, cần sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa bộ, ngành, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu...

Cơ chế đặc thù cho xây dựng tiêu chuẩn

Khó khăn lớn nhất hiện nay là thiếu chuyên gia tiêu chuẩn đạt trình độ và trực tiếp tham gia ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc tế; hệ thống TCVN về công nghệ chiến lược chưa phát triển đầy đủ. Đối với các lĩnh vực truyền thống, hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI) hiện đã có mạng lưới chuyên gia, doanh nghiệp sản xuất, phòng thử nghiệm và tổ chức chứng nhận, giám định tương đối ổn định. Nhưng đối với các lĩnh vực công nghệ mới nổi như AI tạo sinh, tính toán lượng tử, cảm biến lượng tử, chíp chuyên dụng, BESS, hydrogen xanh, lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ (SMR), vệ tinh quỹ đạo thấp, UAV, đường sắt tốc độ cao… thì năng lực hạ tầng kỹ thuật còn hạn chế.

Để xây dựng tiêu chuẩn cho công nghệ chiến lược, đòi hỏi chuyên gia giỏi chuyên môn, được đào tạo về nghiệp vụ xây dựng tiêu chuẩn. Hiện nay, đội ngũ chuyên gia Việt Nam có kinh nghiệm tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc tế trong các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ mới nổi còn hạn chế. Năng lực R&D, thương mại hóa sản phẩm của tổ chức, doanh nghiệp trong nước chưa đồng đều giữa các nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược.

Để triển khai hiệu quả Nghị quyết 57-NQ/TW, Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg cần có cơ chế đặc thù cho tiêu chuẩn công nghệ chiến lược. Trước hết, cần hình thành mạng lưới chuyên gia quốc gia về tiêu chuẩn công nghệ chiến lược, huy động từ doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức thử nghiệm, tổ chức chứng nhận, kết nối chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế.

Thứ hai, cần có cơ chế tài chính đủ mạnh để tăng cường đào tạo chuyên gia tiêu chuẩn, hỗ trợ chuyên gia Việt Nam tham gia sâu vào các ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc tế; hỗ trợ doanh nghiệp hàng đầu chủ trì xây dựng tiêu chuẩn công nghệ cao từ các kết quả nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu chất lượng và mức độ làm chủ công nghệ chiến lược của Việt Nam.

Thứ ba, hệ thống tiêu chuẩn công nghệ chiến lược phải gắn với phát triển hệ thống phòng thử nghiệm trọng điểm quốc gia, trình độ của tổ chức chứng nhận, công nhận trong nước và mở rộng ký kết thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau kết quả đánh giá sự phù hợp.

Việc xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn công nghệ chiến lược chỉ thật sự có ý nghĩa khi doanh nghiệp trong nước có thể đánh giá thử nghiệm, chứng nhận sản phẩm theo tiêu chuẩn tương ứng và được thị trường quốc tế chấp nhận.

Có thể bạn quan tâm

Hội thảo quy tụ khoảng 70 chuyên gia, đại diện các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế trong lĩnh vực hạt nhân. (Ảnh: TRUNG HƯNG)

Kết nối nguồn lực trí thức người Việt toàn cầu, mở rộng hợp tác phát triển điện hạt nhân

Các chuyên gia cho rằng, những yêu cầu cấp thiết đối với chương trình điện hạt nhân Việt Nam gồm chuẩn bị nguồn nhân lực, tiếp nhận tri thức và kinh nghiệm quốc tế, đồng thời xây dựng những cơ chế hợp tác để nguồn lực trí thức người Việt ở nước ngoài có thể đóng góp hiệu quả cho đất nước.

EVNCPC bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định, thông suốt trong dịp lễ 2/9.

Ứng dụng khoa học công nghệ vào vận hành lưới điện miền trung

Từ trạm biến áp không người trực, điều khiển xa đến robot giám sát, những giải pháp công nghệ đang từng bước thay đổi việc vận hành, nâng cao năng suất và độ tin cậy cung cấp điện, góp phần cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ làm thay đổi tích cực cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới

Trong 40 năm qua (1986-2026), cùng với quá trình đổi mới tư duy phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách xóa đói, giảm nghèo đã có bước chuyển căn bản cả về quan điểm, mục tiêu và phương thức thực hiện.

Cán bộ kỹ thuật VNPT hướng dẫn giáo viên Trường Tiểu học Đại Thịnh (sau sáp nhập) thao tác sử dụng các tính năng của hệ sinh thái giáo dục VnEdu. (Ảnh: VNPT)

Số hóa quản trị trường học sau sáp nhập và lời giải từ VnEdu

Đứng trước bài toán quy mô tăng gấp đôi sau sáp nhập, Trường Tiểu học Đại Thịnh (Mê Linh, Hà Nội) đã nhanh chóng giải tỏa áp lực quản trị và chuẩn hóa dòng dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống” nhờ điểm tựa vững chắc từ Hệ sinh thái giáo dục số VnEdu của VNPT.

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

Ngay sau khi SpaceX hoàn tất thương vụ thâu tóm trị giá 60 tỷ USD đối với Anysphere, công ty chủ quản của công cụ lập trình AI đình đám Cursor, OpenAI đã lập tức tuyên bố trên mạng xã hội X và website chính thức rằng sẽ chấm dứt hợp tác và khóa quyền truy cập trực tiếp của Cursor vào toàn bộ các mô hình trí tuệ nhân tạo của họ.

Giới thiệu sản phẩm ứng dụng AI tại Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam năm 2025. (Ảnh: HÀ LINH)

Chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng trí tuệ nhân tạo

Ngày 28/8/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quyết định này thay thế Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/1/2021 về ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.

Đà Nẵng triển khai thành công mô hình Trung tâm điều hành thông minh (IOC).

Nâng cao năng lực số cho cán bộ cơ sở

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, năng lực số không còn là kỹ năng bổ trợ, mà đã trở thành một bộ phận thiết yếu của năng lực thực thi công vụ. Đổi mới phương thức đào tạo sẽ giúp nâng cao năng lực số, giảm tình trạng cán bộ cấp cơ sở không đồng đều về năng lực số ở một số địa phương hiện nay.

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, công bố Giải thưởng tại cuộc họp báo định kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ. (Ảnh: HÀ LINH)

Giải thưởng Make in Vietnam có hạng mục riêng về trí tuệ nhân tạo

Giải thưởng “Sản phẩm công nghệ số Make in Vietnam” năm 2026 lần đầu tiên có hạng mục riêng dành cho sản phẩm trí tuệ nhân tạo (AI) xuất sắc nhằm khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam phát triển các sản phẩm trí tuệ nhân tạo có giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Giao diện Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo. (Ảnh chụp màn hình)

Vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo

Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo (AI) và cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đưa vào vận hành, hình thành một đầu mối thống nhất phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp thông tin và hỗ trợ phát triển hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo Việt Nam an toàn, có trách nhiệm.

Robot taxi tự hành do Công ty cổ phần Phenikaa-X nghiên cứu phát triển là một trong bốn dòng phương tiện được thử nghiệm.

Kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm

Việc Công ty cổ phần Phenikaa-X là đơn vị đầu tiên tại Hà Nội triển khai thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với phương tiện tự hành đánh dấu bước chuyển từ nghiên cứu, phát triển công nghệ sang kiểm chứng trong thực tế, từ quản lý công nghệ mới sang kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm và đưa vào thực tiễn.

Doanh nghiệp tìm hiểu giải pháp hạ tầng trung tâm dữ liệu tại DCCI Summit 2026 (Ảnh Viettel IDC)

Khơi thông dòng chảy dữ liệu

Việt Nam đang từng bước hình thành không gian dữ liệu thống nhất, mở rộng khả năng kết nối, chia sẻ và đưa dữ liệu vào lưu thông. 

Nguyễn Vũ An Chi, học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Lý Thái Tổ, Hà Nội. (Ảnh: VNPT)

Năm học mới và những “lớp học” trong chiếc điện thoại

Từ thời khóa biểu, tài liệu ôn tập đến những buổi học trực tuyến, chiếc điện thoại kết nối internet đang hiện diện trong nhiều hoạt động học tập hằng ngày của người trẻ. Khi năm học mới bắt đầu, nhu cầu kết nối vì thế không chỉ gắn với liên lạc hay giải trí, mà ngày càng gắn với khả năng học tập chủ động và linh hoạt hơn.

Tỉnh đoàn Tây Ninh và MobiFone Tây Ninh ký kết Thỏa thuận hợp tác chiến lược về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030. (Ảnh: THANH PHONG)

Tuổi trẻ Tây Ninh tiên phong chuyển đổi số

Nhằm cụ thể hóa mục tiêu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngày 27/8, Tỉnh đoàn Tây Ninh tổ chức Hội nghị tập huấn nâng cao năng lực số cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến tại 150 điểm cầu ở các xã, phường và trường học trên địa bàn.

(Ảnh minh họa: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Không chỉ “có sóng”, người dân cần internet đủ nhanh, ổn định

Điện thoại hiển thị vạch sóng nhưng người dân vẫn khó gửi hồ sơ, truy cập dịch vụ số; có nơi việc liên lạc còn phụ thuộc vào “may rủi”. Thông tư số 51/2026/TT-BKHCN đưa ra cách tiếp cận mới: phổ cập viễn thông công ích không chỉ được tính bằng vùng phủ, mà phải được kiểm chứng bằng chất lượng kết nối thực tế.

Cần thu hút và giữ chân những tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học đủ năng lực đảm nhận các nhiệm vụ công nghệ chiến lược. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Tạo sức hút mới với nhân lực công nghệ chiến lược

Người giỏi có thể được thu hút bằng thu nhập, nhưng để họ ở lại và tạo ra kết quả, cần những bài toán đủ lớn, phòng thí nghiệm hiện đại, đội ngũ cộng sự và quyền quyết định chuyên môn. Nghị định số 260/2026/NĐ-CP đã mở cơ chế theo hướng đó; vấn đề còn lại là đưa chính sách vào thực tiễn.