Chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới

Trong 40 năm qua (1986-2026), cùng với quá trình đổi mới tư duy phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách xóa đói, giảm nghèo đã có bước chuyển căn bản cả về quan điểm, mục tiêu và phương thức thực hiện.

Chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ làm thay đổi tích cực cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.
Chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ làm thay đổi tích cực cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Xóa đói, giảm nghèo luôn là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong suốt quá trình đổi mới đất nước, đồng thời là trụ cột của hệ thống chính sách an sinh xã hội và phát triển bền vững. Việc tổng kết 40 năm đổi mới chính sách giảm nghèo có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, làm cơ sở khoa học để đề xuất các định hướng chiến lược trong bối cảnh mới.

Từ chỗ tập trung giải quyết tình trạng thiếu đói, bảo đảm nhu cầu tối thiểu, chính sách từng bước chuyển sang tạo sinh kế, nâng cao năng lực, giảm nghèo đa chiều và hướng tới phát triển con người. Nhờ đó, tỷ lệ nghèo giảm nhanh qua các giai đoạn, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bao trùm, củng cố ổn định chính trị và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.

Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới, khi Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, giảm nghèo không chỉ dừng ở góc độ thu nhập mà ngày càng gắn liền với khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường khả năng chống chịu trước các rủi ro kinh tế - xã hội. Điều đó đòi hỏi hệ thống chính sách phải tiếp tục được đổi mới theo hướng hiện đại, bao trùm, lấy con người làm trung tâm.

Quá trình phát triển tư duy và chính sách xóa đói, giảm nghèo

Tư duy và chính sách giảm nghèo ở Việt Nam qua 40 năm Đổi mới thể hiện qua bốn bước chuyển mang tính lịch sử:

Giai đoạn 1986-1995: Từ cứu đói khẩn cấp đến bảo đảm an ninh lương thực. Đầu thời kỳ Đổi mới, Việt Nam là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới với GDP bình quân đầu người chỉ khoảng 95-100 USD, lạm phát năm 1986 lên tới 774%. Các chính sách đổi mới kinh tế, đặc biệt là Khoán 10 (1988) và cải cách cơ chế thị trường, đã tạo bước ngoặt quan trọng, đưa Việt Nam từ nước thiếu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo từ năm 1989. An ninh lương thực được bảo đảm đã tạo nền tảng vững chắc cho công cuộc giảm nghèo. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), đến năm 1993, tỷ lệ nghèo của Việt Nam là 58,1% , phản ánh điểm xuất phát thấp nhưng cũng ghi nhận nỗ lực to lớn của đất nước.

Giai đoạn 1996-2010: Thể chế hóa chính sách và hình thành các chương trình mục tiêu quốc gia. Giai đoạn này đánh dấu sự thể chế hóa hệ thống chính sách giảm nghèo thông qua các chương trình quy mô lớn: Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo; Chương trình 135 hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi; Chương trình 134 hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nhà ở và nước sinh hoạt; đồng thời thành lập Ngân hàng Chính sách Xã hội (2002) để cung cấp tín dụng ưu đãi. Điểm nổi bật là sự chuyển đổi từ hỗ trợ đơn lẻ sang cách tiếp cận tổng hợp, kết hợp đầu tư hạ tầng, tín dụng, giáo dục, y tế và đào tạo nghề. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58,1% (1993) xuống còn 14,2% (2010), giúp Việt Nam trở thành điểm sáng thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs).

Giai đoạn 2011-2020: Chuyển mạnh sang giảm nghèo bền vững và tiếp cận đa chiều. Nghị quyết số 80/NQ-CP năm 2011 [9] đã xác lập quan điểm giảm nghèo bền vững, chuyển trọng tâm từ hỗ trợ thu nhập sang tạo cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Năm 2016, Việt Nam chính thức áp dụng chuẩn nghèo đa chiều [3], bổ sung tiêu chí giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, vệ sinh và thông tin. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia giảm từ 14,2% (2010) xuống 2,75% (2020) [5]. Tính theo chuẩn nghèo của nhóm nước thu nhập trung bình thấp (3,2 USD PPP/ngày), tỷ lệ nghèo giảm từ 16,8% xuống còn 5,0%, đưa hơn 10 triệu người thoát nghèo trong thập kỷ này [13].

Giai đoạn 2021-2026: Giảm nghèo đa chiều, bao trùm và thích ứng với bối cảnh mới. Trong bối cảnh chịu tác động của dịch bệnh, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu và già hóa dân số, chính sách giảm nghèo tiếp tục đổi mới lấy con người làm trung tâm. Trọng tâm là triển khai đồng bộ ba Chương trình mục tiêu quốc gia: Giảm nghèo bền vững, Xây dựng nông thôn mới, Phát triển kinh tế-xã hội vùng DTTS và miền núi). Nghị quyết số 42-NQ/TW (2023) [2] xác lập định hướng xây dựng hệ thống chính sách xã hội toàn diện, hiện đại, bao trùm, đánh dấu bước chuyển từ "giảm nghèo" sang "phát triển con người". Giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm bình quân 1,03%/năm; riêng huyện nghèo giảm 6,7%/năm. Đến cuối năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 1,93% [4] và năm 2025 giảm xuống khoảng 1,3%.

Thành tựu nổi bật và một số hạn chế, thách thức

Những thành tựu nổi bật:

Thứ nhất, giảm mạnh tỷ lệ nghèo, cải thiện rõ rệt đời sống nhân dân. Tỷ lệ nghèo giảm từ 58,1% (1993) [12] xuống còn khoảng 1,3% (2025). GDP bình quân đầu người tăng từ khoảng 100 USD (thập niên 1980) lên 5.026 USD (năm 2025). Hàng chục triệu người đã thoát nghèo bền vững.

Thứ hai, chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang phát triển sinh kế bền vững. Tín dụng chính sách và đào tạo nghề dần thay thế trợ cấp thụ động. Giai đoạn 2021-2025, Ngân hàng Chính sách xã hội đã cho hơn 10,6 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách vay vốn với tổng doanh số trên 517 nghìn tỷ đồng, giúp tạo việc làm và nâng cao năng lực tự chủ.

Thứ ba, thu hẹp khoảng cách phát triển vùng miền và hoàn thiện hạ tầng an sinh. Nguồn lực ưu tiên cho vùng "lõi nghèo", vùng DTTS và miền núi. Đặc biệt, phong trào "Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát" cùng các chương trình mục tiêu quốc gia đã cải thiện căn bản hạ tầng giao thông, điện, trường, trạm, nước sạch.

Thứ tư, củng cố ổn định chính trị-xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giảm nghèo góp phần nâng cao đời sống nhân dân, củng cố niềm tin đối với Đảng, Nhà nước, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Thứ năm, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam. WB, UNDP đánh giá Việt Nam là mô hình thành công về giảm nghèo và là quốc gia tiên phong trong ứng dụng chuẩn nghèo đa chiều, góp phần nâng cao Chỉ số Phát triển Con người (HDI).

Một số hạn chế, thách thức: Nguy cơ tái nghèo còn cao trước thiên tai, biến đổi khí hậu; khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng còn lớn; người nghèo gặp rào cản kỹ năng số; áp lực từ già hóa dân số nhanh; một bộ phận người dân vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ.

Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn

Thứ nhất, cần bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và vai trò kiến tạo của Nhà nước, coi giảm nghèo là nhiệm vụ chính trị trọng tâm xuyên suốt.

Thứ hai, chuyển từ tư duy hỗ trợ sang phát triển năng lực tự chủ của người dân, chuyển từ "cho cái cần" sang trao quyền, tạo cơ hội sinh kế bền vững.

Thứ ba, nên lồng ghép chính sách, đa dạng hóa nguồn lực, kết hợp giữa ngân sách nhà nước với sự đóng góp của doanh nghiệp, cộng đồng và các tổ chức quốc tế.

Thứ tư, đổi mới chuẩn nghèo và hiện đại hóa phương thức quản trị dựa trên chuyển đổi số và dữ liệu dân cư quốc gia để bảo đảm chính xác, công khai, minh bạch.

Thứ năm, gắn giảm nghèo với phát triển con người, bảo đảm an sinh xã hội bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau.

Định hướng đổi mới chính sách xóa đói, giảm nghèo trong bối cảnh mới

Hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, công tác giảm nghèo cần tập trung thực hiện các định hướng chiến lược sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy giảm nghèo theo hướng phát triển bao trùm. Chuyển mạnh từ hỗ trợ thụ động sang tạo môi trường phát triển, lấy người dân làm chủ thể, khuyến khích tinh thần tự lực vươn lên. Tích hợp chính sách giảm nghèo vào các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội tổng thể.

Thứ hai, đổi mới phương thức quản trị giảm nghèo dựa trên công nghệ số. Tiếp tục hoàn thiện chuẩn nghèo đa chiều gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa dữ liệu an sinh xã hội để quản lý, phân bổ nguồn lực chính xác và hiệu quả.

Thứ ba, ưu tiên nguồn lực cho vùng "lõi nghèo" và phát triển sinh kế xanh, bền vững. Tập trung đầu tư hạ tầng kết nối, giáo dục, y tế, đào tạo nghề và tín dụng chính sách cho vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo; hỗ trợ chuyển giao công nghệ sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ tư, huy động sự tham gia của toàn xã hội và tăng cường hợp tác quốc tế. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội; mở rộng hợp tác quốc tế nhằm tiếp thu kinh nghiệm và nguồn lực thực hiện hiệu quả các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs).

Chặng đường 40 năm Đổi mới (1986-2026) chứng kiến bước chuyển mình lịch sử của chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam - từ cứu trợ khẩn cấp sang phát triển năng lực, từ giảm nghèo đơn chiều sang đa chiều và an sinh xã hội bao trùm. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, khi tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống mức thấp, trọng tâm chính sách cần chuyển mạnh từ "giảm tỷ lệ hộ nghèo" sang "nâng cao chất lượng thoát nghèo và phòng ngừa tái nghèo". Lấy phát triển con người làm trung tâm, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội chính là chìa khóa để Việt Nam giữ vững thành quả giảm nghèo, hướng tới phát triển nhanh, bền vững và xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Có thể bạn quan tâm

Phó Tổng Giám đốc FPT, Phạm Minh Tuấn cho rằng Thành phố Hồ Chí Minh có thể trở thành “customer zero” cho AI và công nghệ lượng tử. (Ảnh: FPT)

Thành phố Hồ Chí Minh trước cơ hội trở thành "Customer Zero" cho AI và công nghệ lượng tử

Đại diện Tập đoàn FPT cho biết với lợi thế về dữ liệu, những bài toán thực tế ở quy mô lớn và xu hướng công nghệ chủ quyền, Thành phố Hồ Chí Minh có thể trở thành "customer zero" (Khách hàng số 0) - nơi đặt ra bài toán, kiểm thử và hoàn thiện các giải pháp công nghệ mới trước khi đưa ra thị trường quốc tế.

Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng ban Chỉ đạo 57 tỉnh Quảng Trị Vương Quốc Tuấn kết luận phiên họp chuyên đề về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và đánh giá kết quả công tác quý III/2026 ngày 13/10. (Ảnh: HG)

Quảng Trị phê bình 43 xã, phường về đầu tư công lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phân công và tổ chức thực hiện phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở một số cơ quan, địa phương chưa quyết liệt, chưa gắn trách nhiệm cá nhân với sản phẩm, tiến độ và kết quả cho nên lãnh đạo 43 xã, phường tại tỉnh Quảng Trị bị nghiêm khắc phê bình. 

Các đại biểu tham dự bài giảng đại chúng về các giải Nobel khoa học năm 2026. (Ảnh: Nhật Minh)

Ba giải Nobel khoa học năm 2026: Từ nghiên cứu cơ bản đến ứng dụng thực tiễn

Chiều 15/10, Trung tâm Dữ liệu và Thông tin khoa học phối hợp Viện Khoa học vật liệu, Đoàn Thanh niên Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tổ chức chương trình bài giảng đại chúng giới thiệu ba giải Nobel khoa học 2026 về các lĩnh vực vật lý, hóa học và y sinh; thu hút đông đảo cán bộ, sinh viên, nhà nghiên cứu tham dự.

Quang cảnh buổi làm việc giữa lãnh đạo Tỉnh ủy Cà Mau với Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo. (Ảnh: HỮU TÙNG)

Đổi mới sáng tạo phải bắt đầu từ những bài toán cụ thể của Cà Mau

Ngày 15/10, các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Nguyễn Hồ Hải, Bí thư Tỉnh ủy; Đặng Văn Dũng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Cà Mauchủ trì buổi làm việc với Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo tỉnh (CiNEC) về tình hình hoạt động và định hướng chiến lược phát triển cho trung tâm trong thời gian tới.

Đại diện Zalo và Zalo Video nhận cúp vinh danh tại Vietnam Digital Awards 2026. (Ảnh: Zalo )

Zalo đạt giải thưởng kép nhờ hiệu quả xuất sắc khi đưa công nghệ vào cuộc sống

Tại Lễ trao Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam 2026 (Vietnam Digital Awards – VDA 2026) diễn ra ở Hà Nội, “Bộ giải pháp Zalo mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ” và “Zalo Video - Nền tảng video dành cho người Việt” cùng được vinh danh tại hạng mục “Sản phẩm, dịch vụ, giải pháp công nghệ số xuất sắc”.

Kinh tế sinh học đang vươn lên trở thành một trụ cột chiến lược cốt lõi định hình lại mô hình tăng trưởng của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. (Ảnh: HNV)

Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học, động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi xanh, kinh tế sinh học đang vươn lên trở thành một trụ cột chiến lược cốt lõi định hình lại mô hình tăng trưởng của nhiều quốc gia. Việt Nam cũng không nằm ngoài bối cảnh đó, nhất là khi nước ta đang đẩy nhanh tiến độ đáp ứng cam kết phát thải ròng bằng 0 (net-zero) vào năm 2050.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo và đại diện GELEXIMCO bấm nút khánh thành không gian Đổi mới sáng tạo liên ngành. (Ảnh: TOÀN PHƯƠNG)

Khánh thành không gian Đổi mới sáng tạo liên ngành tại Đại học Bách khoa Hà Nội

Ngày 15/10, Tập đoàn GELEXIMCO và Đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức khánh thành không gian Đổi mới sáng tạo liên ngành, đánh dấu bước tiến mới trong quan hệ hợp tác chiến lược giữa hai đơn vị, đồng thời thúc đẩy mô hình phối hợp “3 nhà”: Nhà nước-Nhà trường-Doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ.

Các đại biểu nhấn nút khởi động triển khai chương trình. (Ảnh: YẾN TRINH)

Ninh Bình: Ứng dụng công nghệ số trong sàng lọc sức khỏe tâm lý học đường

Ngày 15/10, tại xã Gia Trấn, tỉnh Ninh Bình đã diễn ra chương trình triển khai sàng lọc sức khỏe tâm lý học đường trên nền tảng số; ra mắt mô hình phòng hỗ trợ tâm lý học đường 4.0 và trải nghiệm công nghệ số Steam Robotics. Đây là đơn vị đầu tiên của tỉnh ứng dụng công nghệ số kết hợp giữa giáo dục và y tế học đường.

Nghi thức khởi công Tòa nhà Công nghệ số 01, thuộc dự án Khu đô thị Công viên công nghệ số FPT tại phường Phú Diễn và phường Tây Tựu, thành phố Hà Nội. (Ảnh: BTC)

FPT khởi công Tòa nhà Công nghệ số đầu tiên trị giá hơn 1.311 tỷ đồng tại Hà Nội

Tòa nhà Công nghệ số 01 có tổng vốn đầu tư hơn 1.311 tỷ đồng, dự kiến đáp ứng nhu cầu làm việc của khoảng 6.000 chuyên gia công nghệ và lao động phụ trợ. Đây là bước triển khai cụ thể dự án Khu đô thị Công viên công nghệ số FPT tại Hà Nội, hướng tới hình thành hệ sinh thái nghiên cứu, đào tạo và phát triển công nghệ.

Để có cơ sở xây dựng các mô hình ứng dụng UAV phù hợp từng vùng sản xuất, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên đã phối hợp một số nhà cung cấp tổ chức trình diễn thực tế phương tiện bay không người lái (UAV) tại Quảng trường 7/5, phường Điện Biên Phủ. (Ảnh: LÊ LAN)

Điện Biên hướng tới mục tiêu sản xuất sản phẩm công nghệ “Make in Điện Biên”

Dù hiện mới đang thử nghiệm các thiết bị bay không người lái tại vùng sản xuất nông nghiệp để thực hiện mô hình phát triển kinh tế tầm thấp nhưng Điện Biên vẫn đặt mục tiêu lớn hơn, đó chính là sản xuất thử nghiệm các dòng UAV chuyên dụng cho địa hình miền núi - hướng tới sản phẩm công nghệ “Make in Điện Biên”. 

Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hồ Hải (bìa trái) và Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau Lữ Quang Ngời (bìa phải) trao quà lưu niệm đến ông Ran DaGan, Chủ tịch Tập đoàn Dagan (Israel) và ông Hà Duy Bình, Chủ tịch Tập đoàn VsionGlobal. (Ảnh: HỮU TÙNG)

Cà Mau đón làn sóng đầu tư nông nghiệp công nghệ cao từ Israel

Sáng 15/10, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử cho biết, lãnh đạo tỉnh vừa có buổi tiếp và làm việc với Đoàn công tác của Tập đoàn Dagan (Israel) đến trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao tại Cà Mau.

Giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: HÀ LINH)

Xây dựng xã hội số lấy người dân làm trung tâm

Phát triển công dân số gắn với quyền, trách nhiệm, kỹ năng và những lợi ích thực tế người dân nhận được khi sử dụng dịch vụ số. Nhân Ngày Công dân số Việt Nam, các ý kiến từ người dân, doanh nghiệp, nhà quản lý và luật sư đề cập những kiến nghị để môi trường số thuận tiện, an toàn và phục vụ người dân tốt hơn.