Hội thảo khoa học quốc tế “Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường Việt Nam-Ấn Độ: Hướng tới những động lực phát triển mới”

Ngày 27/8 tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo khoa học quốc tế “Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường Việt Nam-Ấn Độ: Hướng tới những động lực phát triển mới”.

Toàn cảnh hội thảo.
Toàn cảnh hội thảo.

Hội thảo do Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) phối hợp Đại sứ quán Ấn Độ tại Hà Nội và Viện Asian Confluence (Shillong, Ấn Độ) tổ chức.

Hội thảo quy tụ khoảng 150 đại biểu trong nước và quốc tế, với sự tham dự và phát biểu của Tiến sĩ Pabitra Margherita, Quốc vụ khanh phụ trách Ngoại giao, Cộng hòa Ấn Độ; Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; cùng đại diện lãnh đạo Bộ Ngoại giao và lãnh đạo Bộ Công thương Việt Nam.

Hội thảo được tổ chức nhằm đánh giá toàn diện về thực trạng và triển vọng của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường Việt Nam-Ấn Độ, nhận diện các lĩnh vực và động lực chiến lược mới định hình hợp tác song phương trong những thập niên tới, tăng cường đối thoại học thuật và chính sách giữa giới nghiên cứu và hoạch định chính sách hai nước, đồng thời đưa ra những khuyến nghị chính sách khả thi phục vụ triển khai các ưu tiên hợp tác về chính trị, kinh tế, công nghệ, phát triển bền vững và giao lưu nhân dân.

Trải qua nhiều thập niên, quan hệ Việt Nam-Ấn Độ đã phát triển thành quan hệ đối tác năng động và đa chiều, bao trùm đối thoại chính trị, hợp tác quốc phòng, an ninh, thương mại và đầu tư, khoa học và công nghệ, giáo dục, văn hóa và giao lưu nhân dân.

Ngày 6/5/2026, hai nước chính thức nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường, là minh chứng cho sự bền bỉ của quan hệ song phương, đồng thời phản ánh sự hội tụ chiến lược ngày càng rõ nét giữa hai nước trong bối cảnh trật tự khu vực và toàn cầu đang chuyển động sâu sắc. Khuôn khổ mới được xây dựng trên tinh thần “tầm nhìn chung, hội tụ chiến lược và hợp tác thực chất”, với trọng tâm là chuyển hóa quyết tâm chính trị thành kết quả cụ thể.

Với Ấn Độ, Việt Nam là đối tác tin cậy tại Đông Nam Á và là trụ cột trong triển khai Chính sách Hành động hướng Đông. Ở chiều ngược lại, Việt Nam xem Ấn Độ là đối tác chiến lược lớn, có ảnh hưởng toàn cầu ngày càng tăng, đóng góp quan trọng vào hòa bình và ổn định khu vực, đa dạng hóa kinh tế, hợp tác công nghệ và cân bằng chiến lược.

Hai nước cùng chia sẻ những tầm nhìn phát triển dài hạn đầy tham vọng: Ấn Độ hướng tới trở thành quốc gia phát triển vào năm 2047 (“Viksit Bharat 2047”) và Việt Nam hướng tới trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị gia tăng, chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, phân mảnh công nghệ và các thách thức an ninh phi truyền thống nổi lên, quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng cho thấy giá trị của những khuôn khổ hợp tác bền vững và đa dạng hóa, giúp mỗi bên giảm thiểu rủi ro và mở rộng dư địa chiến lược.

6.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi phát biểu tại hội thảo.

Hội thảo hướng tới đánh giá một cách hệ thống thành tựu, hạn chế và tiềm năng chưa khai thác của quan hệ Việt Nam-Ấn Độ trên các trụ cột chính, đặc biệt sau khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường ngày 6/5/2026.

Trên cơ sở đó, hội thảo nhận diện những động lực phát triển mới có khả năng đưa hợp tác song phương sang một giai đoạn tăng trưởng bền vững và dựa trên đổi mới sáng tạo, từ kinh tế số và quản trị số, trí tuệ nhân tạo và công nghiệp công nghệ cao, bán dẫn và chuỗi cung ứng tự cường, đến chuyển đổi xanh và năng lượng tái tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp, kết nối hạ tầng-logistics, phát triển nguồn nhân lực và đối tác tri thức.

Hội thảo cũng phân tích sự hội tụ chiến lược giữa hai nước tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, gắn với vai trò trung tâm của ASEAN, an ninh biển và một trật tự khu vực dựa trên luật lệ; làm rõ đóng góp của hợp tác song phương vào việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển quốc gia của mỗi nước; và đề xuất những khuyến nghị chính sách khả thi, dựa trên bằng chứng, dành cho cơ quan chính phủ, viện nghiên cứu, doanh nghiệp cùng các bên liên quan.

Nhận diện động lực phát triển mới

Phát biểu tại hội thảo, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi cho rằng, trong thời kỳ hiện nay, Việt Nam và Ấn Độ đều có đặc điểm chung trong chiến lược phát triển quốc gia, đó là hai nước đều đang chuyển hướng mô hình tăng trưởng từ tốc độ sang chất lượng; lấy khoa học-công nghệ, sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chính; Ấn Độ khẳng định vị thế là trung tâm tăng trưởng công nghiệp còn Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Hai nước có những lợi thế bổ sung nhau về thị trường và lực lượng lao động, về năng lực sản xuất và công nghệ, về các yếu tố quốc tế, tạo điều kiện cho hợp tác hiệu quả.

Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam mong muốn hội thảo sẽ nhận diện đầy đủ các cơ hội mới, cũng như những thách thức trong quan hệ hợp tác giữa hai nước, nhằm đóng góp những ý kiến cụ thể vào chính sách phát triển của mỗi nước. Sự nâng cấp quan hệ chiến lược giữa hai nước không chỉ là vấn đề khuôn khổ mà cần sự hiểu biết sâu sắc hơn về tầm nhìn phát triển chung cũng như khả năng chuyển hóa các cam kết thành kết quả thực chất.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi cũng cho rằng, giáo dục, nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát triển nhân lực được xác định là những trụ cột quan trọng cho hợp tác trong tương lai, nhằm tạo ra giá trị bền vững cho cả hai nước và góp phần vào hòa bình, ổn định và phát triển khu vực.

7.jpg
Tiến sĩ Pabitra Margherita, Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao và Bộ Dệt may, Chính phủ Cộng hòa Ấn Độ phát biểu tại hội thảo.

Phát biểu tại hội thảo, Tiến sĩ Pabitra Margherita, Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao và Bộ Dệt may, Chính phủ Cộng hòa Ấn Độ cho biết, vào tháng 5 vừa qua, trong chuyến thăm cấp Nhà nước lịch sử của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Ấn Độ, hai quốc gia ta đã thống nhất nâng cấp mối quan hệ này thành quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường, phản ánh tầm nhìn chung và hướng tới tương lai của các lãnh đạo hai nước. Đáng chú ý, Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á mà Ấn Độ nâng tầm quan hệ lên cấp độ này. 18 kết quả đạt được trong chuyến thăm này chính là những động lực cụ thể để thúc đẩy mối quan hệ hợp tác tiến lên phía trước.

Tiến sĩ Pabitra Margherita nhấn mạnh, mối quan hệ đối tác Việt Nam-Ấn Độ dựa trên sự gắn kết văn minh lâu đời hơn hai nghìn năm, hiện hữu tại các thánh địa Mỹ Sơn, trong di sản Chăm của mảnh đất này và đã được tái khẳng định vào năm ngoái khi Xá lợi Phật linh thiêng từ Ấn Độ đã thu hút hơn 14 triệu tín đồ Phật tử Việt Nam. Du lịch tiếp tục làm sâu sắc thêm sự kết nối giữa nhân dân hai nước. Mối gắn kết cổ xưa này tìm thấy sự thể hiện hiện đại trong sự hội tụ các tầm nhìn của chúng ta: Tầm nhìn Phát triển Ấn Độ (Viksit Bharat) 2047 và Tầm nhìn Việt Nam 2045. Sự hội tụ này củng cố các động lực sẽ đưa mối quan hệ Việt Nam-Ấn Độ bước vào giai đoạn tiếp theo.

Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh, thế giới đang chuyển biến sâu sắc và khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược gia tăng; xung đột kéo dài; kinh tế, công nghệ và chuỗi cung ứng có xu hướng phân mảnh; các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng đan xen. Chủ nghĩa đa phương và luật pháp quốc tế đứng trước nhiều sức ép. Bối cảnh đó đòi hỏi mỗi nước giữ vững độc lập, tự chủ, củng cố năng lực chống chịu; đồng thời chủ động hội nhập, đa dạng hóa quan hệ và hợp tác với các đối tác tin cậy.

"Đây là cơ sở làm cho quan hệ Việt Nam-Ấn Độ ngày càng có ý nghĩa chiến lược. Việc triển khai các định hướng do lãnh đạo cấp cao đặt ra, hai nước cần thực hiện ba "chuyển hóa" quan trọng: một là, chuyển hóa tin cậy chính trị thành năng lực cùng hành động; hai là, chuyển hóa khuôn khổ quan hệ được nâng cấp thành năng lực hợp tác thực chất, qua đó góp phần củng cố tự chủ, tự cường của mỗi nước; ba là, chuyển hóa sự gần gũi chiến lược thành một không gian kết nối hòa bình và thịnh vượng giữa Đông Nam Á với Nam Á, giữa Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương", Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cường nhận định.

8.jpg
Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cường phát biểu tại hội thảo.

Hội thảo diễn ra với 3 phiên. Phiên 1: Hội tụ chiến lược trong quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường Việt Nam-Ấn Độ, phiên 2: Tăng cường kết nối kinh tế, chuyển đổi xanh, năng lượng tái tạo và phát triển bền vững hợp tác Việt Nam-Ấn Độ, phiên 3: Hợp tác thanh niên, đối tác tri thức và kết nối văn hóa.

Những ý kiến từ hội thảo

Tiến sĩ Bùi Việt Hương, Phó Viện trưởng Viện Chính trị và Quan hệ quốc tế; Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, quan hệ Việt Nam-Ấn Độ trong bối cảnh cấu trúc Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương chuyển biến, thế và lực của hai nước gia tăng, đồng thời lợi ích song phương mở rộng từ an ninh-chiến lược sang phát triển, công nghệ và kết nối.

Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu về hội tụ chiến lược, tự chủ, hợp tác kinh tế-công nghệ và vai trò khu vực của hai nước, nội hàm chiến lược của quan hệ giai đoạn mới cần được nhìn nhận vượt ra ngoài sự mở rộng lĩnh vực hợp tác. Giá trị cốt lõi nằm ở khả năng giúp mỗi nước mở rộng lựa chọn chiến lược, cùng tạo dựng năng lực phát triển, tăng cường kết nối liên khu vực và đóng góp vào môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác.

Quan hệ chiến lược Việt Nam-Ấn Độ cần chuyển trọng tâm từ mở rộng sang làm sâu sắc, từ cam kết sang thực thi, ưu tiên các lĩnh vực có tính bổ trợ và sức lan tỏa cao, thúc đẩy nghiên cứu-phát triển chung, liên kết đầu tư-công nghệ-sản xuất, tăng mật độ kết nối và mở rộng nền tảng xã hội của quan hệ.

Tiến sĩ Trần Kim Bá, chuyên gia công tác tại Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á nhận định, việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đang thúc đẩy các quốc gia và doanh nghiệp đa dạng hóa thị trường, nguồn cung và đối tác sản xuất nhằm nâng cao khả năng chống chịu. Trong bối cảnh đó, tăng cường kết nối thương mại và chuỗi giá trị Việt Nam-Ấn Độ mở ra cơ hội mở rộng hợp tác kinh tế, nâng cao vị thế của hai nước trong chuỗi cung ứng khu vực. Cần tăng cường đa dạng hóa thị trường và nguồn cung, thúc đẩy đầu tư, công nghệ, logistics và kết nối doanh nghiệp, qua đó chuyển trọng tâm từ mở rộng giao dịch sang tăng cường liên kết chuỗi giá trị và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng Việt Nam.

10.jpg
Các đại biểu tham dự chụp ảnh lưu niệm

Về vấn đề chuyển đổi giao thông sạch, Tiến sĩ Trần Thùy Phương (Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi) phân tích: Chuyển đổi sang giao thông sạch đang trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược giảm phát thải, bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển công nghiệp xanh của các nền kinh tế mới nổi. Tuy nhiên, việc lựa chọn công nghệ trong quá trình chuyển đổi đặt ra rủi ro đáng kể đối với các quốc gia đang phát triển, khi chi phí, hạ tầng năng lượng và cấu trúc thị trường vẫn đang thay đổi nhanh chóng.

Trong bối cảnh đó, chiến lược trung lập về công nghệ có thể tạo ra không gian chính sách linh hoạt, cho phép nhiều giải pháp công nghệ cạnh tranh nhằm đạt cùng một mục tiêu về môi trường và hiệu quả năng lượng. Từ kinh nghiệm của Ấn Độ trong chuyển đổi sang giao thông sạch, tập trung vào cách thức kết hợp định hướng “trung lập công nghệ” với chính sách hỗ trợ có mục tiêu đối với xe điện; xe hybrid; xe sử dụng nhiên liệu hydrogen, nhiên liệu sinh học; pin và các công nghệ giao thông xanh khác, áp dụng mô hình “trung lập về công nghệ nhưng chủ động về mục tiêu” tiến tới mục tiêu giảm phát thải, giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch, phát triển năng lực công nghiệp, đồng thời sử dụng nhiều công cụ chính sách để thúc đẩy các công nghệ tiềm năng. Đây là kinh nghiệm tham khảo hữu ích cho Việt Nam.

Trong hợp tác Ấn Độ-Việt Nam về chuyển đổi năng lượng xanh, Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Mai (Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi) cho rằng, dựa trên sự tương đồng về định hướng chính sách (REDS, PDP8 của Việt Nam và ISA, Sứ mệnh Hydro Xanh của Ấn Độ), hai nước đang sở hữu cơ hội hợp tác lớn về thu hút dòng vốn FDI (Adani, Essar, L&T), phát triển công nghệ mới (BESS, hydro xanh), đào tạo nhân lực (học bổng ITEC) và hoàn thiện thể chế tài chính-trái phiếu xanh. Tuy nhiên, tiến trình hợp tác vẫn gặp nhiều rào cản hệ thống như sự thiếu hụt nguồn vốn thực chất, hạ tầng lưới điện chưa đồng bộ, khung pháp lý chưa hoàn thiện và áp lực cạnh tranh chiến lược khu vực. Việc chủ động tháo gỡ các điểm nghẽn này là điều kiện quyết định để nâng cao hiệu quả hợp tác và bảo đảm an ninh năng lượng bền vững cho cả hai quốc gia.

Ngoài ra, các đại biểu tại hội thảo cũng phân tích, làm rõ sự hội tụ chiến lược giữa hai nước tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, gắn với vai trò trung tâm của ASEAN, an ninh biển và một trật tự khu vực dựa trên luật lệ; làm rõ đóng góp của hợp tác song phương vào việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển quốc gia của mỗi nước; và đề xuất những khuyến nghị chính sách khả thi, dựa trên bằng chứng, dành cho cơ quan chính phủ, viện nghiên cứu, doanh nghiệp cùng các bên liên quan.

Hội thảo là diễn đàn trao đổi học thuật quý báu, góp phần đánh giá toàn diện về thực trạng và triển vọng của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường Việt Nam-Ấn Độ; nhận diện các lĩnh vực và động lực chiến lược mới định hình hợp tác song phương trong những thập niên tới, tăng cường đối thoại học thuật và chính sách giữa giới nghiên cứu và hoạch định chính sách hai nước. Qua đó đưa ra những khuyến nghị chính sách khả thi, phục vụ triển khai các ưu tiên hợp tác về chính trị, kinh tế, công nghệ, phát triển bền vững và giao lưu nhân dân trong thời gian tới.

Có thể bạn quan tâm

Tỉnh đoàn Tây Ninh và MobiFone Tây Ninh ký kết Thỏa thuận hợp tác chiến lược về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030. (Ảnh: THANH PHONG)

Tuổi trẻ Tây Ninh tiên phong chuyển đổi số

Nhằm cụ thể hóa mục tiêu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngày 27/8, Tỉnh đoàn Tây Ninh tổ chức Hội nghị tập huấn nâng cao năng lực số cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến tại 150 điểm cầu ở các xã, phường và trường học trên địa bàn.

(Ảnh minh họa: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Không chỉ “có sóng”, người dân cần internet đủ nhanh, ổn định

Điện thoại hiển thị vạch sóng nhưng người dân vẫn khó gửi hồ sơ, truy cập dịch vụ số; có nơi việc liên lạc còn phụ thuộc vào “may rủi”. Thông tư số 51/2026/TT-BKHCN đưa ra cách tiếp cận mới: phổ cập viễn thông công ích không chỉ được tính bằng vùng phủ, mà phải được kiểm chứng bằng chất lượng kết nối thực tế.

Cần thu hút và giữ chân những tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học đủ năng lực đảm nhận các nhiệm vụ công nghệ chiến lược. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Tạo sức hút mới với nhân lực công nghệ chiến lược

Người giỏi có thể được thu hút bằng thu nhập, nhưng để họ ở lại và tạo ra kết quả, cần những bài toán đủ lớn, phòng thí nghiệm hiện đại, đội ngũ cộng sự và quyền quyết định chuyên môn. Nghị định số 260/2026/NĐ-CP đã mở cơ chế theo hướng đó; vấn đề còn lại là đưa chính sách vào thực tiễn.

Tăng cường khả năng ứng dụng, thương mại hóa đối với sản phẩm công nghệ. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Đặt hàng từ thực tiễn, đo kết quả bằng sản phẩm

Thay vì bắt đầu từ đề xuất nghiên cứu và chờ đến khi nghiệm thu mới đánh giá, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược sẽ được hình thành từ bài toán thực tế, chia theo từng gói công việc và sàng lọc qua các mốc kết quả. Cách làm mới hướng nguồn lực nhà nước vào công nghệ có khả năng ứng dụng, thương mại hóa.

Hình ảnh về tác động mà tên lửa của SpaceX gây ra trên bề mặt Mặt Trăng. (Ảnh: NASA)

Nguy cơ "tắc nghẽn" quỹ đạo Trái đất do rác vũ trụ

Các chuyên gia vũ trụ cảnh báo ngày càng nhiều rủi ro từ lượng rác thải không gian đang tăng lên, làm dấy lên lo ngại về tình trạng “tắc nghẽn” quỹ đạo và thách thức trong việc thu gom xử lý chúng. Lời cảnh báo được đưa ra sau sự cố một tên lửa của SpaceX va chạm với Mặt trăng ngày 5/8.

Công an thành phố Hà Nội cảnh báo một số chủng mã độc đặc biệt nguy hiểm

Công an thành phố Hà Nội cảnh báo một số chủng mã độc đặc biệt nguy hiểm

Công an thành phố Hà Nội vừa phát đi cảnh báo về 2 chủng mã độc đặc biệt nguy hiểm đang bị các nhóm tin tặc khai thác, tấn công trực tiếp vào hệ thống thông tin của các cơ quan, đơn vị và thiết bị di động của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trên địa bàn, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh mạng, an ninh thông tin.

Hội thảo là cơ hội để các kỹ sư, chuyên gia và doanh nghiệp tại Việt Nam tiếp cận những xu hướng mới trong Agentic AI, Model-Based Design và phát triển hệ thống điều khiển, đồng thời trao đổi trực tiếp với các chuyên gia về khả năng ứng dụng những công nghệ này vào các bài toán kỹ thuật thực tế. (Ảnh: HNV)

Thúc đẩy quy trình phát triển hệ thống điều khiển với hệ thống AI tự chủ

Đông đảo cộng đồng kỹ sư, chuyên gia nghiên cứu và phát triển (R&D), nhà nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, startup và các tổ chức đổi mới sáng tạo đang hoạt động trong các lĩnh vực như ô-tô, xe điện, robot, UAV, hệ thống nhúng, tự động hóa công nghiệp và các hệ thống điều khiển thông minh đã tham dự hội thảo.

"Concert quốc gia: Tổ quốc trong tim" hướng tới xây dựng thương hiệu văn hóa-nghệ thuật có bản sắc riêng. (Ảnh: BÁO NHÂN DÂN)

“Khơi thông” bản quyền để phát triển công nghiệp văn hóa

Khi bản quyền được xác định rõ, dữ liệu minh bạch và cơ chế bảo vệ đủ hiệu quả, mỗi sáng tạo văn hóa nghệ thuật mới thật sự có cơ hội trở thành một tài sản giá trị để có thể được đầu tư, mở rộng sang những thị trường, mô hình kinh doanh mới và là nguồn lực trở lại nuôi những sáng tạo mới.

Ký kết hợp tác giữa hai đơn vị. (Ảnh: HNV)

Ký kết hợp tác chiến lược, thúc đẩy sáng tạo số và ứng dụng AI trong giáo dục Việt Nam

Với việc ký kết hợp tác chiến lược này, NIC trở thành đối tác hàng đầu của Canva tại Việt Nam trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực số cho ngành giáo dục. Việc hợp tác hướng tới ba mục tiêu trọng tâm, thể hiện tinh thần đồng hành giữa Nhà nước và doanh nghiệp công nghệ vì sự phát triển bền vững của nền giáo dục.

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã có buổi làm việc với Giám đốc điều hành bộ phận Open Government Products thuộc Cơ quan Công nghệ Chính phủ Singapore (GovTech) Lý Hồng Nghị.

Thúc đẩy những định hướng hợp tác chiến lược về khoa học, công nghệ đi vào thực tiễn

Làm việc với Giám đốc điều hành bộ phận Open Government Products thuộc Cơ quan Công nghệ Chính phủ Singapore (GovTech) Lý Hồng Nghị, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết, đào tạo nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đều là những vấn đề Việt Nam ưu tiên và mong muốn Singapore chia sẻ kinh nghiệm.

Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội thực hành trên hệ thống thiết bị đo kiểm phục vụ đào tạo, nghiên cứu IoT và bán dẫn. (Ảnh: VNU)

Làm chủ công nghệ, tăng sức cạnh tranh

Hành lang chính sách cho phát triển công nghệ chiến lược đang từng bước được hoàn thiện, cùng với cơ chế đặt hàng, tài trợ, thử nghiệm và hỗ trợ doanh nghiệp. Vấn đề hiện nay là đưa các cơ chế đó vào thực tiễn, tạo ra sản phẩm cụ thể, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Các diễn giả tham dự hội thảo “Chuyển đổi số trong khu vực công: Kiến tạo hạ tầng bền vững và bảo đảm an ninh dữ liệu hướng đến mục tiêu tăng trưởng quốc gia”. (Ảnh: Ban tổ chức)

Chuyển đổi số khu vực công: Làm chủ dữ liệu, kiến tạo hạ tầng bền vững

Chuyển đổi số khu vực công đang chuyển từ số hóa quy trình sang quản trị dựa trên dữ liệu. Cùng với hạ tầng có khả năng kết nối, chia sẻ và mở rộng, bảo đảm an ninh dữ liệu và năng lực phục hồi sau sự cố đang trở thành những điều kiện nền tảng để nâng cao hiệu quả quản trị và tạo động lực tăng trưởng.