Thương mại hóa công nghệ sinh học: Cân bằng tiềm năng, lợi nhuận và rủi ro

Nhiều chuyên gia, nhà quản lý đều nhấn mạnh sự cần thiết đẩy mạnh lĩnh vực kinh tế sinh học tại Việt Nam hiện nay. Mô hình tăng trưởng dựa trên thâm dụng vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thô đang dần chạm tới ngưỡng, đòi hỏi phải chuyển dịch mô hình sang chiều sâu, dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo, giá trị gia tăng cao.

Hội thảo do Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp cùng Cục Thông tin và Thống kê (NATIS) tổ chức. (Ảnh: HÀ TUẤN)
Hội thảo do Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp cùng Cục Thông tin và Thống kê (NATIS) tổ chức. (Ảnh: HÀ TUẤN)

Đây cũng là nội dung quan trọng được đề cập tại Hội thảo “Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số” diễn ra tại Hà Nội mới đây.

Tiềm năng phát triển kinh tế sinh học ở Việt Nam

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) khẳng định, Việt Nam sở hữu lợi thế rất lớn về đa dạng sinh học.

ndo_br_mrtien.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phí Quyết Tiến. (Ảnh: HÀ TUẤN)

Đơn cử như việc khai thác các nguồn vi sinh vật bản địa: vi khuẩn tía có khả năng tổng hợp các axit béo Omega số lẻ (Omega-3, 7, 9), trong khi các sản phẩm từ vi tảo hay thực vật thông thường chủ yếu tổng hợp Omega số chẵn.

Theo xu hướng hiện nay, từ công nghệ tế bào miễn dịch cho đến khai thác nguồn gen bản địa, chúng ta cần quyết tâm trở thành những người tiên phong tại Việt Nam trong việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến này vào thực tiễn.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phí Quyết Tiến dự báo, thể chế đã được “cởi trói”, công nghệ sinh học sẽ phát triển vượt bậc trong 3-5 năm tới. Theo ông, hiện nay, doanh nghiệp đã chủ động tìm đến nhà khoa học. Đây là cơ hội để nhà khoa học đưa công nghệ ra doanh nghiệp và để doanh nghiệp có thêm niềm tin vào nhà khoa học.

Nhấn mạnh việc Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu về lĩnh vực công nghệ sinh học, chỉ sau Singapore, ông Bùi Duy Nghĩa, Trưởng phòng Thống kê khoa học và công nghệ, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học (NASTIS) cho biết: Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, là một trong những lợi thế quan trọng để phát triển công nghệ sinh học. “Trong khu vực Đông Nam Á, theo đánh giá của tôi, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu về lĩnh vực này, chỉ sau Singapore”, ông Nghĩa khẳng định.

ndo_br_menghia.jpg
Ông Bùi Duy Nghĩa. (Ảnh: HÀ TUẤN)

Hình thành chuỗi giá trị kinh tế sinh học khép kín tại Việt Nam

Ông Bùi Duy Nghĩa cũng chỉ ra, trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số sâu rộng, bức tranh nghiên cứu khoa học tại Việt Nam đang ghi nhận những chuyển biến tích cực. Không còn dừng lại ở các đề tài cất tủ kính, lực lượng trí thức và các nhà khoa học Việt Nam đã và đang nỗ lực đưa tri thức tiệm cận hơn với nhu cầu thực tiễn của thị trường.

Trả lời câu hỏi về việc hình thành một chuỗi giá trị kinh tế sinh học khép kín từ nguồn nguyên liệu, công nghệ chiết xuất và chế biến sâu tại viện, trường đến thương mại hóa và xuất khẩu của doanh nghiệp, nếu được lựa chọn một điều quan trọng nhất cần thay đổi, Tiến sĩ Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Khoa học và Công nghệ quốc tế Innogenex cho biết cần có hai công cụ để bảo vệ nhà khoa học gồm tài chính và pháp lý.

ndo_br_mrsha.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Lê Thu Hà. (Ảnh: HÀ TUẤN)

Kể câu chuyện về thảo dược và nguồn gen, bà Hà cho biết, tùy công nghệ từ khâu trồng đến khâu chế biến, giá một chai nhỏ chiết xuất có thể chênh từ 5.000 đến 100.000 USD. Những đơn hàng như vậy cần nhiều đối tác cùng tham gia, trong khi Việt Nam rất có tiềm năng về nguồn gen và thảo dược. “Công nghệ sinh học của mình rất nhiều tiềm năng, nhưng một mình một doanh nghiệp không đủ. Phải cần cả hệ thống lớn vào cuộc để lấy được những đơn hàng rất lớn”, bà Hà nói.

Trong khi đó, bà Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam (VASTI) cho rằng, nhà khoa học và doanh nghiệp phải đạt nguyên tắc cùng có lợi, quan hệ có đi có lại, bình đẳng. Nhà khoa học có kiến thức và sản phẩm nhưng cần công cụ để đưa ra thực tiễn. Ngược lại, doanh nghiệp cũng cần nhìn nhận tầm quan trọng của nhà khoa học thì mới đi đến thành công và thương mại hóa sản phẩm được.

Đánh giá và phân tích sâu sắc về mô hình liên kết giữa ba nhà: Viện nghiên cứu-Trường đại học-Doanh nghiệp, các chuyên gia, nhà quản lý cùng phác họa rõ nét bức tranh đổi mới sáng tạo, nơi các công trình không chỉ dừng lại ở chỉ số công bố quốc tế mà còn tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp cho xã hội.

ndo_br_mrstan.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Tân. (Ảnh: HÀ TUẤN)

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Tân, Trưởng nhóm chuyên môn kỹ thuật quá trình, Khoa Kỹ thuật hóa học, Trường Hóa và Khoa học sự sống, Đại học Bách Khoa Hà Nội kiến nghị: “Dù hiện nay chúng ta đã được "cởi trói" rất nhiều về mặt cơ chế, thể chế và quyền tự quyết, nhưng ở khía cạnh cụ thể hóa, tôi vẫn mong muốn Nhà nước sớm ban hành các hướng dẫn chi tiết cùng những chương trình cho phép thử nghiệm thực tế (sandbox)”.

Trả lời câu hỏi về những lực cản trong thương mại hóa công nghệ sinh học, Thạc sĩ Lê Thị Khánh Vân, cho rằng Nhà nước đã có chính sách coi công nghệ sinh học là yếu tố rất lớn. Theo bà, Việt Nam là nước có 70-75% là nông nghiệp, nên công nghệ sinh học càng cần được quan tâm, chẳng hạn trong lĩnh vực giống cây trồng.

Xác định rõ điểm nghẽn và đồng bộ giải pháp tháo gỡ

Ông Vũ Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Thông tin-Thống kê và Đánh giá khoa học, Bộ Khoa học và Công nghệ thẳng thắn cho rằng, mặc dù tiềm năng rộng mở, con đường hiện thực hóa các mục tiêu kinh tế sinh học tại Việt Nam đang gặp không ít điểm nghẽn trầm trọng cần được tháo gỡ kịp thời.

ndo_br_mrtuan.jpg
Ông Vũ Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Thông tin-Thống kê và Đánh giá khoa học, Bộ Khoa học và Công nghệ. (Ảnh: HÀ TUẤN)

Điểm nghẽn đầu tiên và lớn nhất nằm ở cơ chế, chính sách tài chính và định giá tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước. Các quy định pháp luật về quản lý, định giá và chuyển giao tài sản trí tuệ trong các cơ quan nghiên cứu công lập vẫn khiến các nhà khoa học và các viện trường lúng túng, thậm chí e ngại rủi ro pháp lý khi tiến hành hợp tác thương mại hóa với khối doanh nghiệp.

Điểm nghẽn thứ hai là sự thiếu vắng một thị trường kết nối cung-cầu công nghệ sinh học thực chất và đồng bộ. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vẫn quen với việc nhập khẩu công nghệ nước ngoài hoặc sử dụng phương thức sản xuất truyền thống, thiếu niềm tin vào năng lực của các nhà khoa học trong nước, trong khi các nhà khoa học lại thiếu thông tin thị trường và kỹ năng quản trị kinh doanh để đưa sản phẩm tiếp cận người tiêu dùng.

Thêm vào đó, nguồn vốn đầu tư cho giai đoạn nghiên cứu phát triển sản phẩm mẫu và thương mại hóa thử nghiệm còn vô cùng hạn chế, chưa hình thành được các quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên biệt cho lĩnh vực công nghệ sinh học đầy tiềm năng nhưng nhiều rủi ro kỹ thuật này.

Để giải quyết những điểm nghẽn nêu trên, đòi hỏi phải có sự chung tay hành động đồng bộ từ cả hệ thống chính trị, cơ quan quản lý nhà nước, viện trường và cộng đồng doanh nghiệp thông qua một hệ thống giải pháp toàn diện.

ndo_br_cnshvn.jpg
Thông điệp cốt lõi là trong kỷ nguyên số, chúng ta cần mạnh dạn, quyết liệt hơn nữa, không để các đề tài nằm trong ngăn kéo. (Ảnh: CTV)

Các chuyên gia, nhà quản lý đề xuất, cần nhìn nhận rõ sự khác biệt mang tính bản chất trong mối liên kết các nhà như đã nêu ở trên, trong đó, nhà khoa học hướng tới sự đột phá tri thức và công bố quốc tế, tạo ra tài sản trí tuệ (IP). Doanh nghiệp hướng tới lợi nhuận, thị phần và dòng tiền. Nhà khoa học đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối, tính mới và tính sáng tạo để đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ. Doanh nghiệp đòi hỏi tính khả thi thương mại và khả năng sản xuất hàng loạt. Từ đó, từng bước hợp lực phá băng 4 rào cản chính gồm: định giá tài sản trí tuệ, kỳ vọng, cơ chế-thủ tục, niềm tin.

Điều này cũng có nghĩa rằng, hệ sinh thái kết nối cung-cầu công nghệ sinh học bền vững tại Việt Nam không thể tiếp tục hoạt động theo mô hình tự phát mà phải chuyển mình mạnh mẽ sang mô hình liên kết chiến lược nhằm tạo ra các tiêu chuẩn chuẩn hóa.

Một số phân tích cho thấy, vai trò của các bộ, ngành là định hướng kéo thị trường, đó là phối hợp điều phối chiến lược giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhằm định hướng chính xác các bài toán lớn cho ngành công nghiệp sinh học. Song song là tranh thủ tối đa sự hỗ trợ kỹ thuật quốc tế về phương pháp đo lường, tiêu chuẩn hóa và quản lý tín chỉ carbon. Đây cũng là hướng đi thời sự mà nước ta cần chủ động đặt ra tiêu chuẩn.

Nói cách khác, thay vì mô hình “đẩy công nghệ” từ phòng thí nghiệm ra thị trường một cách thụ động, chúng ta phải chuyển sang cơ chế "kéo nhu cầu", lấy bài toán thực tế của thị trường và doanh nghiệp làm mệnh lệnh đặt hàng cho nghiên cứu.

Với mô hình Nhà nước-nhà khoa học-doanh nghiệp, ba bên cùng đi một hành trình nhưng thay đổi vai trò. Theo đó, nhà khoa học chuyển từ người đi bán quy trình, bán kết quả nghiên cứu sang người đưa ra giải pháp. Doanh nghiệp chuyển từ người đi mua máy, mua công nghệ sang người nắm rõ bài toán của mình và đi tìm người đồng hành. Nhà nước chuyển từ tài trợ đề tài sang chia sẻ rủi ro ở giai đoạn giữa, tức giai đoạn chạy thử và thử nghiệm thị trường.

Một đề xuất khác đến từ thực tiễn của doanh nghiệp cho hay, để giảm áp lực tài chính trong thời gian phát triển công nghệ lõi, cân nhắc chiến lược “bắt cá dọc đường”, tức tạo nguồn thu từ các sản phẩm, dịch vụ có chu kỳ thương mại hóa ngắn hơn. Các nguồn thu có thể đến từ bộ kit chẩn đoán, chế phẩm vi sinh, giám định ADN, dịch vụ nghiên cứu và phát triển theo hợp đồng, kiểm nghiệm hoặc tư vấn thiết lập phòng thí nghiệm. Doanh nghiệp cũng có thể tìm kiếm tài trợ nghiên cứu và các nguồn vốn không làm pha loãng cổ phần.

Thiết nghĩ, thương mại hóa công nghệ sinh học không đơn thuần là đưa một phát minh ra thị trường mà là quá trình cân đối giữa tiềm năng khoa học, khả năng tạo doanh thu và mức độ chấp nhận rủi ro. Để các nghiên cứu trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà đầu tư cần thống nhất từ đầu về mục tiêu phát triển, nguồn lực tài chính và cách chia sẻ lợi ích.

Có thể bạn quan tâm

Tây Ninh phối hợp Vĩnh Long tổ chức Tọa đàm “Kết nối Tây Ninh, Vĩnh Long-Hồng Kông” tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: THANH PHONG)

Tây Ninh mở rộng hợp tác đầu tư với doanh nghiệp Hồng Kông (Trung Quốc)

Ngày 19/10, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh phối hợp Vĩnh Long tổ chức Tọa đàm “Kết nối Tây Ninh, Vĩnh Long-Hồng Kông”, với sự đồng hành của Bộ Ngoại giao và Hiệp hội Doanh nghiệp Hồng Kông (Trung Quốc) tại Việt Nam, nhằm thúc đẩy kết nối, mở rộng hợp tác đầu tư, thương mại giữa các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc dự và phát biểu chỉ đạo tại lễ ký. (Ảnh: VIỆT PHONG)

Nâng cao hiệu quả phối hợp, tăng cơ hội tiếp cận vốn cho phụ nữ

Chiều 19/10, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức Lễ ký kết Chương trình phối hợp giai đoạn 2026-2030 và kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10. Tham dự và phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ có Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc.

Cơ quan hải quan hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu. (Ảnh: CHQ)

Đồng bộ dữ liệu, rõ trách nhiệm trong nộp thuế xuất nhập khẩu

Nộp thuế điện tử đặt ra yêu cầu kết nối thông suốt giữa doanh nghiệp, ngân hàng, Kho bạc Nhà nước và cơ quan hải quan. Việc hoàn thiện quy trình trao đổi dữ liệu, tra soát chứng từ và xử lý sự cố cần gắn với trách nhiệm cụ thể của từng bên, bảo đảm nghĩa vụ thuế được ghi nhận chính xác.

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Chứng khoán ngày 19/10: Cổ phiếu ngân hàng đồng loạt giảm, VN-Index mất hơn 16 điểm

Phiên giao dịch ngày 19/10, thị trường chứng khoán Việt Nam chìm trong sắc đỏ khi VN-Index giảm 16,07 điểm, xuống mức 1.689,84 điểm. Sức ép đến từ các cổ phiếu vốn hóa lớn như ngân hàng, bất động sản. Thanh khoản toàn thị trường tăng so với phiên trước, trong khi nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng trên cả ba sàn.

Lễ ký kết hợp tác giữa Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị với ACV và Tập đoàn T&T về xúc tiến thị trường, phát triển vận tải hàng không. (Ảnh: HG)

Quảng Trị hợp tác phát triển vận tải hàng không

Chiều 19/10, tại phường Đồng Hới, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị tổ chức hội nghị về quản lý, khai thác các cảng hàng không và hợp tác phát triển vận tải hàng không trên địa bàn. Đây là bước "chạy đà" để sớm đưa Cảng hàng không Quảng Trị chính thức đi vào hoạt động trong tháng 3/2027. 

Tòa nhà Sacombank (Ảnh: Sacombank)

SACOMBANK giảm lãi suất cho vay 2% sau chỉ đạo của Chính phủ

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc (SACOMBANK) triển khai chương trình tín dụng ưu đãi với tổng quy mô lên đến 40.000 tỷ đồng.

[Infographic] VN-Index giảm 16,07 điểm về dưới kháng cự tâm lý 1.700 điểm

[Infographic] VN-Index giảm 16,07 điểm về dưới kháng cự tâm lý 1.700 điểm

Kết phiên giao dịch 19/10, VN-Index giảm 16,07 điểm (-0,94%) về mức 1.689,84 điểm, dưới kháng cự tâm lý 1.700 điểm. Độ rộng trên HoSE phân hóa, nghiêng về tích cực. Thanh khoản thị trường tăng, khối lượng giao dịch khớp lệnh tăng 12,7% so phiên trước. Khối ngoại tiếp tục bán ròng với giá trị bán 799,5 tỷ đồng trên HoSE.

Nhà thầu đã mở cửa phía Tây ống hầm Đại Huệ bên trái, phấn đấu thông hầm vào tháng 4/2027, hoàn thành toàn bộ hạng mục hầm vào tháng 3/2028. (Ảnh: HUY LIÊN)

Đẩy nhanh thi công tuyến cao tốc Vinh-Thanh Thủy, kiểm soát chặt nguồn vật liệu

Trên công trường gói thầu XL01 dự án đường cao tốc Vinh-Thanh Thủy, các nhà thầu đang tập trung cao độ nhân lực, thiết bị thi công. Cùng với đó, việc chủ động kiểm soát khối lượng, vận chuyển và tiếp nhận nguồn vật liệu tại công trường được đặc biệt chú trọng nhằm đáp ứng yêu cầu tiến độ, chất lượng và an toàn công trình.

Tàu điện hoạt động trên tuyến đường sắt đô thị Nhổn-ga Hà Nội. (Ảnh: Hà Nội Metro)

Nhà gần metro và xu hướng phát triển mới trong bất động sản Việt Nam

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh phát triển đường sắt đô thị, tốc độ cao và mô hình TOD (Transit-Oriented Development), cách nhìn về giá cả đối với bất động sản cần được định nghĩa lại. Theo đó, giá trị của một căn nhà không chỉ nằm ở số tiền phải trả để sở hữu mà ở tổng chi phí và thời gian cần bỏ ra để duy trì cuộc sống.

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc và Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài trao biểu trưng cho bà Lim Pei Chi Patsy, Phó Tổng Giám đốc SABECO, tại sự kiện ngày 17/10. (Ảnh: SABECO)

SABECO ghi dấu ấn với hành trình bền bỉ đồng hành cùng cộng đồng

Là một trong hơn 220 doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có đóng góp nổi bật cho công tác an sinh xã hội giai đoạn 2024-2026, SABECO tiếp tục cam kết đồng hành cùng cộng đồng thông qua hàng loạt sáng kiến hỗ trợ người dân trên khắp cả nước, từ chăm lo Tết, ứng phó thiên tai đến nâng cao đời sống tinh thần, thúc đẩy gắn kết xã hội.

Sản xuất gốm tại làng Bát Tràng. (Ảnh: Thành Đạt)

Làng nghề Hà Nội: Tháo gỡ điểm nghẽn để khơi thông nguồn lực đầu tư

Quy mô sản xuất nhỏ lẻ và những bất cập về hạ tầng đang cản trở quá trình phát triển làng nghề Hà Nội. Để khai thác hiệu quả giá trị kinh tế làng nghề, cần tăng cường vai trò kết nối của chính quyền, thúc đẩy liên kết giữa nghệ nhân và doanh nghiệp, đồng thời mở rộng các mô hình sản xuất, thương mại và du lịch trải nghiệm.

Nút giao kết nối sân bay Long Thành với Quốc lộ 51, đường 25C đã hoàn thành. (Ảnh: THIÊN VƯƠNG)

Gấp rút hoàn thành giao thông kết nối sân bay Long Thành

Lãnh đạo Thành ủy Đồng Nai nhấn mạnh việc bảo đảm giao thông kết nối Cảng hàng không quốc tế Long Thành (sân bay Long Thành) là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Do đó, các đơn vị phải đẩy nhanh tiến độ, tăng tốc thực hiện các hạng mục còn lại, bảo đảm kết nối thông suốt giao thông trước khi đưa sân bay vào khai thác cuối năm nay.

Các mái nhà tại Khu công nghiệp Tân Kim mở rộng tỉnh Tây Ninh, đều được lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái để góp phần chủ động nguồn cung năng lượng.

Bảo đảm an ninh năng lượng

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên. Để nền kinh tế tăng tốc, yêu cầu đặt ra với ngành điện là bảo đảm đủ sản lượng, đáp ứng các phụ tải mới với yêu cầu ngày càng cao về tính liên tục, ổn định và chất lượng.

Khu công nghiệp THACO Chu Lai làm đổi thay cả vùng đất miền trung.

Cần những “sếu đầu đàn” đủ mạnh

Một doanh nghiệp lớn có thể tự mình bay cao, nhưng để trở thành “sếu đầu đàn”, sự trưởng thành ấy phải đưa cả vùng đất, một ngành công nghiệp và những doanh nghiệp phía sau cùng chuyển động. Đó cũng là câu hỏi đặt ra với nền kinh tế Việt Nam: Phải cần những “con sếu” như thế nào để tạo thành một đàn chim đủ sức bay xa?

Theo dữ liệu vận hành của VETC, trạm thu phí sử dụng thu phí không dừng (ETC) có tốc độ xử lý nhanh gấp 7-8 lần so với hình thức thu phí một dừng trước đây, bình quân 1,8 triệu giao dịch qua trạm mỗi ngày với độ chính xác gần như tuyệt đối.

Dịch vụ thu phí không dừng VETC đạt Thương hiệu Quốc gia Việt Nam năm 2026

Theo tính toán, trạm BOT áp dụng thu phí không dừng (ETC) tốc độ lưu thông nhanh gấp 7-8 lần so với thu phí một dừng, bình quân 1,8 triệu giao dịch/ngày với độ chính xác gần như tuyệt đối. Hình ảnh hàng dài phương tiện dừng lại trả tiền từng bước được thay thế bằng dòng xe lưu thông liên tục, thanh toán tự động.

Khát vọng vươn tầm thế giới và sứ mệnh mở đường

Khát vọng vươn tầm thế giới và sứ mệnh mở đường

Bằng hành trình tích lũy nội lực bền bỉ qua hơn 30 năm, Tập đoàn Vingroup không chỉ khẳng định vị thế “người tiên phong” dẫn dắt các ngành kinh tế cốt lõi, mà còn trở thành hình mẫu cho chiến lược phát triển bền vững, phụng sự cộng đồng và nâng tầm thương hiệu Việt Nam trên trường quốc tế.

Anh Lê Thanh Sơn (cầm cờ) dẫn đoàn khách Ấn Độ tham quan Sa Pa.

Học để bắt nhịp kỷ nguyên mới

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, khi mục tiêu tăng trưởng đòi hỏi sức bật từ mọi khu vực kinh tế thì quan điểm “học một lần, làm cả đời” không còn phù hợp trước sự thay đổi vượt bậc của công nghệ và các yêu cầu tái cấu trúc lao động.