Đây cũng là nội dung quan trọng được đề cập tại Hội thảo “Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số” diễn ra tại Hà Nội mới đây.
Tiềm năng phát triển kinh tế sinh học ở Việt Nam
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) khẳng định, Việt Nam sở hữu lợi thế rất lớn về đa dạng sinh học.
Đơn cử như việc khai thác các nguồn vi sinh vật bản địa: vi khuẩn tía có khả năng tổng hợp các axit béo Omega số lẻ (Omega-3, 7, 9), trong khi các sản phẩm từ vi tảo hay thực vật thông thường chủ yếu tổng hợp Omega số chẵn.
Theo xu hướng hiện nay, từ công nghệ tế bào miễn dịch cho đến khai thác nguồn gen bản địa, chúng ta cần quyết tâm trở thành những người tiên phong tại Việt Nam trong việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến này vào thực tiễn.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phí Quyết Tiến dự báo, thể chế đã được “cởi trói”, công nghệ sinh học sẽ phát triển vượt bậc trong 3-5 năm tới. Theo ông, hiện nay, doanh nghiệp đã chủ động tìm đến nhà khoa học. Đây là cơ hội để nhà khoa học đưa công nghệ ra doanh nghiệp và để doanh nghiệp có thêm niềm tin vào nhà khoa học.
Nhấn mạnh việc Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu về lĩnh vực công nghệ sinh học, chỉ sau Singapore, ông Bùi Duy Nghĩa, Trưởng phòng Thống kê khoa học và công nghệ, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học (NASTIS) cho biết: Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, là một trong những lợi thế quan trọng để phát triển công nghệ sinh học. “Trong khu vực Đông Nam Á, theo đánh giá của tôi, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu về lĩnh vực này, chỉ sau Singapore”, ông Nghĩa khẳng định.
Hình thành chuỗi giá trị kinh tế sinh học khép kín tại Việt Nam
Ông Bùi Duy Nghĩa cũng chỉ ra, trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số sâu rộng, bức tranh nghiên cứu khoa học tại Việt Nam đang ghi nhận những chuyển biến tích cực. Không còn dừng lại ở các đề tài cất tủ kính, lực lượng trí thức và các nhà khoa học Việt Nam đã và đang nỗ lực đưa tri thức tiệm cận hơn với nhu cầu thực tiễn của thị trường.
Trả lời câu hỏi về việc hình thành một chuỗi giá trị kinh tế sinh học khép kín từ nguồn nguyên liệu, công nghệ chiết xuất và chế biến sâu tại viện, trường đến thương mại hóa và xuất khẩu của doanh nghiệp, nếu được lựa chọn một điều quan trọng nhất cần thay đổi, Tiến sĩ Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Khoa học và Công nghệ quốc tế Innogenex cho biết cần có hai công cụ để bảo vệ nhà khoa học gồm tài chính và pháp lý.
Kể câu chuyện về thảo dược và nguồn gen, bà Hà cho biết, tùy công nghệ từ khâu trồng đến khâu chế biến, giá một chai nhỏ chiết xuất có thể chênh từ 5.000 đến 100.000 USD. Những đơn hàng như vậy cần nhiều đối tác cùng tham gia, trong khi Việt Nam rất có tiềm năng về nguồn gen và thảo dược. “Công nghệ sinh học của mình rất nhiều tiềm năng, nhưng một mình một doanh nghiệp không đủ. Phải cần cả hệ thống lớn vào cuộc để lấy được những đơn hàng rất lớn”, bà Hà nói.
Trong khi đó, bà Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam (VASTI) cho rằng, nhà khoa học và doanh nghiệp phải đạt nguyên tắc cùng có lợi, quan hệ có đi có lại, bình đẳng. Nhà khoa học có kiến thức và sản phẩm nhưng cần công cụ để đưa ra thực tiễn. Ngược lại, doanh nghiệp cũng cần nhìn nhận tầm quan trọng của nhà khoa học thì mới đi đến thành công và thương mại hóa sản phẩm được.
Đánh giá và phân tích sâu sắc về mô hình liên kết giữa ba nhà: Viện nghiên cứu-Trường đại học-Doanh nghiệp, các chuyên gia, nhà quản lý cùng phác họa rõ nét bức tranh đổi mới sáng tạo, nơi các công trình không chỉ dừng lại ở chỉ số công bố quốc tế mà còn tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp cho xã hội.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Tân, Trưởng nhóm chuyên môn kỹ thuật quá trình, Khoa Kỹ thuật hóa học, Trường Hóa và Khoa học sự sống, Đại học Bách Khoa Hà Nội kiến nghị: “Dù hiện nay chúng ta đã được "cởi trói" rất nhiều về mặt cơ chế, thể chế và quyền tự quyết, nhưng ở khía cạnh cụ thể hóa, tôi vẫn mong muốn Nhà nước sớm ban hành các hướng dẫn chi tiết cùng những chương trình cho phép thử nghiệm thực tế (sandbox)”.
Trả lời câu hỏi về những lực cản trong thương mại hóa công nghệ sinh học, Thạc sĩ Lê Thị Khánh Vân, cho rằng Nhà nước đã có chính sách coi công nghệ sinh học là yếu tố rất lớn. Theo bà, Việt Nam là nước có 70-75% là nông nghiệp, nên công nghệ sinh học càng cần được quan tâm, chẳng hạn trong lĩnh vực giống cây trồng.
Xác định rõ điểm nghẽn và đồng bộ giải pháp tháo gỡ
Ông Vũ Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Thông tin-Thống kê và Đánh giá khoa học, Bộ Khoa học và Công nghệ thẳng thắn cho rằng, mặc dù tiềm năng rộng mở, con đường hiện thực hóa các mục tiêu kinh tế sinh học tại Việt Nam đang gặp không ít điểm nghẽn trầm trọng cần được tháo gỡ kịp thời.
Điểm nghẽn đầu tiên và lớn nhất nằm ở cơ chế, chính sách tài chính và định giá tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước. Các quy định pháp luật về quản lý, định giá và chuyển giao tài sản trí tuệ trong các cơ quan nghiên cứu công lập vẫn khiến các nhà khoa học và các viện trường lúng túng, thậm chí e ngại rủi ro pháp lý khi tiến hành hợp tác thương mại hóa với khối doanh nghiệp.
Điểm nghẽn thứ hai là sự thiếu vắng một thị trường kết nối cung-cầu công nghệ sinh học thực chất và đồng bộ. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vẫn quen với việc nhập khẩu công nghệ nước ngoài hoặc sử dụng phương thức sản xuất truyền thống, thiếu niềm tin vào năng lực của các nhà khoa học trong nước, trong khi các nhà khoa học lại thiếu thông tin thị trường và kỹ năng quản trị kinh doanh để đưa sản phẩm tiếp cận người tiêu dùng.
Thêm vào đó, nguồn vốn đầu tư cho giai đoạn nghiên cứu phát triển sản phẩm mẫu và thương mại hóa thử nghiệm còn vô cùng hạn chế, chưa hình thành được các quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên biệt cho lĩnh vực công nghệ sinh học đầy tiềm năng nhưng nhiều rủi ro kỹ thuật này.
Để giải quyết những điểm nghẽn nêu trên, đòi hỏi phải có sự chung tay hành động đồng bộ từ cả hệ thống chính trị, cơ quan quản lý nhà nước, viện trường và cộng đồng doanh nghiệp thông qua một hệ thống giải pháp toàn diện.
Các chuyên gia, nhà quản lý đề xuất, cần nhìn nhận rõ sự khác biệt mang tính bản chất trong mối liên kết các nhà như đã nêu ở trên, trong đó, nhà khoa học hướng tới sự đột phá tri thức và công bố quốc tế, tạo ra tài sản trí tuệ (IP). Doanh nghiệp hướng tới lợi nhuận, thị phần và dòng tiền. Nhà khoa học đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối, tính mới và tính sáng tạo để đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ. Doanh nghiệp đòi hỏi tính khả thi thương mại và khả năng sản xuất hàng loạt. Từ đó, từng bước hợp lực phá băng 4 rào cản chính gồm: định giá tài sản trí tuệ, kỳ vọng, cơ chế-thủ tục, niềm tin.
Điều này cũng có nghĩa rằng, hệ sinh thái kết nối cung-cầu công nghệ sinh học bền vững tại Việt Nam không thể tiếp tục hoạt động theo mô hình tự phát mà phải chuyển mình mạnh mẽ sang mô hình liên kết chiến lược nhằm tạo ra các tiêu chuẩn chuẩn hóa.
Một số phân tích cho thấy, vai trò của các bộ, ngành là định hướng kéo thị trường, đó là phối hợp điều phối chiến lược giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhằm định hướng chính xác các bài toán lớn cho ngành công nghiệp sinh học. Song song là tranh thủ tối đa sự hỗ trợ kỹ thuật quốc tế về phương pháp đo lường, tiêu chuẩn hóa và quản lý tín chỉ carbon. Đây cũng là hướng đi thời sự mà nước ta cần chủ động đặt ra tiêu chuẩn.
Nói cách khác, thay vì mô hình “đẩy công nghệ” từ phòng thí nghiệm ra thị trường một cách thụ động, chúng ta phải chuyển sang cơ chế "kéo nhu cầu", lấy bài toán thực tế của thị trường và doanh nghiệp làm mệnh lệnh đặt hàng cho nghiên cứu.
Với mô hình Nhà nước-nhà khoa học-doanh nghiệp, ba bên cùng đi một hành trình nhưng thay đổi vai trò. Theo đó, nhà khoa học chuyển từ người đi bán quy trình, bán kết quả nghiên cứu sang người đưa ra giải pháp. Doanh nghiệp chuyển từ người đi mua máy, mua công nghệ sang người nắm rõ bài toán của mình và đi tìm người đồng hành. Nhà nước chuyển từ tài trợ đề tài sang chia sẻ rủi ro ở giai đoạn giữa, tức giai đoạn chạy thử và thử nghiệm thị trường.
Một đề xuất khác đến từ thực tiễn của doanh nghiệp cho hay, để giảm áp lực tài chính trong thời gian phát triển công nghệ lõi, cân nhắc chiến lược “bắt cá dọc đường”, tức tạo nguồn thu từ các sản phẩm, dịch vụ có chu kỳ thương mại hóa ngắn hơn. Các nguồn thu có thể đến từ bộ kit chẩn đoán, chế phẩm vi sinh, giám định ADN, dịch vụ nghiên cứu và phát triển theo hợp đồng, kiểm nghiệm hoặc tư vấn thiết lập phòng thí nghiệm. Doanh nghiệp cũng có thể tìm kiếm tài trợ nghiên cứu và các nguồn vốn không làm pha loãng cổ phần.
Thiết nghĩ, thương mại hóa công nghệ sinh học không đơn thuần là đưa một phát minh ra thị trường mà là quá trình cân đối giữa tiềm năng khoa học, khả năng tạo doanh thu và mức độ chấp nhận rủi ro. Để các nghiên cứu trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà đầu tư cần thống nhất từ đầu về mục tiêu phát triển, nguồn lực tài chính và cách chia sẻ lợi ích.