Thành tựu trong phát triển khoa học cơ bản

Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đang cùng các bộ, ngành phối hợp chặt chẽ triển khai Chương trình Phát triển khoa học cơ bản trong lĩnh vực hóa học, khoa học sự sống, khoa học trái đất và khoa học biển giai đoạn 2017-2025 (Chương trình 562) trong xây dựng đội ngũ các nhà khoa học có trình độ cao; phát triển các nhóm nghiên cứu trẻ, nghiên cứu mạnh; phát triển được một số hướng nghiên cứu cơ bản trọng điểm có định hướng ứng dụng nhằm phục vụ công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Hoạt động nghiên cứu tại Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. (Ảnh hà linh)
Hoạt động nghiên cứu tại Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. (Ảnh hà linh)

Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ khẳng định, với vai trò là cơ quan chủ trì thực hiện Chương trình 562 (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 562/QÐ-TTg ngày 25/4/2017), Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ đã thành lập Tổ công tác để triển khai Chương trình 562 (Quyết định số 168/QÐ-BKHCN ngày 29/1/2018). Theo đó, lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ đã chỉ đạo sát sao, phối hợp với các bộ, ngành triển khai thực hiện, bám sát vào 3 mục tiêu, 10 nhiệm vụ và giải pháp của Chương trình; dành nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ cấp quốc gia.

Trong thời gian qua, các chương trình phát triển khoa học cơ bản như: Chương trình phát triển toán học, Chương trình phát triển vật lý, Chương trình phát triển khoa học cơ bản trong các lĩnh vực hóa học, khoa học sự sống, khoa học trái đất và khoa học biển, được xây dựng và thiết kế để phát triển lĩnh vực một cách toàn diện, từ nghiên cứu cơ bản do Quỹ NAFOSTED tài trợ đến nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức dưới hình thức nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia và các đề tài cấp bộ của các bộ, ngành.

Ngoài ra, tăng cường các hoạt động nâng cao tiềm lực như nâng cấp các tạp chí khoa học chuyên ngành đạt chuẩn quốc tế; đào tạo sau đại học, bồi dưỡng, nâng cao năng lực nghiên cứu cho các giảng viên trẻ ở các cơ sở giáo dục đại học; đầu tư các phòng thí nghiệm chuyên ngành; đẩy mạnh công bố thông qua hợp tác quốc tế...

Thực hiện Chương trình 562, đến nay, các bộ, ngành đã tích cực tham gia Chương trình và nhận thức được vai trò, cơ hội để phát triển các lĩnh vực hóa học, khoa học sự sống, khoa học trái đất và khoa học biển giai đoạn 2017-2025; đã hình thành các nhóm nghiên cứu và nhóm nghiên cứu mạnh, phát triển các chương trình nghiên cứu trọng điểm gắn với nhóm nghiên cứu mạnh định hướng ứng dụng.

Bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Phó Vụ trưởng Khoa học Xã hội, Nhân văn và Tự nhiên (Bộ Khoa học và Công nghệ)

Qua đó, nhiều sản phẩm khoa học và công nghệ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn góp phần quan trọng trong việc nâng cao vị thế của 4 lĩnh vực nghiên cứu cơ bản trên các bảng xếp hạng quốc tế và nâng cao xếp hạng đại học của các cơ sở giáo dục đại học.

Sau 7 năm thực hiện, một số nội dung của Chương trình 562 đã đạt được kết quả khả quan. Cụ thể, năm 2023, các lĩnh vực nêu trên đã từ tốp 55-65 thế giới (năm 2016) vươn lên tốp 30-45 thế giới; đối với khu vực châu Á đang đứng thứ 10 và 11; đối với khu vực ASEAN đang đứng thứ 3 và thứ 4 tùy lĩnh vực...

Ðồng thời, các công bố quốc tế thuộc Chương trình 562 trong hệ thống tạp chí trong danh mục ISI tăng nhanh về số lượng (trung bình 20%/năm); chất lượng các công trình công bố trên tạp chí có chỉ số ảnh hưởng IF cao ngày càng tăng, có một số công bố trên các tạp chí hàng đầu Science và Nature...

Ðại diện Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam cho biết, thời gian qua, Viện đã đầu tư, tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trong Chương trình 562. Theo đó, nâng cấp các nghiên cứu, công bố trong nước và quốc tế; đẩy mạnh hợp tác song phương trong lĩnh vực hóa học, khoa học sự sống, khoa học trái đất và khoa học biển... Tuy nhiên, để tiếp tục triển khai có hiệu quả Chương trình 562, cần tăng cường hình thành và xây dựng nhóm nghiên cứu trẻ và nghiên cứu mạnh.

Chia sẻ về khó khăn trong quy trình thực hiện các đề tài, nhiệm vụ cấp nhà nước, đại diện Ðại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh mong muốn Bộ Khoa học và Công nghệ gỡ vướng, đơn giản hóa thủ tục hành chính để các nhà khoa học phía nam dễ dàng tiếp cận và tham gia thực hiện các đề tài.

Bên cạnh đó, các nhiệm vụ cấp nhà nước cần định hướng ứng dụng, gắn với địa phương, mang tính phục vụ cộng đồng; cần có cơ chế, chính sách đặc thù đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước, thu hút các tiến sĩ trẻ ở nước ngoài về Việt Nam nghiên cứu và hình thành các nhóm nghiên cứu trẻ, nghiên cứu mạnh.

Nhiều chuyên gia ngành giáo dục và đào tạo đồng quan điểm nêu trên, đồng thời cho rằng, cần nghiên cứu cấp học bổng, định hướng đào tạo cho nguồn nhân lực trẻ từ khi học đại học để có thể nuôi dưỡng đam mê và ươm tạo nguồn cán bộ khoa học và công nghệ chất lượng cao.

Liên quan đến hệ thống tạp chí trong nước, các chuyên gia đề xuất tăng cường đầu tư các tạp chí trong nước, nâng số lượng các tạp chí đạt chuẩn Scopus... nhằm xây dựng hệ thống công bố trong nước hoàn thiện, phát triển.

Ðến nay, sau 7 năm thực hiện Chương trình 562, nhiều bộ, ngành kiến nghị Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh thời gian thực hiện Chương trình 562 đến năm 2030.

Về vấn đề này, lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh, thời gian tới, bộ sẽ cùng các bộ, ngành tiếp tục phối hợp chặt chẽ triển khai Chương trình 562 trong xây dựng đội ngũ các nhà khoa học có trình độ cao, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực theo chuẩn quốc tế; phát triển các nhóm nghiên cứu trẻ có tiềm năng trong các cơ sở giáo dục đại học; phát triển được một số hướng nghiên cứu cơ bản trọng điểm định hướng ứng dụng có tính liên ngành, đa ngành để tiếp thu, làm chủ các công nghệ tiên tiến phục vụ sản xuất và đời sống; tăng số công trình khoa học được công bố trên các tạp chí uy tín quốc tế; nâng cấp các tạp chí khoa học chuyên ngành đạt chuẩn quốc tế... nhằm xây dựng hệ thống công bố trong nước tốt hơn; phát triển và nâng cao vị thế nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ của Việt Nam trên trường quốc tế.

Ðến năm 2024, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng trong phát triển khoa học cơ bản trong các lĩnh vực hóa học, khoa học sự sống, khoa học trái đất và khoa học biển. Những thành tựu này không chỉ góp phần nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của quốc gia mà còn đóng góp vào sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Việt Nam cần tiếp tục đầu tư và phát triển các lĩnh vực này để đáp ứng các thách thức và cơ hội trong tương lai.

Có thể bạn quan tâm

Đà Nẵng mở không gian tầm thấp: Từ thí điểm dịch vụ đến hạ tầng kinh tế mới.

Đà Nẵng mở không gian tầm thấp: Từ thí điểm dịch vụ đến hạ tầng kinh tế mới

Không chỉ dừng lại ở câu chuyện ứng dụng thiết bị bay không người lái (UAV) cho giao hàng hay cứu hộ, việc Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng khởi động Đề án “Thí điểm phát triển kinh tế không gian tầm thấp” cho thấy một bước đi mang tính chiến lược: Biến tầng không lưu thấp thành một lớp hạ tầng kinh tế kỹ thuật mới.

Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống điện mặt trời mái nhà để phục vụ sản xuất, góp phần giảm chi phí tiền điện. (Ảnh: LÊ CHI)

Bài toán sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

Nhu cầu năng lượng ngày càng lớn đang đặt ra yêu cầu không chỉ bảo đảm đủ nguồn cung mà còn phải sử dụng hiệu quả từng đơn vị năng lượng. Trong bối cảnh đó, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo đang mở ra cách tiếp cận mới: Đo lường chính xác mức tiêu thụ, nhận diện điểm lãng phí, tối ưu vận hành.

Hình ảnh hạt tiêu xanh, hạt tiêu đen, hạt tiêu trắng Tiên Phước. (Ảnh minh họa: Cục Sở hữu trí tuệ)

Những gốc tiêu 40 năm tuổi và “tấm căn cước” của vị cay xứ Tiên

Trên vùng đất gò đồi nhiều sỏi đá, những dây tiêu bản địa vẫn bám vào thân cây sống, len rễ sâu vào lòng đất và cho ra loại hạt nhỏ nhưng thơm, cay nồng. Chỉ dẫn địa lý “Tiên Phước” được bảo hộ mở ra cơ hội để sản vật lâu đời này vượt khỏi những phiên chợ địa phương, tiến đến thị trường rộng lớn hơn.

Dạy và học thế nào để người học thực sự "làm chủ" công nghệ trí tuệ nhân tạo. (Ảnh minh họa có sử dụng AI )

Giáo dục trong kỷ nguyên AI, từ sử dụng đến làm chủ công nghệ

Việc đưa trí tuệ nhân tạo (AI) vào trường học đã được thí điểm trong năm học 2025-2026 và định hướng triển khai đại trà từ năm học 2026–2027. Nhìn lại hành trình này, câu hỏi lớn nhất của ngành giáo dục đặt ra lúc này không còn là "có nên dạy AI hay không", mà là dạy và học thế nào để người học thực sự "làm chủ" công nghệ.

Người Viettel ở Natcom không rời đi khi thị trường khó khăn nhất. Ảnh: Viettel Global.

15 năm Viettel tại Haiti: Hành trình vượt qua nghịch cảnh để phát triển

Giữa một thị trường liên tục đối mặt với thiên tai, bất ổn và thiếu thốn, Natcom không chỉ vươn lên dẫn đầu viễn thông mà còn đang đưa kết nối trở thành nền tảng cho tài chính số và đời sống. Đó là câu chuyện về những “đóa hoa nở trong đá” - không sinh ra từ phép màu, mà từ sự bền bỉ ở lại và lớn lên trong nghịch cảnh.

Các sản phẩm chè Tủa Chùa ngày càng được chuẩn hóa bao bì, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng tầm giá trị. (Ảnh: Mỹ Linh)

Để sáng chế y dược không dừng lại trong phòng thí nghiệm

Nhiều kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y dược có tiềm năng ứng dụng nhưng để đi từ phòng thí nghiệm đến thị trường, các nhà khoa học còn phải vượt qua khoảng cách lớn về bảo hộ, định giá, đàm phán và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ.

Pháp và Việt Nam có tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực công nghệ phục vụ chuyển đổi xanh. (Ảnh: Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam)

Tăng cường kết nối khoa học-công nghệ Việt Nam-Pháp

Mối quan hệ Việt Nam-Pháp có bề dày lịch sử hơn 50 năm, đã vượt qua những thách thức của khoảng cách địa lý và biến động tình hình khu vực, thế giới, ngày càng phát triển mạnh mẽ và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước. 

Trung tâm phục vụ hành chính công phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (Ảnh: CÔNG VINH)

Xử lý điểm nghẽn chuyển đổi số, đưa hệ thống số vào vận hành hiệu quả

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi số trên toàn quốc vẫn đối mặt không ít khó khăn về hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và cơ chế thực thi. Để khắc phục bất cập này, Kế hoạch 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số được kỳ vọng đưa hệ thống số vào vận hành đồng bộ, hiệu quả.

Nhóm cán bộ, kỹ thuật viên vận hành thiết bị bay không người lái (UAV) để thu thập dữ liệu hiện trạng hạ tầng đường bộ.

Công nghệ giúp nhận diện sớm nguy cơ mất an toàn đường bộ

Từ kiểm tra mặt đường bằng xe khảo sát chuyên dụng đến sử dụng thiết bị bay không người lái (UAV) kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI), ngành đường bộ đang từng bước ứng dụng công nghệ để nhận diện sớm những bất thường của hạ tầng, qua đó chủ động hơn trong bảo trì, phòng ngừa sự cố và bảo đảm an toàn giao thông.

Hiệu chỉnh hệ thống trước khi khảo sát thực địa.

AI hỗ trợ bảo đảm an toàn từ mặt đường

Không chỉ phục vụ công tác sửa chữa, bảo trì, dữ liệu về tình trạng mặt đường được thu thập bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) còn tạo thêm cơ sở để nhận diện, đánh giá và xử lý kịp thời những vị trí có thể ảnh hưởng an toàn giao thông.