Khoa học, công nghệ tạo động lực mới cho du lịch Việt Nam

Nghị quyết 26-NQ/TW Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam mở ra hướng phát triển mới cho du lịch Việt Nam, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị thông minh được xác định là những động lực quan trọng để nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và giá trị của toàn ngành.

Nghị quyết yêu cầu hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh, đồng bộ, thống nhất, kết nối dữ liệu, nền tảng, dịch vụ và các chủ thể tham gia chuỗi giá trị du lịch. (Ảnh minh họa: Bộ Khoa học và Công nghệ)
Nghị quyết yêu cầu hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh, đồng bộ, thống nhất, kết nối dữ liệu, nền tảng, dịch vụ và các chủ thể tham gia chuỗi giá trị du lịch. (Ảnh minh họa: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Tạo giá trị bằng khoa học, công nghệ, dữ liệu

Một hệ sinh thái du lịch thông minh chỉ có thể hình thành khi dữ liệu được kết nối và sử dụng hiệu quả. Vì vậy, Nghị quyết yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia theo hướng đồng bộ, thống nhất, liên thông giữa cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương với cộng đồng doanh nghiệp.

Dữ liệu về tài nguyên, hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, thị trường, sản phẩm, dịch vụ, điểm đến và lao động du lịch sẽ được kết nối, chia sẻ và từng bước tích hợp vào nền tảng dữ liệu quốc gia dùng chung. Khi đó, dữ liệu không chỉ phục vụ thống kê mà trở thành cơ sở để dự báo nhu cầu, hoạch định chính sách, phát triển sản phẩm, xúc tiến quảng bá và giải quyết những vấn đề cần sự phối hợp liên ngành.

Quá trình xây dựng và khai thác dữ liệu phải đi cùng yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống và bảo vệ dữ liệu cá nhân của khách du lịch. Đây là điều kiện quan trọng để chuyển đổi số du lịch được triển khai bền vững, tạo niềm tin cho người dân, du khách và doanh nghiệp.

Trên nền tảng dữ liệu, hoạt động du lịch sẽ được số hóa sâu hơn trong toàn bộ hành trình của du khách. Từ thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh, tìm kiếm thông tin, lựa chọn điểm đến, đặt dịch vụ, mua vé đến tham quan và thanh toán, các công nghệ mới được ứng dụng để tạo nên trải nghiệm thuận tiện, liền mạch và an toàn.

Bản đồ số du lịch, vé điện tử, trợ lý du lịch ảo đa ngôn ngữ, bảo tàng số, thuyết minh đa phương tiện và các hệ thống cảnh báo, hỗ trợ du khách sẽ được phát triển tại các khu, điểm du lịch. Việc ứng dụng được ưu tiên tại các khu du lịch quốc gia, di sản thế giới, khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia và những điểm đến có lượng khách lớn.

Cùng với đó, nền tảng số du lịch quốc gia được định hướng tích hợp nhiều dịch vụ, tiện ích và thu hút các nhà cung cấp tham gia. Thay vì phải sử dụng những hệ thống riêng lẻ, du khách có thể được hỗ trợ xuyên suốt từ khi tìm hiểu, lựa chọn điểm đến cho đến khi kết thúc hành trình.

Khoa học, công nghệ cũng mở rộng không gian sáng tạo sản phẩm du lịch. Những giá trị của công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản và kinh tế đêm có thể được làm mới bằng công nghệ, tạo ra các sản phẩm giàu trải nghiệm, có giá trị gia tăng cao mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa. Qua đó, đổi mới sáng tạo trở thành một nguồn lực tăng trưởng mới, thay vì chỉ là công cụ hỗ trợ hoạt động quảng bá.

Từ quản lý hành chính đến quản trị dựa trên dữ liệu

Chuyển đổi số du lịch không dừng lại ở việc xây dựng thêm ứng dụng hay số hóa một số dịch vụ. Yêu cầu lớn hơn được Nghị quyết đặt ra là chuyển căn bản phương thức quản lý ngành từ hành chính truyền thống sang quản trị đồng bộ, hiện đại và thông minh.

Trong mô hình mới, hiệu quả phát triển du lịch không chỉ được đánh giá bằng số lượng khách, mà còn phải xem xét tổng thu, mức chi tiêu, thời gian lưu trú, chất lượng điểm đến, mức độ an toàn, tác động đến môi trường, kết quả chuyển đổi số và sự hài lòng của du khách. Cách đánh giá này sẽ thúc đẩy các địa phương, doanh nghiệp chuyển từ chạy theo quy mô sang chú trọng chất lượng và giá trị thực tế.

Hệ thống điều hành du lịch thông minh quốc gia và các trung tâm điều hành tại địa phương sẽ hỗ trợ cơ quan quản lý phân tích dữ liệu, dự báo xu hướng thị trường, hoạch định chính sách, phát triển sản phẩm và điều phối hoạt động tại điểm đến. Dữ liệu theo thời gian thực còn giúp quản lý sức chứa, phân luồng khách, kiểm soát chất lượng dịch vụ và bảo đảm an ninh, an toàn tại những khu vực đông người.

Phương thức quản trị mới đồng thời đòi hỏi cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn giữa các ngành và địa phương. Phát triển du lịch phải được đặt trong mối quan hệ với quy hoạch, phát triển đô thị, giao thông, bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường. Cơ quan quản lý giữ vai trò điều phối, kết nối doanh nghiệp và hình thành chuỗi giá trị đồng bộ, thay vì xử lý riêng lẻ từng hoạt động.

Trong môi trường kinh doanh, thương mại điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt, kể cả thanh toán xuyên biên giới, sẽ tiếp tục được mở rộng. Doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ chuyển đổi số; giá sản phẩm, dịch vụ được công khai, chuẩn hóa trên nền tảng số dùng chung và kết nối với cơ quan quản lý để giám sát theo thời gian thực.

Minh bạch thông tin giá phải đi cùng kiểm soát chất lượng. Nghị quyết yêu cầu sử dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn, bộ chỉ số đánh giá và chế tài đủ mạnh để quản lý chất lượng dịch vụ, hàng hóa và an toàn thực phẩm; đồng thời tổ chức đánh giá tín nhiệm điểm đến và đo lường mức độ hài lòng của du khách.

Khoa học và công nghệ phục vụ mục tiêu phát triển xanh

Trong định hướng của Nghị quyết, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh không phải hai quá trình tách rời. Công nghệ được sử dụng để giải quyết đồng thời bài toán nâng cao trải nghiệm, tối ưu hóa vận hành và giảm tác động của hoạt động du lịch tới môi trường.

Internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ quản lý năng lượng, vận hành hệ thống tiết kiệm điện, nước tại các cơ sở lưu trú; hệ thống cảm biến giúp giám sát chất lượng không khí, nguồn nước và cảnh báo sớm nguy cơ vượt quá sức tải môi trường. Những dữ liệu này là cơ sở để cơ quan quản lý và doanh nghiệp điều chỉnh hoạt động, giảm phát thải và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn.

Phát triển du lịch xanh cũng gắn với đầu tư hạ tầng thu gom, xử lý nước thải, rác thải rắn, giảm thiểu rác thải nhựa và bảo vệ cảnh quan. Tại các khu du lịch quốc gia, vùng di sản, ven biển, hải đảo và những nơi có nguy cơ quá tải, yêu cầu bảo tồn tài nguyên phải được đặt song hành với khai thác kinh tế.

Việc phát triển giao thông sử dụng năng lượng sạch, ứng dụng công nghệ quản lý năng lượng thông minh, sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường và thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn sẽ góp phần hình thành các điểm đến xanh, an toàn và bền vững.

Công nghệ còn hỗ trợ nâng cao khả năng ứng phó của ngành du lịch trước thiên tai, dịch bệnh, sự cố an toàn và những biến động lớn. Hệ thống cảnh báo sớm, kế hoạch xử lý khủng hoảng và cơ chế chia sẻ thông tin nhanh giữa doanh nghiệp, cơ quan quản lý, chính quyền địa phương sẽ giúp bảo vệ du khách, hạn chế thiệt hại và tăng khả năng chống chịu của các điểm đến.

Nghị quyết số 26-NQ/TW cho thấy khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không chỉ là công cụ hiện đại hóa hoạt động du lịch, mà là nền tảng để đổi mới mô hình tăng trưởng và phương thức quản trị toàn ngành. Dữ liệu tạo nền móng cho điều hành; công nghệ mở ra sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm mới; quản trị thông minh nâng cao hiệu quả vận hành; còn chuyển đổi xanh bảo đảm định hướng phát triển lâu dài.

Có thể bạn quan tâm

Nhóm cán bộ, kỹ thuật viên vận hành thiết bị bay không người lái (UAV) để thu thập dữ liệu hiện trạng hạ tầng đường bộ.

Công nghệ giúp nhận diện sớm nguy cơ mất an toàn đường bộ

Từ kiểm tra mặt đường bằng xe khảo sát chuyên dụng đến sử dụng thiết bị bay không người lái (UAV) kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI), ngành đường bộ đang từng bước ứng dụng công nghệ để nhận diện sớm những bất thường của hạ tầng, qua đó chủ động hơn trong bảo trì, phòng ngừa sự cố và bảo đảm an toàn giao thông.

Hiệu chỉnh hệ thống trước khi khảo sát thực địa.

AI hỗ trợ bảo đảm an toàn từ mặt đường

Không chỉ phục vụ công tác sửa chữa, bảo trì, dữ liệu về tình trạng mặt đường được thu thập bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) còn tạo thêm cơ sở để nhận diện, đánh giá và xử lý kịp thời những vị trí có thể ảnh hưởng an toàn giao thông.

Bà Nguyễn Thanh Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phát biểu khai mạc hội nghị. (Ảnh: QH)

Đồng Nai tạo đột phá từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Với nhiều lợi thế nổi bật, Đồng Nai đang đứng trước cơ hội lớn để tạo bước đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đề nghị thành phố lựa chọn những nội dung có điều kiện chín muồi nhất, chuyển hóa chủ trương thành sản phẩm cụ thể.

Hàng loạt Chatbot đình đám gặp phải sự cố. Ảnh minh họa tạo bằng AI.

Một loạt chatbot như ChatGPT gián đoạn hoạt động

Dữ liệu từ Downdetector, trang web theo dõi sự cố internet, cho thấy hàng loạt người dùng chatbot ChatGPT của OpenAI tại nhiều quốc gia đã báo cáo về tình trạng gián đoạn diện rộng đối với mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) này trong ngày 3/9.

[Infographic] Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

[Infographic] Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Chiến lược phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo (AI); phát triển tối thiểu 5 nền tảng AI dùng chung quốc gia; hình thành tối thiểu 10 thương hiệu AI của Việt Nam có năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế.

Bài 4: Khát vọng thịnh vượng 2045: Chung dòng máu Việt, triệu con tim cùng nhịp đập

Bài 4: Khát vọng thịnh vượng 2045: Chung dòng máu Việt, triệu con tim cùng nhịp đập

Từ bản hòa ca của thống nhất dân tộc cách đây nửa thế kỷ đến bản hòa ca của đổi mới, hội nhập và phát triển hôm nay, Việt Nam đang viết tiếp câu chuyện về khát vọng vươn lên. Trên hành trình hướng tới năm 2045, dòng máu Việt ở khắp mọi miền thế giới đang cùng hòa chung một nhịp đập vì tương lai đất nước.