Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu khoa học hiện đại

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực quan trọng của phát triển kinh tế-xã hội, dữ liệu khoa học đang trở thành một tài nguyên chiến lược, có giá trị không kém các nguồn lực truyền thống như nhân lực, tài chính hay cơ sở vật chất.

Giờ học của sinh viên ngành Khoa học dữ liệu tại Trường đại học RMIT.
Giờ học của sinh viên ngành Khoa học dữ liệu tại Trường đại học RMIT.

Việc xây dựng một hệ sinh thái dữ liệu khoa học thống nhất, hiện đại không chỉ là yêu cầu của quá trình chuyển đổi số mà còn là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền khoa học Việt Nam trong thời đại kinh tế tri thức.

Công tác nghiên cứu khoa học thời kỳ công nghệ hiện nay không còn dựa vào tri thức từng cá nhân, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng tổ chức và khai thác dữ liệu. Khi dữ liệu được lưu trữ có hệ thống, kết quả nghiên cứu sẽ không chỉ phục vụ một đề tài, mà còn là nguồn tài nguyên cho nhiều nghiên cứu tiếp theo, không chỉ ở một ngành, mà có tính đa ngành. Muốn nâng cao năng lực nghiên cứu, phải xây dựng vững chắc nền tảng là dữ liệu khoa học. Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là tình trạng dữ liệu còn phân tán, thiếu tính liên thông và đồng bộ.

Tiến sĩ Phạm Thị Xuân Nga, Phó Giám đốc chi nhánh Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ và Tây Nguyên (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng, thực tế các trường đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm và doanh nghiệp đang tự xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ nhu cầu riêng, sử dụng các định dạng, tiêu chuẩn và phương thức xác thực khác nhau, gây khó khăn cho việc kết nối và trao đổi thông tin.

Các dữ liệu khoa học của mỗi đơn vị có sự chênh lệch về số lượng và sự chuẩn hóa. Thí dụ, cùng một loại thông tin, mỗi đơn vị sẽ mô tả bằng những cách khác nhau. Điều này dẫn đến việc các dữ liệu khoa học chưa được khai thác hết giá trị. Một số dữ liệu được sử dụng trong phạm vi một đề tài rồi bị bỏ quên rất lãng phí, trong khi nếu được liên kết với các nguồn dữ liệu khác có thể mang lại những phát hiện mới, giảm chi phí cũng như thời gian phát triển sản phẩm.

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, mới đây đã phối hợp Tập đoàn VNPT khảo sát hiện trạng dữ liệu. Báo cáo cho biết, hiện tỷ lệ số hóa của toàn Viện còn thấp, trong khi khối lượng tài liệu chưa được số hóa còn rất lớn. Dữ liệu đang được lưu trữ dưới nhiều định dạng khác nhau, thiếu hệ thống quản trị tập trung và bộ tiêu chuẩn thống nhất. Đây được xem là điểm nghẽn lớn trong quá trình chuyển đổi số của Viện. Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, việc xây dựng hệ thống dữ liệu đang diễn ra mạnh mẽ nhờ sự hỗ trợ của các thiết bị hiện đại, hệ thống cảm biến và công nghệ tính toán hiệu năng cao.

Hiện nay, một số trường đại học lớn như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Bách khoa Hà Nội đã phát triển kho lưu trữ số cho phép lưu giữ luận văn, luận án, bài báo và các công bố khoa học. Tuy nhiên, các hệ thống này vẫn hoạt động tương đối độc lập. Về căn bản, một nhà nghiên cứu muốn tìm kiếm dữ liệu vẫn phải truy cập vào cơ sở dữ liệu của từng đơn vị, dẫn đến việc khai thác và tái sử dụng dữ liệu gặp nhiều khó khăn.

Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu khoa học thống nhất, hiện đại đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và cộng đồng khoa học. Đây không chỉ là câu chuyện về công nghệ mà còn liên quan thể chế, tiêu chuẩn, nguồn nhân lực và trách nhiệm chia sẻ. Hệ sinh thái này có ý nghĩa như một mạng lưới kết nối thật sự các yếu tố bao gồm: Dữ liệu, con người, hạ tầng công nghệ, tổ chức nghiên cứu và cơ chế quản trị.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quách Thị Ngọc An (Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương) cho rằng, mục tiêu cuối cùng không phải là tạo ra một “kho dữ liệu khổng lồ”, mà là hệ thống dữ liệu được tổ chức tốt. Ở đó mỗi kết quả nghiên cứu có thể trở thành điểm khởi đầu cho những nghiên cứu khác, mỗi nhà khoa học có thể dễ dàng tìm thấy nguồn lực cần thiết, mỗi doanh nghiệp có thêm cơ hội tiếp cận tri thức và cơ quan quản lý có cơ sở khoa học để hoạch định chính sách. Đây là lý do phải xây dựng hạ tầng dữ liệu khoa học thống nhất, đồng bộ ở quy mô quốc gia...

Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Chiến lược Dữ liệu Khoa học và Công nghệ đến năm 2030 với quan điểm, dữ liệu như là một nguồn năng lượng mới của nền kinh tế tri thức.

Theo đó, tất cả dữ liệu về nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, đổi mới sáng tạo sẽ được tích hợp, liên thông và phân tích đồng bộ trong một hệ thống dữ liệu mở. Hệ thống này không chỉ phục vụ quản lý nội bộ mà còn được chia sẻ và khai thác như nguồn lực cho đổi mới sáng tạo.

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã ban hành Kế hoạch 100 ngày chuyển đổi số với mục tiêu hoàn thiện khung quản trị dữ liệu, xây dựng từ điển dữ liệu dùng chung, xây dựng quy chế quản lý, chia sẻ và khai thác dữ liệu. Lãnh đạo Viện xác định, đây là nền tảng quan trọng để hình thành hệ sinh thái dữ liệu thống nhất, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và tư vấn chính sách.

Có thể bạn quan tâm

Các sản phẩm chè Tủa Chùa ngày càng được chuẩn hóa bao bì, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng tầm giá trị. (Ảnh: Mỹ Linh)

Để sáng chế y dược không dừng lại trong phòng thí nghiệm

Nhiều kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y dược có tiềm năng ứng dụng nhưng để đi từ phòng thí nghiệm đến thị trường, các nhà khoa học còn phải vượt qua khoảng cách lớn về bảo hộ, định giá, đàm phán và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ.

Pháp và Việt Nam có tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực công nghệ phục vụ chuyển đổi xanh. (Ảnh: Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam)

Tăng cường kết nối khoa học-công nghệ Việt Nam-Pháp

Mối quan hệ Việt Nam-Pháp có bề dày lịch sử hơn 50 năm, đã vượt qua những thách thức của khoảng cách địa lý và biến động tình hình khu vực, thế giới, ngày càng phát triển mạnh mẽ và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước. 

Nhóm cán bộ, kỹ thuật viên vận hành thiết bị bay không người lái (UAV) để thu thập dữ liệu hiện trạng hạ tầng đường bộ.

Công nghệ giúp nhận diện sớm nguy cơ mất an toàn đường bộ

Từ kiểm tra mặt đường bằng xe khảo sát chuyên dụng đến sử dụng thiết bị bay không người lái (UAV) kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI), ngành đường bộ đang từng bước ứng dụng công nghệ để nhận diện sớm những bất thường của hạ tầng, qua đó chủ động hơn trong bảo trì, phòng ngừa sự cố và bảo đảm an toàn giao thông.

Hiệu chỉnh hệ thống trước khi khảo sát thực địa.

AI hỗ trợ bảo đảm an toàn từ mặt đường

Không chỉ phục vụ công tác sửa chữa, bảo trì, dữ liệu về tình trạng mặt đường được thu thập bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) còn tạo thêm cơ sở để nhận diện, đánh giá và xử lý kịp thời những vị trí có thể ảnh hưởng an toàn giao thông.

Bà Nguyễn Thanh Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phát biểu khai mạc hội nghị. (Ảnh: QH)

Đồng Nai tạo đột phá từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Với nhiều lợi thế nổi bật, Đồng Nai đang đứng trước cơ hội lớn để tạo bước đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đề nghị thành phố lựa chọn những nội dung có điều kiện chín muồi nhất, chuyển hóa chủ trương thành sản phẩm cụ thể.

Hàng loạt Chatbot đình đám gặp phải sự cố. Ảnh minh họa tạo bằng AI.

Một loạt chatbot như ChatGPT gián đoạn hoạt động

Dữ liệu từ Downdetector, trang web theo dõi sự cố internet, cho thấy hàng loạt người dùng chatbot ChatGPT của OpenAI tại nhiều quốc gia đã báo cáo về tình trạng gián đoạn diện rộng đối với mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) này trong ngày 3/9.

[Infographic] Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

[Infographic] Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Chiến lược phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo (AI); phát triển tối thiểu 5 nền tảng AI dùng chung quốc gia; hình thành tối thiểu 10 thương hiệu AI của Việt Nam có năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế.