Khu công nghiệp sinh thái đã và đang được chú trọng phát triển, mở rộng quy mô ở nước ta. (Ảnh: HNV)
Khu công nghiệp sinh thái đã và đang được chú trọng phát triển, mở rộng quy mô ở nước ta. (Ảnh: HNV)

Tạo đột phá trong phát triển khu công nghiệp sinh thái

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh chiến lược tăng trưởng xanh và thực hiện các cam kết quốc tế về phát thải ròng bằng 0 (Net Zero), việc phát triển các khu công nghiệp sinh thái đang trở thành một xu thế tất yếu. Mô hình này cũng nổi lên như “chìa khóa” cho sự phát triển bền vững.

Ở nước ta, kể từ năm 1992, mô hình khu công nghiệp sinh thái xuất hiện khi khu công nghiệp Nomura được xây dựng – khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tiên kể từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài (1987).

Giai đoạn 2015-2019, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) đã phối hợp với Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) triển khai hỗ trợ 4 khu công nghiệp thí điểm chuyển đổi từ khu công nghiệp truyền thống sang khu công nghiệp sinh thái, bao gồm: Khánh Phú, Gián Khẩu, Hòa Khánh và Trà Nóc 1, 2.

Từ năm 2020-2024, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) tiếp tục phối hợp với UNIDO dưới sự tài trợ của Thụy Sĩ để nhân rộng mô hình khu công nghiệp sinh thái tại 3 địa phương là Hải Phòng, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh.

ndo_br_kcnsinhthai2.jpg
Quy hoạch tổng thể một khu công nghiệp sinh thái Hải Dương (cũ), miền bắc Việt Nam. (Ảnh: PV)

Việt Nam có dư địa lớn phát triển khu công nghiệp sinh thái

Theo thống kê đến quý I/2025, cả nước có 433 khu công nghiệp đang hoạt động với diện tích đất tự nhiên lên tới gần 130.000ha. Dự báo đến năm 2030, diện tích đất phát triển khu công nghiệp sẽ đạt hơn 210.000ha. Đây là dư địa rất lớn để lồng ghép định hướng phát triển sinh thái vào quy hoạch các khu công nghiệp trong tương lai.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi vẫn đang diễn ra rất chậm. Theo Bộ Công thương, đến tháng 5/2024, chỉ khoảng 1-2% trong tổng số hơn 400 khu công nghiệp thực hiện chuyển đổi sang mô hình sinh thái.

Thực tế, vài năm trở lại đây, việc xây dựng khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái và chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu thành khu công nghiệp sinh thái đã trở thành nhu cầu cấp thiết để thích ứng với bối cảnh phát triển mới.

ndo_br_kcnsinhthai1.jpg
Một góc khu công nghiệp Cà Mau, miền nam Việt Nam. (Ảnh: HNV)

Về chính sách, Nghị định 82/2018/NĐ-CP và sau đó là Nghị định 35/2022/NĐ-CP đã bước đầu xác lập khái niệm, tiêu chí, điều kiện và cơ chế ưu đãi đối với các khu công nghiệp sinh thái. Đặc biệt, Nghị định 35/2022 làm rõ trách nhiệm của các địa phương, bổ sung quy định về xây dựng nhà ở cho công nhân, dịch vụ tiện ích trong khu công nghiệp và khuyến khích hợp tác công-tư để phát triển mô hình sinh thái.

Thông tư 05/2025/TT-BKHĐT cũng được ban hành, trong đó quy định rõ về "Báo cáo theo dõi, giám sát, đánh giá hiệu quả thực hiện khu công nghiệp sinh thái, doanh nghiệp sinh thái".

Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, hiện tại, khung pháp lý về khu công nghiệp sinh thái chủ yếu nằm trong các văn bản dưới luật, chưa có luật riêng biệt về khu công nghiệp để tạo hành lang pháp lý vững chắc, gây ra sự thiếu nhất quán và chưa đủ mạnh mẽ để thúc đẩy phát triển khu công nghiệp sinh thái.

Đáng nói hơn, các nội dung liên quan đến sử dụng năng lượng tái tạo, nước tái chế, điện mặt trời áp mái trong khu công nghiệp… vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể, khiến doanh nghiệp lúng túng trong triển khai. Không ít nhà đầu tư cũng chia sẻ những lo ngại tương tự: chuyển đổi sang mô hình sinh thái thì được gì, thủ tục ra sao, ưu đãi như thế nào…

Đáng lưu ý, giai đoạn 2024-2028, Chính phủ Thụy Sĩ đã cam kết hỗ trợ 3,6 triệu USD cho dự án "Nhân rộng phương pháp tiếp cận khu công nghiệp sinh thái để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam". Dự án sẽ tiếp tục được triển khai tại các địa phương như Hải Phòng, Bắc Ninh, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh...

Cơ hội để Việt Nam đáp ứng hội nhập và chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Mạnh Hùng, giảng viên Trường đại học Kiến trúc Hà Nội nhận định, phát triển khu công nghiệp sinh thái tại Việt Nam không chỉ là một xu hướng phù hợp với thời đại, mà còn là cơ hội chiến lược để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đáp ứng yêu cầu hội nhập và chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu.

Chia sẻ với Báo Nhân Dân, Tiến sĩ, Luật sư, doanh nhân Phạm Hồng Điệp, người thành lập Khu công nghiệp Nam Cầu Kiền (Hải Phòng) - khu công nghiệp sinh thái đầu tiên tại Việt Nam - khẳng định, Việt Nam có dư địa lớn để chuyển đổi sang mô hình khu công nghiệp sinh thái, xanh và thông minh. Để mô hình này phát triển mạnh mẽ hơn, cần sự phối hợp đồng bộ giữa chính phủ, chủ đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế trong việc chia sẻ công nghệ, huy động vốn, và nâng cao năng lực quản lý.

ndo_br_kcnsinthai3.jpg
Một góc khu công nghiệp Vũng Áng, miền trung Việt Nam. (Ảnh: HNV)

Có thể thấy, Việt Nam có cơ hội lớn để khẳng định vị thế trong dòng chảy đầu tư toàn cầu nếu biết đón đầu xu hướng và đầu tư đúng hướng. Phát triển khu công nghiệp sinh thái tại Việt Nam không chỉ là xu hướng mà còn điều kiện tiên quyết, là cơ hội chiến lược cho các chủ đầu tư và nhà đầu tư trong bối cảnh yêu cầu toàn cầu về phát triển bền vững ngày càng gia tăng.

Dù còn nhiều thách thức về chi phí, công nghệ, quy mô và pháp lý, tiềm năng kinh tế-xã hội và môi trường, nhưng với sự hỗ trợ từ chính phủ, các tổ chức quốc tế, khu công nghiệp sinh thái có thể trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xanh, bền vững của Việt Nam, đồng thời nâng cao vị thế cạnh tranh trên bản đồ đầu tư toàn cầu.

Có thể bạn quan tâm

Quyền Tổng Giám đốc Điều hành ACIAR, Tiến sĩ Nick Austin và Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp trao đổi bản Chiến lược Hợp tác Nghiên cứu Nông nghiệp 2026 - 2035 giữa ACIAR và MAE tại Canberra ngày 11/8/2026. (Ảnh: ACIAR)

Việt Nam-Australia tăng cường hợp tác nghiên cứu nông nghiệp hỗ trợ chuyển đổi xanh, bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu

Trung tâm Nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Australia (ACIAR) cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam vừa công bố Chiến lược hợp tác nghiên cứu giai đoạn 2026-2035 và thống nhất về nguyên tắc khoản đầu tư trị giá 3,3 triệu AUD cùng các khoản đóng góp hiện vật bổ sung cho hai dự án nghiên cứu mới.

Ảnh minh họa. (Ảnh: BM)

Hướng tới net zero từ những cuộc họp

Mỗi cuộc họp, hội nghị hay hội thảo đều phát sinh khí nhà kính từ các điện năng, điều hòa không khí, đi lại, ăn uống, in ấn và hàng loạt vật dụng phục vụ sự kiện.

Người tiêu dùng sử dụng sản phẩm túi bảo vệ môi trường thay cho túi nylon khi đi mua sắm tại siêu thị. (Ảnh: TÙNG DƯƠNG)

Kinh tế xanh: Từ chính sách đến lựa chọn tiêu dùng

Tiêu dùng xanh ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Khi người tiêu dùng ưu tiên những sản phẩm thân thiện môi trường, tiết kiệm tài nguyên là góp phần giảm áp lực lên môi trường, đồng thời tạo điều kiện và động lực để doanh nghiệp đổi mới sản xuất, hướng tới nền kinh tế xanh.

Các doanh nghiệp mang tới sự kiện các giải pháp vật liệu nhẹ và bền vững. (Ảnh: THÙY LINH)

Vật liệu xanh: Xu hướng tất yếu trong kỷ nguyên Net Zero

Ngành vật liệu xây dựng đang đứng trước bước chuyển mang tính lịch sử. Nếu trước đây giá thành, chất lượng và năng lực sản xuất là những yếu tố quyết định sức cạnh tranh, thì nay hàm lượng vật liệu tái chế và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn ESG đang trở thành tiêu chí quan trọng để ngành xây dựng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

VSCF 2026 đòn bẩy thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi xanh của ngành xây dựng Việt Nam. (Ảnh: THÙY LINH)

Khai mạc Diễn đàn VSCF 2026 với chủ đề “Định hình Net Zero Việt Nam-Tái kiến tạo cho 2050”

Ngày 16/7, Diễn đàn phát triển bền vững ngành Xây dựng Việt Nam (VSCF 2026) chính thức trở lại tại Hà Nội, quy tụ các hiệp hội nghề, doanh nghiệp xây dựng-vật liệu-bất động sản, cùng các tổ chức tài chính, chuyên gia trong và ngoài nước, cùng nhau hướng tới mục tiêu kiến tạo tương lai bền vững cho ngành xây dựng Việt Nam.

Dây chuyền chế biến gạo của Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam (Vinarice). (Ảnh: ĐỨC AN)

Gỡ “nút thắt”, gia tăng lợi ích từ lúa phát thải thấp

Giai đoạn 2026-2030, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục mở rộng quy mô. Tuy nhiên, để Đề án mang lại hiệu quả kinh tế thực chất cho nông dân, cần sớm tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải.

Giảng viên và sinh viên Trường đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh bên bức tường bê-tông gai dầu.

Hướng đi mới cho ngành vật liệu xây dựng

Quá trình đô thị hóa với tốc độ cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kéo theo nhu cầu rất lớn về vật liệu xây dựng. Trong khi các tài nguyên truyền thống như cát, đá chịu nhiều sức ép về sản lượng khai thác, thì hàng trăm nghìn tấn chất thải xây dựng mỗi ngày vẫn phải xử lý bằng cách san lấp, đổ bỏ.

Mô hình du lịch thích ứng thời tiết tại Tân Hóa, Quảng Trị là thí dụ tiêu biểu cho việc phát triển du lịch gắn với nâng cao khả năng chống chịu trước các thách thức môi trường. (Ảnh: TTXVN)

Thúc đẩy xây dựng mô hình du lịch xanh tuần hoàn

Du lịch tuần hoàn không dừng lại ở việc giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Xu thế mới này đòi hỏi tiến tới du lịch tái tạo, nơi mỗi hành trình của du khách đều để lại tác động tích cực, góp phần phục hồi tài nguyên, bảo tồn văn hóa, nâng cao năng lực chống chịu của cộng đồng và hiện thực hóa mục tiêu Net Zero toàn cầu.

Nguồn vốn tín dụng xanh đang góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Tín dụng xanh khó đến doanh nghiệp nhỏ nếu thiếu hệ sinh thái hỗ trợ

Tín dụng xanh đang tăng trưởng nhanh, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này vẫn là thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo các chuyên gia, để tiếp cận tín dụng xanh, doanh nghiệp không chỉ cần vốn mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu, ESG và chuyển đổi mô hình sản xuất.

Dốc Thẩm Mã luôn thu hút hành trình của mọi du khách đến thăm Tuyên Quang. (Ảnh: BẢO LONG)

Du lịch Việt Nam trên hành trình “xanh hóa”

Nếu trước đây, du lịch xanh chủ yếu được nhắc đến như một lựa chọn mang tính xu hướng, thì nay, nhiều địa phương, điểm đến, doanh nghiệp du lịch đã xác định đây là yêu cầu tự thân để tồn tại và nâng cao năng lực cạnh tranh. Điều này khiến hành trình “xanh hóa” du lịch Việt Nam ngày càng diễn ra mạnh mẽ và đi vào thực chất.

Thành phố Hồ Chí Minh đặt lộ trình cụ thể đến năm 2030 đưa vào hoạt động phương tiện công cộng thân thiện với môi trường (Ảnh: THẾ ANH)

Chuyển đổi xanh tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn chuyển đổi phát triển với yêu cầu tăng trưởng không chỉ nhanh mà còn phải gắn với chất lượng môi trường và tính bền vững. Trong đó, chuyển đổi xanh là một trong những vấn đề quan trọng để tiếp tục khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế cả nước.

Tổng công ty Phát điện 1 làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, chủ động đề xuất đầu tư các dự án điện mặt trời nổi trên hồ thủy điện tại địa phương.

Tổng công ty Phát điện 1 đề xuất đầu tư 3 dự án điện mặt trời nổi tại Lâm Đồng

Với định hướng phát triển năng lượng tái tạo, tại cuộc làm việc tại tỉnh Lâm Đồng mới đây, Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) đã đề xuất đầu tư 3 dự án điện mặt trời nổi trên hồ thủy điện đang hoạt động tại địa phương với tổng công suất gần 270MW, tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 4.400 tỷ đồng. 

Dự án góp phần hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ trong chuyển đổi xanh. (Ảnh: CTV)

Hỗ trợ tối đa 1,8 tỷ đồng cho các sáng kiến về chuyển đổi xanh do phụ nữ dẫn dắt

Từ nay đến hết ngày 12/6/2026, mỗi sáng kiến góp phần cải thiện sinh kế, tạo việc làm tử tế và nâng cao vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn, phù hợp với điều kiện địa phương và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ được nhận hồ sơ xét tài trợ đợt hai.

Hà Nội áp dụng thí điểm vùng phát thải thấp ở trung tâm Hà Nội từ ngày 1/7/2026.

Người dân tích cực hưởng ứng thí điểm vùng phát thải thấp ở trung tâm Hà Nội

Từ ngày 1/7/2026, Hà Nội sẽ bắt đầu thí điểm vùng phát thải thấp tại một số tuyến phố thuộc phường Hoàn Kiếm. Ngay trước thời điểm triển khai, ghi nhận cho thấy đông đảo người dân đã chủ động điều chỉnh thói quen đi lại, thể hiện sự đồng tình với chủ trương và bước đầu chuyển từ nhận thức sang hành động.