Sách “Cuộc phiêu du của Chép Hồng” và những đồng thoại hấp dẫn về thiên nhiên

Tập sách đồng thoại thiếu nhi “Cuộc phiêu du của Chép Hồng” của Phạm Hồng Điệp (Nhà xuất bản Tri thức, 2026) vừa ra mắt mang một sắc thái riêng trong dòng văn học thiếu nhi, thông qua cuộc phiêu du của loài cá và nỗ lực dựng nên cả một vũ trụ quan thủy sinh với những khát vọng khám phá và một hình thức tư duy, diễn ngôn mới.

Tập sách đồng thoại "Cuộc phiêu du của Chép Hồng" là món quà nhiều ý nghĩa hướng tới Ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6.
Tập sách đồng thoại "Cuộc phiêu du của Chép Hồng" là món quà nhiều ý nghĩa hướng tới Ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6.

Nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng, trong lời giới thiệu "Cuộc phiêu du của Chép Hồng", gọi cuốn sách là “một diễn ngôn về nước”. Đây gần như là chiếc chìa khóa đắc dụng để bước vào chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm. Bởi trong Cuộc phiêu du của Chép Hồng, nước trở thành cấu trúc vận động của mạng lưới sự sống. Mọi sinh thể đều phải học cách chảy, biến dòng và vượt thoát như nước. Từ hồ Cá Chéo đến mương nổi, từ đầm lúa đến vùng nước lợ, từ rừng ngập mặn đến vòng xoáy hóa rồng cuối tác phẩm, toàn bộ hành trình của Chép Hồng thực chất là hành trình học lấy bản thể lưu động của hiện tồn. Nước là môi trường sống, đồng nghĩa với chuyển di, thích nghi, tự định vị và tái cấu trúc chính mình không ngừng.

Cá Chép Hồng được nhân cách hóa, lớn lên bằng cách bơi qua những tầng nước khác nhau của đời sống. Nó vừa chu du trong không gian thủy sinh, mặt khác học cách đọc quy luật của sinh tồn thông qua sự biến dịch của nước. Cách viết này của Phạm Hồng Điệp khá hiện đại. Không phải ngẫu nhiên mà Bùi Việt Thắng liên hệ tác phẩm với khái niệm “thủy nhân văn học” (hydro-humanities), một hướng nghiên cứu xem nước không chỉ là thực thể vật lý mà còn là diễn ngôn định hình bản sắc.

Trong Cuộc phiêu du của Chép Hồng, nước mang theo ký ức cộng cư, ký ức văn hóa và cả nỗi bất an khi quan hệ giữa con người với tự nhiên đang ngày càng trở nên xung khắc. Vì thế, cuốn sách đã đành là viết cho thiếu nhi, nhưng cũng viết cho cả người lớn, nhất là khi chúng ta đang sống trong thời đại biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, ô nhiễm và sự gãy vỡ ngày càng lớn giữa con người với chính sinh quyển của mình.

Một trong những vấn đề được khuyến cáo nhiều hiện nay là văn học dành cho thiếu nhi thường áp đặt điểm nhìn của người lớn và trẻ em chỉ là đối tượng tiếp nhận chân lý chứ không thật sự được sống bằng đôi mắt trong veo thành thực của mình. Cuộc phiêu du của Chép Hồng có ý thức bứt thoát khỏi lối viết ấy. Thực tại trong truyện phần lớn được nhìn từ "điểm nhìn bên trong” của các loài thủy sinh. Những nỗi sợ hãi, trực giác, linh cảm, kinh nghiệm sinh tồn, những thay đổi của môi trường nước… đều được cảm nhận từ chính quần thể ấy. Cuốn sách đã thử đặt con người vào vị thế phải “thủy sinh hóa” cái nhìn. Con người không còn là chủ thể tối cao đứng ngoài tự nhiên để quan sát, mà chỉ là một sinh thể trong mạng lưới cộng thông mênh mông của sự sống.

Nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng chia sẻ: Toàn bộ hành trình của Chép Hồng thực chất là hành trình học lấy bản thể lưu động của hiện tồn. Nước là môi trường sống, đồng nghĩa với chuyển di, thích nghi, tự định vị và tái cấu trúc chính mình không ngừng.

Ngay từ đầu, Chép Hồng đã được đặt vào một giao diện không hề… cổ tích hóa. Hồ Cá Chép tuy rộng lớn, nhưng vẫn là nơi của quần ngư tranh thực. Tác giả không chỉ bày ra cho nhân vật chính đại lộ thẳng tắp rải đầy hoa lá, chỉ thuần là vương quốc mộng mơ, mà còn đặt nó vào những tình huống thử thách đúng theo tinh thần lửa thử vàng, gian nan thử sức. Đây là điểm làm nên cảm thức đương đại của tác phẩm.

Cuốn sách không ru ngủ trẻ em bằng một thế giới tuyệt đối an toàn và thiện lương. Trái lại, thủy sinh ở đây vận hành bằng một cơ chế khá gần với tinh thần Darwin mềm: muốn tồn tại phải biết tự điều tiết, muốn trưởng thành phải học cách đọc tín hiệu môi trường, phải biết dịch chuyển, liên minh và thay đổi.

Những bài học đắt giá mà Chép Hồng dần ngộ ra sau nhiều chuyến du hí đã chạm tới một triết lý tồn sinh của thời đại. Có điều, tác phẩm không biến triết lý kiểu ấy thành những giáo điều khô cứng.

diep3.jpg
Tác giả Phạm Hồng Điệp (bên trái) tại lễ ra mắt sách ở Hà Nội cùng nhà văn Hoàng Dự.

Tri thức trong "Cuộc phiêu du của Chép Hồng" phần lớn được tựu thành từ trải nghiệm. Mỗi vùng nước Chép Hồng đi qua đều tương ứng với một bài học cuộc sống khác nhau. Hồ Cá Chéo là không gian của cạnh tranh sinh tồn nguyên sơ; mương nổi dạy cá cách thích ứng với biến động dòng chảy; vùng nước lợ mở ra kinh nghiệm sống giữa giao thoa mặn-ngọt; còn rừng ngập mặn lại là trường học về trú ẩn tập thể. Chính trong cấu trúc phiêu du ấy, Chép Hồng không “được dạy” theo kiểu áp đặt, mà tự học qua va đập với đời sống.

Ở đây, chủ thể người lớn vẫn hiện diện như một ý thức tổ chức ngầm phía sau cuộc phiêu lưu của Chép Hồng. Nhiều đoạn còn khá đậm giọng đúc kết; nhiều bài học được phát biểu hơi tròn trịa và đôi lúc các nhân vật trưởng thượng như bác Cá Trê, bác Cá Măng vẫn gợi dáng dấp những “mentor” xã hội học hơn là các sinh thể tự nhiên.

Nhưng, có lẽ đây không hẳn là điểm trừ của tác phẩm. Bởi Cuộc phiêu du của Chép Hồng, như đã nói, không muốn là văn học thiếu nhi thuần túy. Nó còn muốn trở thành một dạng “đồng thoại triết luận”, nơi mà câu chuyện phiêu du được dùng để tải chở những suy tư, chất vấn, đối thoại về cộng đồng, sinh thái và tương lai phát triển.

Các nhân vật như bác Cá Trê, bác Cá Măng không chỉ đóng vai người hướng đạo, mà còn là những kho lưu trữ ký ức sông nước, nơi kinh nghiệm sinh tồn được trao truyền liên thế hệ. Nhờ vậy, thủy giới trong tác phẩm không tồn tại như một sân khấu ngộ nghĩnh cho trẻ em, mà vận hành như một cộng đồng có nền tảng, có lịch sử, có trí nhớ và có những quy luật tồn tại riêng.

Toàn bộ thủy giới trong tác phẩm thực chất là một mô hình xã hội thu nhỏ: có cạnh tranh, có liên minh, có di cư, có truyền thừa kinh nghiệm, có cuộc chiến sinh tử trước hiểm họa. Con người hiện đại đang trở thành đối tượng gây chấn thương dữ dội đối với quần thể tự nhiên trù phú và hài hòa.

Phía dưới những cuộc phiêu du của Chép Hồng là một cảm thức bất an sinh thái âm thầm, nhưng khá rõ nét. Không gian nước trong tác phẩm vừa bao dung vừa đầy hiểm họa; mọi nơi trú ngụ đều có thể trở nên bất ổn trước biến dạng của địa cầu và sự ảo tưởng về sức mạnh chinh phục và cải tạo của con người.

Nhưng nếu chỉ dừng ở luận đề sinh tồn, cuốn sách dễ trở nên khô lạnh. Điều giữ cho “Cuộc phiêu du của Chép Hồng” vẫn mang vẻ mềm mại của đồng thoại là tinh thần cộng sinh xuyên suốt tác phẩm. Chép Hồng trưởng thành không phải bằng sức mạnh cá nhân đơn độc, mà bằng ý thức về cộng hưởng, hợp quần (như tổ chim với “những cọng rơm khô kết chặt vào nhau, thoạt nhìn tưởng mỏng manh mà lại bền chặt”), về tương trợ, nhất là nâng đỡ những cá thể yếu thế, để đi xa là đi cùng nhau, không ai bị bỏ lại phía sau.

Ở một tầng nghĩa rộng hơn, đây cũng là triết lý “thuận thiên” rất Á Đông: cái tôi không tự mình cách biệt với cái ta; không cưỡng đoạt, mà hòa điệu với môi trường chung quanh.

Có thể nói, điều thú vị là khi những nghiên cứu đương đại như “thủy nhân văn học” bắt đầu nhìn nước như một cấu trúc kiến tạo bản sắc và tư duy, thì văn minh lúa nước Việt Nam từ rất sớm đã sống bằng mô thức ấy.

Tác phẩm thấp thoáng dáng dấp của một “thủy sử thi” về văn minh lúa nước Việt Nam. Toàn bộ không gian tác phẩm - hồ Cá Chéo, đầm lúa, mương nổi, vùng nước lợ, rừng ngập mặn - đều gợi nhắc rất mạnh tới cấu trúc của nền văn minh phù sa, văn minh sông nước.

Chép Hồng không chỉ bơi trong nước ("từ đồng ruộng hiền hòa ra sông lớn rồi ra biển rộng”); nó đang bơi trong ký ức văn hóa Việt - thứ văn hóa mà nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu quy đồng là "văn hóa nước”: linh hoạt, mềm dẻo, ứng biến.

Theo nghĩa đó, “Cuộc phiêu du của Chép Hồng” là một cuộc phiêu du thủy sinh, đồng thời là một ẩn dụ khá điển hình cho kiểu trí tuệ tồn sinh của người Việt: không đối đầu trực diện với mọi biến động, mà học cách chảy qua chúng như nước. Thích nghi trong tác phẩm không mang sắc thái thỏa hiệp, mà là một năng lực văn hóa đã được chiều dài lịch sử sông nước hun đúc.

Cuốn sách, do vậy, không còn là cuộc phiêu du của riêng một cá thể, mà trở thành diễn trình của cả một cộng đồng sinh thể thích ứng và dung nạp, sẵn sàng chung sống, đối thoại với "thế giới khác biệt”.

diep4.jpg
Tác giả Phạm Hồng Điệp tại một buổi lễ trao tặng sách cho các em thiếu nhi ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng.

Nếu “vượt vũ môn” là biểu tượng cổ điển của khát vọng hóa rồng, của huyền thoại thăng hóa cá nhân, thì “giấc mơ vượt đê” trong “Cuộc phiêu du của Chép Hồng” lại mang một ẩn dụ với tinh thần vươn lên, cập thời, không dừng ở vượt qua một giới hạn địa lý mà là cú "vươn mình” thời đại của một nền văn minh lúa nước: vượt khỏi những vòng đai trú ẩn an toàn… để sẵn sàng đối diện với biển rộng sóng to, để biết mình biết người, để tìm gặp những khả thể chân trời mới.

Đây là hình ảnh giàu tính biểu tượng. Nó khiến Chép Hồng không còn là một chú cá hồn nhiên tung tăng trong đồng thoại, mà phảng phất bóng dáng của một quốc gia đang học cách bước ra bên ngoài trong kỷ nguyên mới, không quên chuyên chở ký ức của văn minh sông nước và đạo lý cộng cư. Vì thế, “vượt đê” thực chất là kết quả tất yếu của một bề dày tích lũy kinh nghiệm tồn sinh và khát vọng mở đường đã được âm thầm chuẩn bị, để nội lực trở thành động lực khai mở.

Sự sống mong manh, sự sống vô tận. Chép Hồng của Phạm Hồng Điệp không vì ham thanh chuộng lạ mà bỏ lỡ cơ hội từ những gì gần gũi quen thuộc của thì hiện tại. Sau những cuộc phong du hồ hải, Chép Hồng đã hiểu: "Hóa ra lòng hồ mình đang sống còn bao điều thú vị mà chưa khám phá hết”. Câu nói giản dị nhưng mang chở tín niệm: đi không đối lập ở; mở rộng không phủ định đào sâu; vượt thoát không đồng nghĩa đoạn tuyệt căn cước; gặp đại dương không việc gì phải mặc cảm nhỏ bé.

Phía sau Chép Hồng thấp thoáng một kiểu hình tượng tác giả khá đặc biệt: không phải kiểu người viết lãng mạn hóa tự nhiên, mà là một chủ thể mang tư duy kiến tạo và quản trị. Vì thế, ngay cả khi viết đồng thoại, Phạm Hồng Điệp vẫn nhìn đời sống như một không gian cộng tồn vận động: ở đó mọi sinh thể đều phải học cách cân bằng giữa cạnh tranh và hợp tác, giữa phát triển và bảo tồn, giữa khát vọng đi xa và nhu cầu giữ cội nguồn. Có cảm giác Phạm Hồng Điệp không viết về nước như một đối tượng miêu tả, mà viết bằng chính tư duy của nước: mềm mại nhưng bền bỉ, phân tán nhưng liền lạc. Vì vậy đồng thoại ở đây vừa mềm vừa có tư duy cấu trúc. Cuộc phiêu du của Chép Hồng phản chiếu cơ chế vận động của kinh tế, xã hội, thị trường và cả đời sống hậu công nghiệp hôm nay.

diep2.jpg
Tập sách đồng thoại "Cuộc phiêu du của Chép Hồng".

Có lẽ điều đáng giá nhất thuộc về cuộc phiêu du của Chép Hồng không nằm ở giấc mơ hóa rồng, mà ở việc học minh triết của nước: biết biến dịch mà không đánh mất bản thể; biết đổi dòng mà vẫn liền lòng. Có lẽ giá trị ý nghĩa và cũng là thông điệp từ “Cuộc phiêu du của Chép Hồng” là ở đó: không dạy trẻ em cách chiến thắng mà dạy con người học lại cách sống cùng thế giới.

Có thể bạn quan tâm

Các văn nghệ sĩ tham gia chuyến đi thực tế tại Sư đoàn 302 (Quân khu 7).

Sư đoàn 302 khơi mạch nguồn sáng tác về người lính

Trong hành trình thâm nhập thực tế tại Sư đoàn 302 (Quân khu 7), câu chuyện về một đơn vị anh hùng từng đi qua chiến tranh, làm nghĩa vụ quốc tế và hôm nay vẫn bền bỉ nơi tuyến đầu nhiệm vụ đã mang đến nhiều xúc động cho các văn nghệ sĩ tham gia Trại sáng tác văn học đề tài "Chiến tranh cách mạng và người lính hôm nay".

Vở Pygmalion của Trường đại học Sân khấu-Điện ảnh Hà Nội giành giải Vở diễn xuất sắc tại Liên hoan các trường đào tạo Sân khấu châu Á lần thứ VIII-2026. (Ảnh: BTC)

Sân khấu Việt ghi dấu ấn tại ATEC 2026

Tham dự Liên hoan các trường đào tạo Sân khấu châu Á lần thứ VIII-2026 (ATEC) diễn ra từ ngày 17 đến 22/5 tại Bắc Kinh (Trung Quốc), vở diễn Pygmalion của khoa Sân khấu, Trường đại học Sân khấu-Điện ảnh Hà Nội đã giành giải Vở diễn xuất sắc, để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn bè quốc tế.

Các nghệ sĩ biểu diễn tại chương trình.

Đêm hòa nhạc “Tri Ân" giàu chất thơ và cảm xúc

Tối 22/5, tại Nhà hát Hồ Gươm, Hà Nội, hòa nhạc thính phòng "Tri ân" (In Gratitude) đã mang đến cho công chúng một không gian nghệ thuật giàu cảm xúc, nơi những thanh âm cổ điển sâu lắng kể nên câu chuyện về lòng biết ơn, sự sẻ chia và vẻ đẹp tinh tế của âm nhạc.

Các nghệ sĩ Hà Nội trình diễn các tiết mục đặc sắc mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam.

Lan tỏa dấu ấn văn hóa Thăng Long-Hà Nội giữa lòng nước Nga

Trong khuôn khổ “Ngày Văn hóa Hà Nội tại Moskva năm 2026”, ngày 21/5, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phối hợp chính quyền Thủ đô Moskva tổ chức khai mạc Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Hà Nội-Thanh âm ngàn năm” và Triển lãm “Quốc Tử Giám-Trường Quốc học đầu tiên của Việt Nam”.

Điện ảnh là lĩnh vực trọng điểm của ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Xây dựng không gian mới cho công nghiệp văn hóa

Tại dự thảo Nghị định Quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, mô hình "cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; tổ hợp sáng tạo văn hóa" được định hướng có vai trò dẫn dắt phát triển công nghiệp văn hóa

Ông Nguyễn Huy Dũng - tân Thứ trưởng Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

Bổ nhiệm ông Nguyễn Huy Dũng giữ chức Thứ trưởng Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 919/QĐ-TTg ngày 21/5/2026 về việc điều động, bổ nhiệm ông Nguyễn Huy Dũng, Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ chức Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Ảnh minh họa: Phố Sách Hà Nội.

Khởi động chương trình hỗ trợ xây dựng Tủ sách cộng đồng 2026

Nhằm hỗ trợ các cá nhân, tổ chức, đơn vị xây dựng Tủ sách cộng đồng, Omega+ và Alpha Books cùng các đơn vị đồng hành Einstein Books, Gamma, Medinsights đã tổ chức Chương trình hỗ trợ xây dựng Tủ sách cộng đồng để bạn đọc có cơ hội tiếp cận nguồn sách chuẩn và đa dạng.

Tiến sĩ, Nghệ sĩ Nhân dân Đỗ Quốc Hưng, Giám đốc Học viện Âm nhạc Quốc gia nhận danh hiệu kỷ lục Việt Nam. (Ảnh: Học viện cung cấp)

Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam đón nhận Kỷ lục số người trình diễn đàn tỳ bà nhiều nhất

Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam đã được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (VietKings) trao chứng nhận kỷ lục Chương trình nghệ thuật quy tụ số lượng người cùng biểu diễn đàn Tỳ bà nhiều nhất tại Việt Nam - 133 người, chào mừng kỷ niệm 70 năm thành lập Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam (1956-2026).

Một góc phố cổ Hội An nhìn từ trên cao.

Cần cơ chế đặc thù cho đô thị cổ Hội An

Giá trị Di sản văn hóa thế giới Đô thị cổ Hội An không gói gọn trong các dãy nhà ở phố cổ mà còn được mở rộng ra các vùng phụ cận như làng rau Trà Quế, làng gốm Thanh Hà, làng mộc Kim Bồng hay Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm…