Tuy nhiên, do điều kiện thời tiết, môi trường luôn trong tình trạng bất lợi làm tôm chết hàng loạt khiến người nuôi bị thiệt hại nặng nề. Vì vậy, việc ứng dụng khoa học-công nghệ cao trong quá trình nuôi tôm đã giúp nông dân vượt qua khó khăn, tiếp tục phát triển nghề theo hướng bền vững.
Để tháo gỡ khó khăn cho người dân, ngành nông nghiệp địa phương khuyến cáo bà con áp dụng những mô hình nuôi tôm hiệu quả bằng cách ứng dụng khoa học-công nghệ cao theo hướng siêu thâm canh. Thực tế cho thấy, nuôi tôm theo mô hình này đạt hiệu quả cao hơn nhiều so với phương pháp truyền thống.
Cụ thể, lượng con giống thả nuôi được nhiều hơn, tôm ít gặp dịch bệnh, nuôi được nhiều vụ trong năm, người nuôi kiểm soát được diễn biến trong quá trình nuôi, tôm khi xuất bán đạt trọng lượng như mong muốn và cho sản lượng, chất lượng cao cho nên đầu ra luôn ổn định, giá bán hợp lý, lợi nhuận cũng cao hơn.
Hiện nay, thành phố Cần Thơ có hơn 51.000 ha nuôi tôm nước lợ, chủ yếu là tôm thẻ chân trắng và tôm sú. Trong đó, diện tích nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao theo hướng siêu thâm canh có 5.681 ha, đang có xu hướng tăng dần hằng năm vì người nuôi nhận thấy đây là mô hình rất hiệu quả.
Tại các vùng ven biển đã xuất hiện khá nhiều trang trại, mô hình nuôi tôm lót bạt 2 và 3 giai đoạn, được xem là mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao tương đối bền vững, hiệu quả, thích ứng tình trạng biến đổi khí hậu hiện nay. Một số trang trại và người dân nuôi tôm đạt sản lượng rất cao như ở khu vực Trần Đề đạt 21 tấn tôm/ha/vụ, Vĩnh Châu đạt 10,2 tấn/ha/vụ, Cù Lao Dung 3 tấn/ao 500 m²/vụ và Mỹ Xuyên từ 2-2,5 tấn/ao 500 m²/vụ...
Ông Tăng Văn Xúa ở phường Khánh Hòa có 14 ao nuôi tôm công nghệ cao, mỗi ao có diện tích 500 m². Theo ông Xúa, để vụ tôm nuôi hạn chế rủi ro dịch bệnh thì phải cải tạo ao thật kỹ bằng cách phơi ao, rải vôi bột quanh ao, “nuôi nước trước nuôi tôm”; nhất là ứng dụng công nghệ cao trong nuôi tôm bằng ao lót bạt, xây dựng ao lắng, ao lọc, ao chứa chất thải,... và cho tôm ăn bằng thiết bị tự động, áp dụng nuôi tôm 2 hoặc 3 giai đoạn.
Ông Xúa cho biết: “Mỗi năm gia đình tôi nuôi 2 vụ tôm. Năm 2025, vụ đầu tôi thả nuôi tôm thẻ chân trắng với mật độ từ 150-200 con/m², sản lượng thu hoạch được 45 tấn, trừ tất cả chi phí còn lãi gần 1,3 tỷ đồng. Ở vụ tôm thứ 2 có nhiều nỗi lo về thời tiết, bởi vụ này trời mưa bão liên tục, tôm rất dễ nhiễm bệnh phân trắng và chậm lớn, nhưng nhờ ứng dụng kỹ thuật nuôi theo công nghệ cao cho nên tôm phát triển tốt, trừ hết các khoản đầu tư, chi phí sản xuất trong 2 vụ vừa qua thì tôi thu lãi hơn 2 tỷ đồng”.
Nhờ ứng dụng hiệu quả khoa học-công nghệ cao và thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật trong quá trình nuôi mà vụ tôm nước lợ năm 2025 của nông dân được đánh giá là khá thành công. Cụ thể, tổng diện tích thả nuôi tôm nước lợ là hơn 51.000 ha, trong đó có hơn 5.000 ha tôm nuôi theo mô hình công nghệ cao siêu thâm canh, chủ yếu là tôm thẻ chân trắng với sản lượng 205.200 tấn, tôm sú 24.500 tấn.
Ông Ngô Thái Chân, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ cho biết: Hiện nay, diện tích nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao, siêu thâm canh của thành phố vẫn còn khiêm tốn, chỉ có hơn 5.000 ha, chiếm khoảng 10% so với tổng diện tích nuôi tôm nước lợ, cho nên chưa hình thành được vùng nuôi tập trung. Lý do là ở thời điểm hiện nay, người nuôi tôm công nghệ cao phải đầu tư khoảng từ 500-600 triệu đồng/ha, mức đầu tư này chủ yếu chỉ các doanh nghiệp hoặc hộ gia đình có điều kiện kinh tế mới có thể phát triển vùng nuôi lớn hoặc trang trại. Do đó, nhiều địa phương có quy hoạch mở rộng diện tích nuôi tôm công nghệ cao nhưng đang gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn đầu tư.
Thực hiện Đề án Phát triển nuôi tôm nước lợ giai đoạn 2025-2030, hướng đến hiệu quả và bền vững, thành phố Cần Thơ chỉ đạo ngành chức năng đầu tư nâng cấp hệ thống thủy lợi cho vùng nuôi tôm tập trung, ưu tiên các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống kênh cấp, thoát nước đối với các vùng nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao, đồng thời hướng dẫn người dân đầu tư hoàn chỉnh hệ thống ao nuôi.
Ngoài ra, Ban Quản lý đề án còn tiến hành củng cố các mô hình điểm nuôi tôm phù hợp với từng tiểu vùng sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm 100% các cơ sở/hộ nuôi đáp ứng đủ điều kiện về nuôi trồng thủy sản và được cấp mã số ao nuôi, đối tượng nuôi chủ lực.
Thành phố cũng đang đầu tư phát triển ngành tôm, tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác, liên kết các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ để tạo vùng sản xuất nguyên liệu tập trung quy mô lớn, làm đầu mối liên kết với các doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào, đầu ra.
Mặt khác, địa phương tổ chức đào tạo nguồn lao động có kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững, đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nông dân vay vốn đầu tư nuôi tôm công nghệ cao.