Hằng năm, sau khi thu hoạch tôm, ông Võ Minh Đức ở xã Hòa Tú (huyện Mỹ Xuyên cũ), thành phố Cần Thơ, chuyển 3 ha đất nuôi tôm sang trồng lúa. Thông qua hỗ trợ của Dự án nâng cao chất lượng cây trồng, vật nuôi của địa phương, toàn bộ diện tích đất nuôi tôm của ông trồng giống lúa thơm ST25.
Ông Đức phấn khởi cho biết: “Quá trình nuôi tôm thì mặt đáy ao hình thành lớp dưỡng chất rất tốt cho lúa, lại không có mầm sâu bệnh và không cần sử dụng thêm phân bón, thuốc trong vụ sản xuất lúa. Ngược lại, nuôi tôm sau vụ lúa thì nền đáy ao đã được tạo thêm khoáng cho nên các chất độc hại được giảm bớt, cắt mầm bệnh trong ruộng nuôi. Nhờ vậy, ruộng tôm sạch hơn, quá trình nuôi không cần phải sử dụng thuốc, hóa chất, chi phí sản xuất thấp, lợi nhuận tăng"”.
Ông Đặng Thanh Phùng ở ấp Hòa Nhờ B, xã Hòa Tú, sau nhiều năm nuôi tôm thất bại đã quyết định sử dụng toàn bộ diện tích để sản xuất theo mô hình tôm-lúa. Theo ông Phùng, do không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, con tôm nuôi theo mô hình này hoàn toàn sạch bệnh. Ngoài ra, chi phí trồng lúa trên đất nuôi tôm chỉ bằng từ 60-70% so với vùng chuyên lúa, lợi nhuận cũng cao hơn. Vụ sản xuất lúa trên đất nuôi tôm năm nay của gia đình ông đạt 6 tấn/ha, thu nhập hơn 70 triệu đồng/ha, sau khi trừ các khoản chi phí, lãi gần 40 triệu đồng/ha.
Được biết, hiện nay xã Gia Hòa (huyện Mỹ Xuyên cũ) đã và đang tập trung đẩy mạnh mô hình trồng lúa trên nền đất nuôi tôm trong vụ mùa 2025-2026, với mục tiêu hoàn thành 1.170 ha. Mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần cải tạo môi trường đất, thích ứng với điều kiện sinh thái đặc thù của địa phương.
Qua thực tiễn sản xuất, nhiều nông dân tỏ ra phấn khởi bởi điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, môi trường sinh thái ở đây phù hợp với mô hình sản xuất tôm-lúa. Theo tính toán của người dân, với mô hình sản xuất này, năng suất tôm nuôi bình quân đạt khoảng từ 380 đến 500 kg/ha, mức thu nhập từ nuôi tôm khoảng từ 40 đến 50 triệu đồng/ha/năm, nếu tính cả lúa là từ 80 tới 90 triệu đồng/ha/năm.
Những năm gần đây, phong trào nuôi tôm phát triển ồ ạt ở các vùng ven biển Sóc Trăng (cũ), nhiều diện tích chuyên canh lúa được nông dân dẫn nước mặn vào ruộng nuôi tôm phá vỡ quy hoạch sản xuất lúa. Có thể nói, con tôm đem lại lợi nhuận khá cao cho người nông dân, nhưng qua vài vụ nuôi họ đúc kết kinh nghiệm lại mới thấy rõ sự bấp bênh của mô hình chuyên tôm.
Trong điều kiện thủy lợi chưa đồng bộ, trình độ thâm canh của nông dân còn hạn chế, nuôi tôm chuyên canh thường xảy ra dịch bệnh, thì mô hình sản xuất tôm-lúa là phù hợp với xu hướng chung và được đánh giá là có triển vọng tốt nhất. Ngoài việc tận dụng được nguồn nước ngọt trong mùa mưa để trồng lúa, nước mặn nuôi tôm và tạo ra giá trị hàng hóa cao hơn trên cùng đơn vị diện tích, còn góp phần cải tạo môi trường, cân bằng sinh thái trong ruộng nuôi, hạn chế được sự lây lan mầm bệnh trong quá trình sản xuất. Sau khi thu hoạch lúa, gốc rạ còn lại trong ruộng nuôi là nguồn dinh dưỡng tốt, tạo thức ăn tự nhiên cho tôm; ngược lại, thức ăn thừa và vỏ tôm lột chính là nguồn phân hữu cơ quý giá giúp cây lúa sinh trưởng tốt.
Theo đánh giá của ngành nông nghiệp địa phương thì việc phát triển mô hình sản xuất tôm-lúa của nông dân thời gian qua còn nhiều bất cập, chưa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho chuyển dịch cơ cấu sản xuất về thủy lợi, con giống, kỹ thuật và đồng vốn. Trong khi nhiều nông dân chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không tuân theo quy hoạch, mở rộng diện tích tôm-lúa một cách tràn lan, dẫn đến thiệt hại về kinh tế.
Mặt khác, mô hình sản xuất này còn lệ thuộc nhiều vào thời tiết, thủy văn, nhất là chưa có nhiều giống lúa thích hợp cho cơ cấu mùa vụ; cơ giới hóa trong sản xuất lúa trên nền nuôi tôm còn hạn chế, làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng, người nuôi tôm gặp nhiều rủi ro do dịch bệnh, môi trường, giá cả thị trường bấp bênh.
Để mô hình sản xuất tôm-lúa phát triển bền vững và hiệu quả, các nhà quản lý và ngành nông nghiệp địa phương cần sớm vào cuộc giúp nông dân tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc. Trước hết, quy hoạch xác định vùng có khả năng phát triển tôm-lúa, trên cơ sở đó xây dựng vùng chuyên canh tập trung, đồng thời đánh giá tác động môi trường và yếu tố phát triển bền vững. Gắn với quy hoạch, huy động các nguồn vốn để tiếp tục nâng cấp, xây dựng hệ thống các công trình thủy lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất tôm-lúa.
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, chọn tạo, phục tráng nhiều loại giống lúa có khả năng chịu mặn cao để thích ứng với môi trường. Nghiên cứu một số loại rau, màu thích hợp để nông dân trồng trên các bờ ao tôm nhằm giúp nông dân tăng thu nhập, sản xuất đa canh trên cùng một đơn vị diện tích. Bố trí thời vụ canh tác hợp lý cho từng vùng, tiểu vùng; cơ cấu giống phù hợp về thời gian sinh trưởng, chú ý đến chất lượng và phẩm chất giống lúa.
Đáng mừng là mới đây, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ đã ban hành Kế hoạch số 165/KH-UBND về phát triển sản xuất vùng nuôi tôm-lúa giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn. Mục tiêu đến năm 2030, các xã Ngọc Tố, Hòa Tú, Nhu Gia, Gia Hòa, Vĩnh Viễn và Lương Tâm… vẫn là vùng chuyển dịch trọng điểm áp dụng mô hình tôm-lúa của thành phố. Theo đó, ngoài việc phát triển vùng nuôi tôm-lúa tập trung, đẩy mạnh hoạt động khuyến nông, xây dựng và nhân rộng mô hình tôm-lúa, triển khai cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút đầu tư lĩnh vực thủy sản và tổ chức sản xuất gắn với liên kết tiêu thụ, thành phố Cần Thơ còn định hướng sản xuất tôm-lúa theo hướng nông sản sạch, an toàn, đạt chất lượng xuất khẩu.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có hơn 1,4 triệu héc-ta đất ngập nước do tác động của xâm nhập mặn, con số này sẽ tăng lên do quá trình biến đổi khí hậu. Theo dự báo, khi nước biển xâm nhập mặn thì nhiều diện tích chuyên trồng lúa 2 vụ/năm sẽ không thể sản xuất được, lúc đó, mô hình canh tác một vụ tôm, một vụ lúa là thích hợp nhất. Người nông dân không chỉ nuôi tôm, sản xuất lúa mà còn tận dụng đất các bờ bao trồng rau, màu cho thu nhập khá.