Nhà khoa học phát triển dự án trồng nấm dưới tán keo tạo sinh kế cho đồng bào Bahnar

Dự án thương mại hóa nấm linh chi đỏ dưới tán rừng tại vùng đệm Vườn quốc gia Kon Ka Kinh do nhóm nhà khoa học Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội triển khai đang mở ra hướng đi mới cho đồng bào Bahnar, mang lại sinh kế cho bà con nơi đây.

Bà con xã Ayun thu hoạch nấm linh chi tại khu vực Vườn quốc gia Kon Ka Kinh.
Bà con xã Ayun thu hoạch nấm linh chi tại khu vực Vườn quốc gia Kon Ka Kinh.

Đồng bào Bahnar khu vực xã Ayun, Gia Lai vốn sinh sống phụ thuộc vào nông nghiệp tự cung và khai thác lâm sản, trong đó có dược liệu quý là nấm linh chi. Tuy nhiên những năm gần đây, việc khai thác quá mức đã khiến cho nguồn nấm suy giảm, thu nhập của người dân bấp bênh.

Khi tìm hiểu rõ tình trạng này, Tiến sĩ Hà Thị Thu Huế, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, (nguyên Trưởng phòng Nghiên cứu Đất ngập nước và Biển đảo, Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã phát triển một dự án trồng xen kẽ nấm linh chi tai đỏ dưới các tán keo của khu vực rừng đệm Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, vừa giúp giảm áp lực khai thác rừng vừa tạo công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho người dân bản địa. Tiến sĩ Hà Thị Thu Huế đã mất nhiều thời gian đi khảo sát địa hình, làm việc với chính quyền địa phương và Ban Quản lý Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, đề xuất mô hình trồng nấm linh chi dưới tán rừng keo.

Ông Lê Văn Vinh, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Kon Ka Kinh (Gia Lai) chia sẻ: “Sau khi nghe Tiến sĩ Huế trình bày, chúng tôi thấy rằng đây là một dự án phù hợp với nhu cầu và tình hình địa phương, là giải pháp tạo sinh kế bền vững, tăng thu nhập cho bà con, lại thực hiện tốt chủ trương của quốc gia về phát triển kinh tế dưới tán rừng”.

Nấm linh chi đỏ được trồng dưới tán rừng keo có ưu điểm lớn nhất là tận dụng được diện tích đất rừng hiện có của người dân, không phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất hay phá rừng, giảm chi phí đầu tư nhờ tán che, đất và độ ẩm sẵn có. Mô hình này tạo môi trường vi sinh và độ ẩm ổn định, hạn chế tác động tiêu cực của nắng gắt và gió mùa khô, bảo vệ đất và đa dạng sinh học vì không cần dọn trắng hay phá thảm thực vật. Việc trồng nấm linh chi dưới tán keo cũng phù hợp với tập quán canh tác của đồng bào Bahnar, theo đó bà con chỉ cần khoảng một giờ mỗi ngày để chăm sóc, dễ kết hợp với các hoạt động sản xuất khác. Ngoài ra, việc sử dụng loài cây phổ biến ở địa phương cũng giúp mô hình có tính khả thi và khả năng nhân rộng cao.

hue1.jpg
Tiến sĩ Hà Thị Thu Huế, chủ nhiệm dự án trồng nấm linh chi dưới tán keo rừng tạo sinh kế cho bà con khu vực Vườn quốc gia Kon Ka Kinh.

Chủ nhiệm dự án, Tiến sĩ Hà Thị Thu Huế thông tin về vụ thu hoạch đầu tiên của dự án. Tỷ lệ mọc của nấm đạt 90-95% trên diện tích 550m² với 12.000 bịch phôi. Với 3 đợt thu hoạch mỗi năm, mức giá tiêu thụ 250.000 đồng/kg nấm tươi, bà con trồng nấm được hưởng lợi nhuận sau khi trừ chi phí ước đạt 201 triệu đồng/năm, khoảng 18-22 triệu đồng/tháng. Con số này vượt mục tiêu tăng thu nhập 5% so kế hoạch ban đầu mà dự án đặt ra. Sản phẩm nấm thu hoạch đạt tiêu chuẩn hình thức, được một số doanh nghiệp dược liệu cam kết thu mua. Hiện có trên 20 hộ dân đã tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp trồng nấm, trong đó 7 hộ nòng cốt, hình thành tổ hợp tác chủ động vận hành, chăm sóc và thu hoạch.

Mô hình trồng nấm linh chi được đánh giá có tính thích nghi cao, chi phí đầu tư hợp lý, kỹ thuật không quá phức tạp, thời gian chăm sóc ít, dễ kết hợp với sản xuất khác. Mô hình tạo tác động kép về kinh tế và môi trường: vừa mang lại thu nhập, vừa giảm áp lực khai thác nấm tự nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học.

Ông Lê Văn Vinh, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, Gia Lai cho biết: “Dự án đã giảm áp lực khai thác nấm từ rừng tự nhiên, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn, đưa mô hình vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội địa phương, tăng cường hợp tác giữa cộng đồng và Vườn quốc gia và giữ nguyên hệ sinh thái dưới tán rừng. Bước đầu người dân đã được các chuyên gia của dự án chuyển giao kỹ thuật trồng nấm linh chi đỏ dưới tán keo khá thành công. Băn khoăn nhất hiện nay của bà con là làm sao tìm được đầu ra cho sản phẩm. Chúng tôi cũng đã đề xuất một số giải pháp về xây dựng, quảng bá, nghiên cứu liên hệ với các đơn vị chức năng để có được chứng nhận sản phẩm OCOP, giúp thuận lợi hơn cho bà con trong việc tìm thị trường phân phối sản phẩm, tăng thu nhập cải thiện đời sống".

Kế hoạch tiếp theo của dự án sẽ gồm: Hoàn thiện sản phẩm, nâng cao chất lượng; đầu tư thiết bị công nghệ để sơ chế, sấy, đóng gói đạt chuẩn; đa dạng hóa sản phẩm như nấm sấy khô, bột, trà linh chi, kết hợp dược liệu bản địa. Thương hiệu sẽ gắn với hình ảnh Vườn quốc gia Kon Ka Kinh và văn hóa Bahnar. Ở thị trường trong nước sẽ hướng đến doanh nghiệp dược liệu, cửa hàng đặc sản và điểm du lịch sinh thái, còn thị trường quốc tế sẽ nhắm đến Nhật Bản, EU, với việc chuẩn bị tiêu chuẩn và chứng nhận phù hợp.

Thương hiệu “Nấm linh chi Kon Ka Kinh” hứa hẹn sẽ trở thành sản phẩm đặc trưng của Gia Lai, góp phần bảo tồn những cánh rừng Tây Nguyên cho tương lai. Đây là một thí dụ sinh động về việc gắn kết hài hòa giữa khoa học với phát triển sinh kế phục vụ con người, góp phần làm thay đổi tư duy cộng đồng từ khai thác sang bảo tồn tài nguyên tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học.

Có thể bạn quan tâm

Chân dung hai nhà khoa học Henri Kagan và Kenso Soai. (Ảnh minh họa: Nobelprize.org)

Nobel Hóa học 2026 vinh danh nghiên cứu về hiệu ứng phi tuyến tính và tự xúc tác trong tổng hợp hữu cơ bất đối xứng

Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã công bố giải Nobel Hóa học năm 2026 thuộc về nhà khoa học Henri Kagan (Đại học Paris-Sud, Pháp) và nhà khoa học Kenso Soai (Đại học Khoa học Tokyo, Nhật Bản) với công trình nghiên cứu về các hiệu ứng phi tuyến tính và tự xúc tác trong tổng hợp hữu cơ bất đối xứng.

Xã vùng cao Avương. (Ảnh: THANH TÂM)

Đà Nẵng: Đột phá chuyển đổi số ở xã vùng cao Avương

Nhiều nhiệm vụ chuyển đổi số đã được Ban Thường vụ Đảng ủy và Ban Chỉ đạo 57 xã Avương (thành phố Đà Nẵng) triển khai đồng bộ, mang lại những chuyển biến rõ nét, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và chất lượng phục vụ nhân dân.

VNPT SmartCA đưa thao tác ký lên điện thoại và máy tính, giúp người có thẩm quyền xử lý công việc ở bất cứ đâu. (Ảnh: VNPT)

Gỡ “điểm nghẽn chờ ký” với VNPT SmartCA

Chữ ký số đã quen thuộc với doanh nghiệp, nhưng khi công việc không còn bó hẹp trong văn phòng, USB Token hay máy tính cố định lại trở thành giới hạn. Ký số từ xa đang thay đổi cách doanh nghiệp xử lý giao dịch điện tử, với VNPT SmartCA đưa thao tác ký lên môi trường số, giúp người có thẩm quyền xử lý công việc ở bất cứ đâu.

Gian hàng giới thiệu về chip bán dẫn tại một sự kiện do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức. (Ảnh: Thu Hằng)

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong thiết kế chip bán dẫn

Công nghiệp bán dẫn Việt Nam đang mở rộng từ nghiên cứu, thiết kế sang đóng gói, kiểm thử và từng bước hình thành năng lực chế tạo chip trong nước. Do đó, bảo hộ thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn trở thành yêu cầu quan trọng nhằm bảo vệ thành quả sáng tạo, tạo nền tảng cho thương mại hóa và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Đoàn công tác hai bên làm việc, trao đổi về thúc đẩy chuyển đổi số. (Ảnh: Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam)

Thúc đẩy hợp tác về chuyển đổi số Việt Nam và Pháp

Trong các ngày từ 5 đến 9/10, Cục Chuyển đổi số (Văn phòng Chính phủ) thực hiện chương trình làm việc với đoàn chuyên gia Cộng hòa Pháp về nội dung hợp tác, trao đổi trọng tâm về ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong khu vực công, quản trị dữ liệu công, phát triển kinh tế dữ liệu và hoàn thiện khung pháp lý số.

Quang cảnh hội thảo. (Ảnh: CÔNG LÝ)

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực cho Đắk Lắk bứt phá vươn lên trong giai đoạn mới

Hội thảo nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị gắn phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của tỉnh giai đoạn 2026-2030.

Nền tảng kết nối đổi mới sáng tạo ISC kết nối mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ, startup, quỹ đầu tư và các đối tác trong nước, quốc tế. (Ảnh QUANG HUY)

Mở rộng không gian kết nối công nghệ và doanh nghiệp

Ngày 5/10, tại Hà Nội, trong khuôn khổ Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2026 đã diễn ra Hội thảo “Đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo (AI) và Tự động hóa trong kỷ nguyên số”. Chương trình do Trung tâm Hỗ trợ Đổi mới sáng tạo, Cục Đổi mới Sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức.

Hoạt động nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Trường đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: DIỆP NGỌC)

Nền tảng cho mô hình tăng trưởng mới

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam chỉ rõ, về kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao.