Người Hmông xanh nơi Cửa Gió

Theo quốc lộ 279 uốn lượn như dải lụa mềm, chúng tôi lên đến độ cao hơn 1.000m so mực nước biển, thì bất ngờ hiện ra trước mắt một khoảng trời mênh mang, gió hun hút, gầm gào, chính là “cửa gió” trên đỉnh đèo Khau Co hùng vĩ.
Bản làng người Hmông xanh ở xã Nậm Xé (Văn Bàn, Lào Cai) hôm nay.
Bản làng người Hmông xanh ở xã Nậm Xé (Văn Bàn, Lào Cai) hôm nay.

“Ruồi vàng, bọ chó, gió Than Uyên”, câu ca truyền khẩu ấy nói về sự khắc nghiệt, gian khó của vùng đất được mệnh danh “cửa gió” trên đỉnh đèo Khau Co, “cánh cửa” phía tây nam tỉnh Lào Cai thông với tỉnh bạn Lai Châu “trái tim đập không một ai nhìn thấy”. Ở đó, tộc người Hmông xanh duy nhất ở vùng Tây Bắc vẫn ngày đêm bám đất, bám rừng, giữ bình yên và màu xanh đại ngàn Hoàng Liên hoang sơ, tươi đẹp.

Cây ngàn lá trên núi cao Nậm Xé

“Dân tộc tôi có hai ngàn người/ Như cái cây có hai ngàn chiếc lá”, tôi mượn hình ảnh này của nhà thơ Pờ Sảo Mìn, dân tộc Pa Dí ở nơi “rừng cao núi nhọn” xứ Mưng Khảng (đất thép) để nói về tộc người Hmông xanh, ít nhất ở Lào Cai, chỉ có 125 hộ, với gần 1.000 người, neo mình bên vách đá Nậm Xé, trên đỉnh đèo Khau Co bốn mùa bão dông, nắng lửa để sinh tồn. Chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm rất lớn, mùa hè nắng lửa và mùa đông rét buốt thịt thấu xương, đến nỗi người thì khô quắt, cây cỏ cằn cỗi trên những ngọn núi lô nhô, trùng điệp, trên độ cao gần 1.000m so với mực nước biển.

Từ trụ sở Ủy ban nhân dân xã Nậm Xé, Bí thư Đảng ủy Vàng A Tớ chọn và cầm lái chiếc xe máy mới và khỏe nhất, len lách qua con đường đất đang mở rộng để đưa tôi vào Tu Thượng, được coi là “thủ phủ” của người Hmông xanh duy nhất ở Lào Cai, đã bao đời cắm rễ, đứng chân ở mảnh đất này. Xa xôi và hiểm trở, từ thời Pháp thuộc, thực dân Pháp từng đóng đồn binh với hàng trăm lính cùng hỏa lực mạnh ngay trên đỉnh đèo Khau Co, khống chế cả một vùng rộng lớn, cắt rời con đường thông thương duy nhất của bộ đội ta ở vùng Tây Bắc, nối thông Lào Cai với Lai Châu, Điện Biên. Nhưng người Hmông xanh đã đồng lòng theo Đảng tham gia kháng chiến, vận tải đạn dược, lương thực cùng bộ đội ta hạ đồn Khau Co, Dương Quỳ giải phóng quê hương.

Trong căn nhà mới, thấp tầng và ít cửa sổ để chống chọi với “ruồi vàng, bọ chó” và thứ gió khô nóng ở xứ này, bên ấm trà rừng ngai ngái nhưng ngọt hậu, già làng Giàng A Khoa kể lại câu chuyện người Hmông xanh “lừa” lính Pháp càn vào làng cướp bóc, rồi “tam sao thất bản” thành câu chuyện hoang đường, ám ảnh về tộc người Hmông xanh ở nơi “cùng trời cuối đất” Lào Cai.

Chuyện rằng, thời giặc Pháp chiếm đóng ở đây, dân bản săn được thú rừng thì đều phải nộp cho quan cai trị. Hôm đó, có người săn được con gấu, không mang nộp như mọi khi. Nghe tin, lính trên đồn Khau Co tìm đến khi chủ nhà đang nấu thịt trên bếp. Sợ rằng bị lộ sẽ mất mạng, chủ nhà giải thích rằng có đứa cháu đang ốm, không có thức ăn nên phải nấu thịt người cho cháu ăn. Tên lính không tin, khuấy nồi thịt lên thì nhìn thấy bàn tay của gấu, tưởng tay người nên ba chân bốn cẳng chạy mất.

Hóa ra, câu chuyện đồn khẩu về người Hmông xanh ăn thịt người là thế. Câu chuyện lan truyền trong dân gian, khiến nhiều người lầm tưởng, “thêu dệt” thành “sợi dây” vô hình, trói buộc tộc người Hmông xanh với bao định kiến.

Người Hmông xanh sống quần tụ ở Tu Thượng, ngay dưới chân ngọn núi Mồ Côi sừng sững, bốn mùa chìm trong mây mù và gió núi gào rít, có ngôn ngữ riêng và mang nét văn hóa đặc trưng, khác biệt. Nếu cây khèn là biểu tượng văn hóa của người Hmông đen, Hmông trắng thì với người Hmông xanh, vật bất ly thân lại là cây sáo làm từ trúc hoặc vầu rừng.

Trong đám hỏi, ông mối cầm cây sáo rừng được đẽo gọt công phu, tiếng cất lên thật trong, dẫn đầu đoàn ba người họ nhà trai đến “gõ cửa, treo ô” nhà gái. Tiếng sáo cất lên, nhà gái mở cửa đón vào, chuyện trò và nhất định phải ăn mỗi người một bát cơm đầy ở nhà gái, như tỏ thịnh tình mến khách. Nếu cô gái đồng ý thì bà mẹ mời nhà trai ở lại, buổi chiều tham gia làm việc ruộng vườn cùng gia chủ. Nếu cô gái không bằng lòng hợp hôn thì bà mẹ sẽ rót đầy ba bát rượu và lạy tạ ba lần.

Trang phục của nam nữ người Hmông xanh cũng khác biệt. Bộ nữ phục Hmông xanh nổi bật nhất là chiếc tạp dề được dụng công trang trí bởi các màu sắc sặc sỡ, mô-típ hoa văn chủ yếu là hình lá cây, rích rắc kết hợp giữa váy, áo và thắt lưng, tạo thành mảng hoa văn hài hòa, cân đối làm tôn thêm vẻ đẹp dịu dàng của người thiếu nữ khi khoác lên mình bộ trang phục truyền thống. Khăn đội đầu được cuốn thành một vòng tròn lớn trên đầu cả nam và nữ, màu sắc tương tự như những đường kẻ ô vuông ở thắt lưng, khiến họ nổi bật trên khung cảnh núi rừng Nậm Xé xanh ngút ngàn.

Hôm chúng tôi đến, đúng vào Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, xã tổ chức giao lưu đá bóng nữ giữa các thôn, ngay trên bãi đất bằng đang san gạt để xây dựng thành sân vận động thời gian tới, tiếng hò reo vang động cả một góc rừng. Những tà áo váy phụ nữ Hmông xanh tung lên trong nắng, như những bông hoa rực rỡ sắc màu nơi Cửa Gió.

Vượt bão dông, nắng lửa xây dựng cuộc sống mới

Ban đầu, dòng họ Vàng của tộc người Hmông xanh từ phương xa tìm đến quần tụ ở thôn Tu Thượng trên chóp núi Nậm Xé, ngay dưới chân ngọn núi Cô Đơn, chỉ có hai hộ, rồi thêm hai họ Thàng và Lý tìm đến lập bản, với năm hộ người Hmông xanh cả thẩy, cứ thế sinh sôi đông dần lên thành 55 hộ trên độ cao hơn 1.000m so với mực nước biển, mây mù bao phủ.

Sau rồi người Hmông xanh hạ sơn xuống Tu Hạ, phát triển thêm 70 hộ nữa, tổng cộng có 125 hộ, với hơn 700 người cắm chân, đứng vững bao đời ở đỉnh đèo Khau Co hùng vĩ và khắc nghiệt này. Bí thư Đảng ủy xã Nậm Xé Vàng A Tớ cũng chính là một người con của tộc Hmông xanh ở Tu Thượng cho biết, nhờ có Đảng dẫn đường chỉ lối, họ đã có độc lập tự do; nhờ có Nhà nước mở đường, kéo điện, xây trường học, làm thủy lợi đầu mối đã “cởi trói”, mở hướng thoát nghèo, xóa đi tiếng dữ bao năm đeo đẳng cho đồng bào Hmông xanh ở nơi Cửa Gió gian lao mà hùng vĩ, thân thương.

Giữa trưa mùa thu mà gió lồng lộng thổi như muốn bứt mọi vật rời khỏi gốc rễ, thời tiết mát nên dễ chịu, chứ vào mùa hè thì “chảy máu cam” vì thứ gió khô và nóng quạt rát mặt. Căn nhà mới xây của cựu binh Lý A Váng ở phía cuối bản Tu Thượng, đầu bản Tu Hạ thấp và ít cửa như cái ụ nổi bê-tông để chống chọi với khí hậu khắc nghiệt nơi đây. Để làm được căn nhà xây mái bằng đầu tiên trên vách núi cheo leo Nậm Xé là cả một kỳ công.

Vợ chồng Lý A Váng bán trâu gom tiền mua vật liệu thuê xe chở từ huyện lỵ hơn 30km theo quốc lộ 279 về tập kết bên kia suối. Không có đường cho xe vào thôn, vợ chồng Váng cùng bà con trong thôn giúp sức gùi từng lù gạch, cát, xi-măng ròng rã mấy tháng trời đủ để cất ngôi nhà xây đầu tiên dưới chân núi Cô Đơn. Hôm khánh thành nhà mới, cả thôn vui như hội. Thế là người Hmông xanh ở Tu Hạ đã làm được nhà kiên cố bằng chính sức lao động của mình, trên núi cao gió gào, mây phủ.

Trò chuyện với Lý A Váng thêm khâm phục cái chí vượt khó, đầu óc ham học hỏi, đi đầu mở đường của người lính Cụ Hồ đang dẫn lối cho cộng đồng thoát nghèo, vươn lên cuộc sống tốt đẹp hơn. Chính anh là người đã tiên phong tìm nguồn nước trên núi cao, mở ruộng bậc thang cấy lúa nước, giúp đồng bào mình thay đổi cách nghĩ cách làm, xóa bỏ du canh du cư, phá rừng làm nương, giữ màu xanh Khu bảo tồn Hoàng Liên-Văn Bàn, giữ nguồn nước cho hàng chục nhà máy thủy điện phía hạ lưu.

Với “khối tài sản” 20 con trâu, 8 con ngựa, hàng trăm con gà đen bản địa và gần 10 tấn thóc/năm, cựu chiến binh Lý A Váng có điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ anh em trong họ mạc và bà con trong thôn phát triển sản xuất, thoát nghèo bền vững. Hôm chúng tôi đến, cựu binh Lý A Váng nai nịt gọn gàng, quấn xà cạp ngang bắp chân, chuẩn bị leo đồi trồng trẩu, mỡ trên những quả đồi trọc. Anh khoe chỉ riêng vụ vừa rồi, với hơn 1ha trẩu, chỉ nhặt quả tách lấy nhân được hơn 5 tạ, bán giá 100 nghìn/kg cho thương lái, bỏ túi 50 triệu đồng.

Ngang qua nhà bà Lý Thị Sai, ở thôn Tu Thượng, thấy rất đông phụ nữ Hmông xanh vây quanh khung dệt gỗ bao đời truyền lại đã lên nước bóng nhẵn màu gỗ quyện mồ hôi bao thế hệ, “nghệ nhân” già Lý Thị Sai đang truyền nghề cho lớp trẻ, cách xe lanh, dệt vải chàm, in sáp ong, đường kim mũi chỉ may váy áo, khăn đội đầu riêng biệt của người Hmông xanh nơi Cửa Gió. Hơn 30 năm nay, bà Sai gắn bó với trồng lanh, xe sợi, nhuộm vải, bàn tay lúc nào cũng xanh thẫm màu chàm.

Không chỉ nhận làm trang phục Hmông xanh cho đám cưới, bà Sai còn trưng bày, giới thiệu và bán cho khách du lịch nước ngoài đến khám phá và trải nghiệm vùng đất Tu Thượng hoang sơ, giàu bản sắc văn hóa bản địa. “Mình làm nghề vất vả đấy, mất nhiều công lắm, mỗi năm chỉ làm được hai đến ba bộ váy áo người Hmông xanh thôi, nhưng để giữ cái hồn cốt của tổ tiên không bị mất đi và cho mọi người biết thêm về người Hmông xanh trên núi cao Nậm Xé” - nghệ nhân già chia sẻ.

Bí thư Đảng ủy xã Nậm Xé cho biết thêm, toàn Đảng bộ có hơn 130 đảng viên, trong đó phần đông đảng viên là người Hmông xanh, tuổi đời trẻ, có văn hóa phổ thông và khát khao cống hiến. Đó là những hạt nhân xung kích đi đầu, tiên phong mở đường, thay đổi cách làm, xóa bỏ hủ tục lạc hậu để đưa quê hương Nậm Xé phát triển, hội nhập với cộng đồng xã hội.

Lúc quay trở ra, chúng tôi đi trên con đường mới đang mở theo tiêu chuẩn cấp A miền núi, rộng 6m, đổ bê-tông cứng nền đường, dài 3,1km, Nhà nước đầu tư hơn 11 tỷ đồng, nối từ trung tâm xã qua Tu Hạ, đến “rốn rét” Tu Thượng, bảo đảm cho xe ô-tô vận chuyển hàng hóa dễ dàng, người dân đi lại thuận lợi bốn mùa. Tốp công nhân thi công miệt mài làm việc trong gió thu lồng lộng nơi “cổng trời” Khau Co hùng vĩ. Con đường sẽ như cánh cửa mở ra để người Hmông xanh nơi đây hội nhập và đón bè bạn muôn phương đến với mảnh đất này.

Có thể bạn quan tâm

Bánh Kà Tum mang đậm dấu ấn văn hóa của người Khmer. (Ảnh: Hoàng Lê)

Bánh Kà Tum mang đậm dấu ấn văn hóa của người Khmer

Ở vùng Bảy Núi (An Giang), đồng bào Khmer luôn có ý thức gìn giữ bản sắc dân tộc gửi gắm trong nghệ thuật ẩm thực tinh tế, trong đó có bánh Kà Tum. Trong tiếng Khmer, "Kà Tum" nghĩa là "quả lựu" hoặc "gói kín chung quanh", tượng trưng cho sự đủ đầy, thịnh vượng và sum vầy gia đình.

Chị Trương Thị Bạch Thuỷ, Giám đốc Hợp tác xã Mây tre đan Thủy Tuyết đang hoàn thiện sản phẩm từ tre trúc.

Khát vọng gìn giữ nghề đan tre trúc của người phụ nữ Khmer ở Cần Thơ

Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cây tre, biểu tượng mộc mạc của làng quê, từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống của đồng bào Khmer. Từ chất liệu bình dị ấy, những sản phẩm đan đát độc đáo được hình thành qua bàn tay khéo léo của phụ nữ địa phương, vừa phục vụ nhu cầu sinh hoạt, vừa chứa đựng dấu ấn văn hóa truyền thống.

Thầy cúng thực hiện nghi lễ cầu mùa, cầu an – trung tâm của lễ hội Khô Già Già.

Khô Già Già – Di sản văn hóa ở vùng cao Bát Xát

Lễ hội Khô Già Già là hoạt động văn hóa tâm linh quan trọng nhất trong năm của đồng bào Hà Nhì đen tại xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai (trước sáp nhập là xã Y Tý, huyện Bát Xát). Đây là dịp để cộng đồng thể hiện lòng biết ơn đối với trời đất, thần linh và tổ tiên; cầu mong mùa màng tốt tươi, bản làng yên ấm.

Chủ homestay Bản Liền Vàng Thị Thông: “Gia đình Haha là kỷ niệm đẹp nhất đời của chúng tôi”

Chủ homestay Bản Liền Vàng Thị Thông: “Gia đình Haha là kỷ niệm đẹp nhất đời của chúng tôi”

Những ngày qua, Bản Liền (Bắc Hà, Lào Cai) là địa danh được biết đến và tìm kiếm nhiều nhất trên mạng xã hội nhờ hiệu ứng của Chương trình Gia đình Haha. Chương trình đã để lại những ấn tượng và cảm xúc đặc biệt không chỉ cho những người tham gia, mà còn cả cho khán giả, và mở ra một chặng đường mới cho bà con người Tày ở đây.

Một góc thung lũng Lâm Thượng bên dòng Khuổi Nọi.

Mùa xanh ở thung lũng Lâm Thượng

Dưới nếp nhà sàn mộc mạc bên dòng suối mát, từ những cánh đồng tốt tươi chuyển mình theo mùa cho đến bữa cơm ấm áp trong điệu then ngọt ngào, văn hóa Tày ở thung lũng Lâm Thượng (Lào Cai) đang được giữ gìn và lan tỏa bởi chính những người con quê hương.

Lễ Tủ Cải của cộng đồng người Dao đầu bằng, tỉnh Lai Châu. (Ảnh: VŨ LINH)

Lễ Tủ Cải của người Dao đầu bằng ở Tam Đường: Dấu mốc trưởng thành và bản sắc văn hóa

Trong đời sống cộng đồng người Dao đầu bằng tại Tam Đường, tỉnh Lai Châu, lễ Tủ Cải là nghi lễ đánh dấu bước trưởng thành của người con trai. Người Dao nơi đây quan niệm rằng, để được cộng đồng công nhận và sau này khi mất đi có thể trở về với tổ tiên, mỗi người con trai nhất định phải trải qua nghi lễ này.

Nghi thức trao lễ vật nhà trai cho nhà gái trong lễ cưới người Giáy.

Lễ cưới người Giáy - Duyên dáng một bản sắc

Lễ cưới của người Giáy không chỉ là khúc hát se duyên đôi lứa, mà còn là nơi chảy mãi mạch nguồn văn hóa của một tộc người giữa đại ngàn Tây Bắc. Qua từng nghi thức, lễ vật và câu hát giao duyên, hiện lên một bản sắc riêng đầy quyến rũ, góp phần làm nên vẻ đẹp bức tranh văn hóa Việt Nam.

Cây nêu bên mái nhà Gươi, biểu tượng văn hóa của người Cơ Tu. (Ảnh: Thế Dương)

Độc đáo nghệ thuật trang trí cây nêu của đồng bào Cơ Tu

Cây nêu một biểu tượng văn hóa thiêng liêng, giữ vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của đồng bào Cơ Tu, tỉnh Quảng Nam. Không chỉ là nhịp cầu kết nối giữa con người với thế giới thần linh, cây nêu còn là tác phẩm mỹ thuật dân gian, kết tinh vẻ đẹp, trí tuệ sáng tạo và bản sắc văn hóa của người Cơ Tu.

Phụ nữ Dao quần trắng ở xã Phúc An, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. (Ảnh: VŨ LINH)

Bản sắc người Dao quần trắng nơi lòng hồ Thác Bà

Xã Phúc An, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái là nơi cư trú lâu đời của cộng đồng người Dao quần trắng. Trong nhịp sống hiện đại, người Dao quần trắng vẫn gìn giữ những giá trị gắn bó với bản sắc tộc người. Nổi bật là trang phục truyền thống và nghề đan rọ tôm, phản ánh lối sống gắn với thiên nhiên vùng ven hồ Thác Bà.

Cô dâu người Si La trang điểm chuẩn bị về nhà chồng. (Ảnh: Thế Dương)

Một mái nhà - Hai mùa cưới: Duyên tình đậm đà bản sắc của người Si La

Khác biệt với nhiều dân tộc khác, lễ cưới của người Si La là một hành trình hai mùa - hai lần cưới, đầy ý nghĩa, đánh dấu một mối lương duyên bền chặt, gắn bó và giàu bản sắc. Mỗi nghi lễ không chỉ thể hiện tình yêu đôi lứa, còn phản ánh chiều sâu văn hóa và đạo lý cộng đồng của một tộc người giữa đại ngàn Tây Bắc hùng vĩ.

Những mái nhà phủ rêu ở thôn Khuổi Mỹ, xã Phương Độ, thành phố Hà Giang. (Ảnh: VŨ LINH)

Khuổi My trong sương: Miền cổ tích trên sườn Tây Côn Lĩnh

Chỉ cách trung tâm thành phố Hà Giang hơn chục cây số, thôn Khuổi My, xã Phương Độ như một miền cổ tích còn sót lại giữa núi rừng. Ở độ cao gần 1000m so với mực nước biển, Khuổi My quanh năm sương mù bao bọc, phủ một lớp mỏng manh lên mái nhà, bờ rào, con dốc... Cả thôn như đang trôi giữa những tầng mây.
Ngôi nhà cổ Há Súng ngày càng xuống cấp theo thời gian. (Ảnh: VŨ LINH)

Há Súng - Bóng thời gian trên cao nguyên đá

Nằm vững chãi trên một gò đất cao giữa thôn Há Súng, xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn (Hà Giang), ngôi nhà cổ trăm tuổi vẫn lặng lẽ giữ gìn những dấu ấn của một thời dù lớp bụi thời gian đã nhuộm phai từng mảng tường, từng đường nét chạm khắc.
Ảnh minh họa: Bộ tranh “Thần Nông và Địa Trạch” của dân tộc Cao Lan-Sán Chỉ do nghệ nhân Hàng Trống thể hiện. (Nguồn: Báo ảnh Dân tộc và Miền núi)

Không gian cho tranh thờ của đồng bào vùng cao

Tranh thờ trong tâm thức của đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao miền núi phía bắc được coi là sợi dây kết nối giữa con người với thần linh. Tuy nhiên, trước những biến thiên của cuộc sống hiện đại, di sản này đang dần mai một khỏi các bản làng trong sự nuối tiếc của nhiều cộng đồng.
Đông đảo người dân và du khách tham gia hoạt động trải nghiệm "Giữ màu di sản".

Trải nghiệm nét văn hóa vẽ sáp ong trên vải của người Mông tại Thủ đô

Hưởng ứng Ngày Quốc tế Bảo tàng 2025 với chủ đề “Tương lai của bảo tàng trong các cộng đồng thay đổi nhanh chóng”, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam tổ chức sự kiện hoạt động trải nghiệm "Giữ màu di sản". Sự kiện giới thiệu về kỹ thuật tạo hoa văn sáp ong và nhuộm vải gắn liền với đôi bàn tay tài khéo của người phụ nữ Mông.

Lễ Tẩu Sai tại xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. (Ảnh: VŨ LINH)

Lễ Tẩu Sai - Dấu ấn trưởng thành và gắn kết cộng đồng người Dao Tiền ở Cao Bằng

Giữa đại ngàn Đông Bắc, khi tiếng trống, tiếng khèn vang lên từ bản làng xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, cộng đồng người Dao Tiền cùng nhau quây quần trong sự kiện văn hóa-tâm linh thiêng liêng: Lễ Tẩu Sai. Đây không chỉ là nghi lễ của riêng một dòng họ mà là minh chứng sống động cho sức mạnh cố kết cộng đồng và giá trị bền vững của văn hóa truyền thống trong lối sống hiện đại. 
Người H’Mông thu hoạch nông sản bản địa.

Đồng bào H’Mông giữ gốc để vươn xa

Trên những ngọn núi cao quanh năm mây phủ, đồng bào H’Mông vẫn luôn kiên trì kiến tạo đời sống văn hóa mới bằng cách “gạn đục khơi trong”, giữ gìn tinh hoa truyền thống, xây dựng nếp sống văn minh, hướng đến phát triển kinh tế-xã hội bền vững. Với ý chí và sự quyết tâm, đồng bào H’Mông đang đi một hành trình dài, giữ lấy cái gốc để vươn xa.
Nét đẹp trang phục truyền thống của người Dao Tiền, tỉnh Cao Bằng.

Bảo tồn trang phục truyền thống qua sản phẩm du lịch

Không được sử dụng thường xuyên, trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số dần biến đổi, thậm chí biến mất khỏi cộng đồng. Nhằm đưa trang phục truyền thống của các dân tộc trở nên phổ biến hơn, nhiều địa phương đã xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù trên cơ sở lựa chọn, khai thác những giá trị văn hóa đặc trưng.

Vùng thiên nhiên phong phú đa dạng nên nghệ thuật trang trí cây nêu của người Co cũng phong phú hơn.

Thế giới sắc màu trong nghệ thuật trang trí cây nêu người Co miền núi Trà Bồng

Cũng như các dân tộc thiểu số ở vùng Trường Sơn-Tây Nguyên, người Co rất chú ý đến nghệ thuật tạo hình nhằm tạo ra cho nơi cư trú của mình một không gian thẩm mỹ đặc sắc riêng. Khả năng tạo hình và nghệ thuật tạo hình có những nét rất riêng và khá nổi trội so với nhiều dân tộc thiểu số khác trong khu vực.
Người dân tham gia thi giã bánh dày - một hoạt động truyền thống trong ngày hội Kiêng gió.

Tục Kiêng gió - Nét văn hóa tâm linh đặc sắc của đồng bào Dao Thanh Phán ở Quảng Ninh

Mỗi dịp 4/4 (Âm lịch) hằng năm, bản làng người Dao Thanh Phán ở xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh lại rộn ràng trong sắc màu của lễ hội Kiêng gió, một nghi lễ dân gian đậm đà bản sắc văn hóa, thể hiện niềm tin sâu sắc của đồng bào Dao vào sự giao hòa giữa con người với thiên nhiên. Không chỉ là ngày hội văn hóa tâm linh, lễ hội Kiêng gió còn là điểm hẹn của cộng đồng, nơi người dân các dân tộc cùng nhau gặp gỡ, vui chơi và lan tỏa tinh thần đoàn kết.
Nghệ nhân Nay Phai đang thử độ ngân khi chỉnh chiêng. (Ảnh: NX)

Gìn giữ di sản cồng chiêng từ đôi tay nghệ nhân

Giữa không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên - Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, có những con người đặc biệt được giao trọng trách gìn giữ những thanh âm của đại ngàn. Nghệ nhân Nay Phai, người con của mảnh đất Gia Lai, với tài năng và tâm huyết, không chỉ lưu truyền âm thanh đặc trưng của cồng chiêng, mà còn thổi vào từng tiếng ngân vang, làm sống lại sức sống mãnh liệt của di sản vô giá này.

Nghệ nhân Lò Văn Biến đang thổi khèn bè – một trong những loại nhạc cụ truyền thống quan trọng trong đời sống văn hóa của đồng bào Thái.

Nghệ nhân Lò Văn Biến - Di sản Xòe Thái trường tồn

Nghệ nhân Lò Văn Biến, người được ví như "pho sử sống" của văn hóa dân tộc Thái, đã dành cả cuộc đời để gìn giữ và phát huy di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc Thái, đặc biệt là điệu Xòe. Ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu và sưu tầm những điệu Xòe cổ, giúp chúng được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2015.
Giữa cảnh sắc núi rừng hùng vĩ, bóng đá nữ trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của đồng bào nơi đây.

Bóng đá nữ vùng cao: Từ phong trào đến sản phẩm du lịch văn hóa

Cứ đến dịp 16/3 âm lịch hằng năm, xã Húc Động, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh lại rộn ràng bước vào mùa lễ hội Soóng Cọ, một lễ hội truyền thống của dân tộc Sán Chỉ. Trong không khí rộn ràng ấy, một trong những hoạt động được chờ đợi nhất chính là giải bóng đá nữ truyền thống, nơi những cô gái vùng cao ra sân thi đấu trong trang phục váy áo dân tộc, một hình ảnh độc đáo, thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách những năm gần đây.