Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong tình hình mới

Ngày 30/1, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Bộ Chính trị ký, ban hành Nghị quyết (số 36-NQ/TW) về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn bản nghị quyết quan trọng này.
Ảnh minh họa: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tiền Phong (Thừa Thiên-Huế) nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào tạo cây giống tốt phục vụ trồng rừng. (Nguồn: TTXVN)
Ảnh minh họa: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tiền Phong (Thừa Thiên-Huế) nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào tạo cây giống tốt phục vụ trồng rừng. (Nguồn: TTXVN)

I- TÌNH HÌNH

Thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX và Kết luận số 06-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, những năm qua, các cấp, các ngành đã nhận thức ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công nghệ sinh học.

Công nghệ sinh học nước ta có bước phát triển nhanh, đạt được nhiều thành tựu quan trọng; ứng dụng ngày càng rộng rãi trong đời sống xã hội, tạo đột phá trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp chế biến, y dược, môi trường. Công nghiệp sinh học từng bước được hình thành; nhiều doanh nghiệp đã đầu tư nghiên cứu, sản xuất, thương mại hóa sản phẩm công nghệ sinh học trên một số lĩnh vực với quy mô lớn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu về công nghệ sinh học tăng cả về số lượng và chất lượng.

Tuy nhiên, công nghệ sinh học phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; năng lực công nghệ sinh học chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong bối cảnh khoa học-công nghệ phát triển mạnh mẽ; một số lĩnh vực quan trọng của công nghệ sinh học lạc hậu so với khu vực và thế giới; công nghiệp sinh học chưa trở thành một ngành kinh tế-kỹ thuật quan trọng; đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực công nghệ sinh học còn nhiều hạn chế, bất cập.

Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém trên chủ yếu là do nhận thức của không ít cấp ủy, chính quyền về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công nghệ sinh học chưa đầy đủ; cơ chế, chính sách chưa phù hợp, thiếu hấp dẫn để thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; đầu tư cho phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội; mối liên kết giữa các nhà khoa học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp trong phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học chưa hiệu quả, còn lỏng lẻo.

II- QUAN ĐIỂM

1. Phát triển công nghệ sinh học là xu thế của thế giới; là động lực quan trọng để thực hiện quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân.

2. Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phải khai thác và phát huy tốt nhất tiềm năng, lợi thế của đất nước, của từng vùng và địa phương; lợi thế của quốc gia đi sau. Tập trung đầu tư phát triển một số lĩnh vực trọng điểm, cơ bản, nhất là tận dụng ưu thế về đa dạng sinh học nước ta.

3. Phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế-kỹ thuật quan trọng là giải pháp ưu tiên trong phát triển kinh tế-xã hội; lấy doanh nghiệp là chủ thể, có cơ chế, chính sách vượt trội tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân đầu tư phát triển công nghiệp sinh học.

III- MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

Tập trung phát triển, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh về công nghệ sinh học, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á. Xây dựng ngành công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế-kỹ thuật quan trọng, đóng góp tích cực vào GDP cả nước.

2. Mục tiêu cụ thể

Đến năm 2030

- Nền công nghệ sinh học nước ta đạt trình độ tiên tiến thế giới trên một số lĩnh vực quan trọng, là một trong 10 quốc gia hàng đầu châu Á về sản xuất và dịch vụ thông minh công nghệ sinh học; được ứng dụng rộng rãi trong các ngành, lĩnh vực, góp phần phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững.

- Xây dựng nền công nghệ sinh học có nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ sở vật chất, tài chính đủ mạnh đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.

- Công nghiệp sinh học trở thành ngành kinh tế-kỹ thuật quan trọng; doanh nghiệp công nghiệp sinh học tăng 50% về quy mô đầu tư và quy mô tăng trưởng, thay thế ít nhất 50% sản phẩm công nghệ sinh học nhập khẩu; đóng góp 7% vào GDP; bảo đảm nhu cầu thiết yếu của xã hội.

Tầm nhìn đến năm 2045

Việt Nam là quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh; khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo về công nghệ sinh học thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á. Công nghiệp sinh học đóng góp 10-15% vào GDP.

IV- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP

1. Thống nhất nhận thức về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong tình hình mới

- Các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nghiên cứu, quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức trong cả hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp về tầm quan trọng của phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống Nhân dân.

- Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học là một nội dung, nhiệm vụ được xác định trong chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương, ngành, lĩnh vực.

- Hệ thống báo chí chú trọng giới thiệu thành tựu công nghệ sinh học; chủ động tuyên truyền các tập thể, cá nhân điển hình trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Kịp thời khen thưởng, tôn vinh các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động hiệu quả.

2. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học

- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; thu hút các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nghiên cứu, ứng dụng, sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học; bảo đảm an toàn sinh học.

- Có chính sách vượt trội, phù hợp để phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, sản xuất các sản phẩm công nghệ sinh học có giá trị cao trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, y dược, quốc phòng, an ninh; khuyến khích đầu tư, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học đối với vùng kinh tế-xã hội còn nhiều khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo; khuyến khích xuất khẩu sản phẩm công nghệ sinh học; đào tạo, phát hiện, sử dụng nguồn nhân lực công nghệ sinh học.

- Xây dựng cơ chế bảo đảm mối liên kết, gắn bó giữa các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sinh học; xây dựng, triển khai các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.

- Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm công nghệ sinh học.

3. Tập trung phát triển, ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học trong sản xuất và đời sống; phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế-kỹ thuật quan trọng phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Chú trọng nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi thích nghi với biến đổi khí hậu, chống chịu sâu bệnh, có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao; các vắc-xin và chế phẩm sinh học phòng bệnh cho vật nuôi, cây trồng, nhất là các loại dịch bệnh nguy hiểm, mới phát sinh, góp phần xây dựng nền nông nghiệp thông minh, an toàn, hiệu quả, bảo tồn và phát triển các nguồn gen quý, hiếm.

- Phát triển, ứng dụng, hiện đại hóa công nghệ sinh học trong công nghiệp chế biến các sản phẩm an toàn, hiệu quả, có giá trị cao từ nguồn nguyên liệu trong nước.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực y tế. Tập trung nghiên cứu, sản xuất thuốc, vắc-xin đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh và phòng, chống dịch bệnh; nghiên cứu công nghệ tế bào gốc trong công nghiệp dược phẩm, công nghệ gen, sản xuất nguyên liệu và các loại thuốc sinh học, thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thảo dược.

- Chú trọng phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường; giảm thiểu suy thoái, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên góp phần xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; sản xuất nhiên liệu, vật liệu sinh học thân thiện môi trường, phát huy tiềm năng kinh tế biển.

- Tập trung xây dựng ngành công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế-kỹ thuật quan trọng phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sớm quy hoạch phát triển công nghiệp sinh học, khai thác tối đa lợi thế vùng nhằm sản xuất các sản phẩm chủ lực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội; liên kết các doanh nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm công nghệ sinh học.

- Hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ sinh học nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ mới, sở hữu trí tuệ; nghiên cứu sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học quy mô công nghiệp; xây dựng thương hiệu, thương mại hóa sản phẩm; khai thác, sử dụng hiệu quả các phát minh, sáng chế công nghệ sinh học có giá trị cao của thế giới, ứng dụng hiệu quả trong công nghiệp sinh học.

- Chủ động ứng phó tình huống khủng bố bằng tác nhân sinh học, chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học; xử lý chất độc hóa học; bảo đảm an ninh sinh học trong nghiên cứu, sản xuất, làm chủ công nghệ sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học đặc thù phục vụ quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

4. Xây dựng nguồn nhân lực công nghệ sinh học, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học

- Nghiên cứu xây dựng mô hình đào tạo nhân lực công nghệ sinh học từ giáo dục phổ thông đến đại học và trên đại học. Tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp công nghệ sinh học, đơn vị sử dụng lao động với các cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ sinh học. Gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và nhu cầu thực tiễn, bảo đảm số lượng và chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu.

- Chú trọng xây dựng đội ngũ nhà khoa học đầu ngành, hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu có uy tín đạt trình độ quốc tế trong lĩnh vực công nghệ sinh học; tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, xuất khẩu nhân lực công nghệ sinh học có trình độ cao.

- Tập trung đầu tư nguồn lực nhằm nâng cao năng lực phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, trong đó ngân sách nhà nước chủ yếu đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm công nghệ sinh học mà Việt Nam có lợi thế.

- Tiếp tục đầu tư hoàn thiện, sớm đưa các trung tâm công nghệ sinh học quốc gia ở ba miền Bắc, Trung, Nam vào hoạt động; hiện đại hoá hệ thống phòng thí nghiệm công nghệ sinh học, các trung tâm đánh giá, kiểm định; xây dựng một số trung tâm kiểm soát dịch bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu giám sát và phòng, chống dịch bệnh.

- Hỗ trợ, phát triển các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học-công nghệ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học. Hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao năng lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ, thiết bị nhằm sản xuất sản phẩm công nghệ đạt trình độ quốc tế; nâng cao năng lực của các cơ sở nghiên cứu công nghệ sinh học lĩnh vực quốc phòng, an ninh.

5. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công nghệ sinh học

Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ sinh học, tuân thủ các điều ước quốc tế có liên quan đến công nghệ sinh học mà Việt Nam tham gia. Có chính sách mua, chuyển giao, trao đổi công nghệ sinh học, trong đó quan tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ mới, công nghệ có giá trị cao của thế giới vào Việt Nam; hợp tác nghiên cứu mô hình phát triển kinh tế sinh học, quản lý tài nguyên, quản lý kinh tế, xã hội bền vững với các quốc gia có trình độ công nghệ sinh học phát triển.

V- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tổ chức phổ biến, quán triệt, tuyên truyền nội dung Nghị quyết tới cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân; xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết.

2. Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, sửa đổi, hoàn thiện pháp luật; tăng cường giám sát hoạt động phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.

3. Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết; chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện chính sách liên quan đến phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; ưu tiên bố trí nguồn lực tài chính để thực hiện Nghị quyết; rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản dưới luật có liên quan đến phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.

4. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội xây dựng chương trình, kế hoạch hướng dẫn, vận động Nhân dân thực hiện Nghị quyết, phát huy vai trò phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.

5. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức, hướng dẫn việc quán triệt thực hiện Nghị quyết; định kỳ sơ kết, tổng kết việc thực hiện, báo cáo Bộ Chính trị.

Có thể bạn quan tâm

Chiêu trò "mổ trai, lấy ngọc" đã khiến rất nhiều người bị rơi vào "cạm bẫy" lừa đảo với số tiền lớn.

Cảnh báo chiêu trò lừa đảo mua trai ngọc, bán lãi tiền tỷ

Thời gian gần đây, trên Facebook liên tục xuất hiện các tài khoản livestream mời chào mua trai ngọc với cam kết mua lại giá cao. Dù là chiêu trò mới, hình thức này đã giăng bẫy hàng nghìn nạn nhân, khiến số tiền bị chiếm đoạt lên tới hàng chục tỷ đồng.

Đại học Bách khoa Hà Nội: Tiên phong đào tạo nguồn nhân lực chiến lược và sáng tạo công nghệ

Đại học Bách khoa Hà Nội: Tiên phong đào tạo nguồn nhân lực chiến lược và sáng tạo công nghệ

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội trao đổi cùng phóng viên Báo Nhân Dân về những giải pháp đột phá nhằm phát triển năng lực nghiên cứu, thu hút nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.

Hình ảnh tại Hội nghị trao quyết định cho hai Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. (Ảnh: THU TRANG)

Công bố quyết định của Ban Bí thư về công tác cán bộ tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Ngày 30/10, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội nghị công bố quyết định của Ban Bí thư về công tác cán bộ. Theo đó, đồng chí Nguyễn Đức Minh và đồng chí Tạ Minh Tuấn được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng)

Lãnh đạo thành phố Đồng Nai, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các đại biểu thực hiện nghi thức khai mạc DigiFest Đồng Nai 2026. (Ảnh: THIÊN VƯƠNG)

Đồng Nai tìm giải pháp thúc đẩy động lực tăng trưởng mới

Với chủ đề “Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo: Từ chủ trương đến thực chất-Kiến tạo động lực tăng trưởng mới cho thành phố Đồng Nai”, ngày 31/10, Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ khai mạc Tuần lễ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026 (DigiFest Đồng Nai 2026).

Tọa đàm tại Diễn đàn “Tương lai khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia 2026”. (Ảnh: SATI)

Kết nối công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Để đổi mới sáng tạo có giá trị thực tiễn, Việt Nam cần thúc đẩy kết nối giữa nghiên cứu, công nghệ, doanh nghiệp và thị trường. Trong đó, cần phát huy vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đồng thời phát triển hạ tầng số, dữ liệu để các nguồn lực được kết nối và sử dụng hiệu quả.

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long phát biểu tại Hội nghị ASEAN về 5G lần thứ 7. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Khai thác hiệu quả 5G, chuẩn bị nền tảng cho 6G

Hạ tầng 5G đang được mở rộng tại nhiều nước ASEAN. Việc đưa mạng lưới vào phục vụ sản xuất, dịch vụ, tạo lợi ích cụ thể cho người dân và doanh nghiệp là bước tiếp theo cần được chú trọng, cùng với chuẩn bị nhân lực, công nghệ và chính sách cho 6G.

Phiên thảo luận cấp cao số 2 trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng quốc tế về điện hạt nhân năm 2026. (Ảnh: LAN ANH)

Chia sẻ kinh nghiệm của Việt Nam về xây dựng hệ thống pháp quy hạt nhân hiệu quả

Trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng quốc tế về điện hạt nhân năm 2026 tại Hàn Quốc, lãnh đạo Cục An toàn bức xạ và hạt nhân chia sẻ kinh nghiệm của Việt Nam trong xây dựng hệ thống pháp quy hạt nhân, nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, phát triển năng lực chuyên môn và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan liên quan.

World Data Summit là chuỗi hội nghị quốc tế về dữ liệu, phân tích dữ liệu và ứng dụng công nghệ, được GIA Global Group tổ chức, hằng năm từ năm 2018, nhằm tạo diễn đàn kết nối các chuyên gia và nhà quản lý trong lĩnh vực dữ liệu, phân tích và trí tuệ nhân tạo...

Ứng dụng AI để nâng cao năng suất và tạo dư địa tăng trưởng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chia sẻ tại World Data Summit APAC 2026, bà Phạm Thị Thu Hằng, Giám đốc 5S Media đã giới thiệu cách tiếp cận 5-RE Growth Cycle từ kinh nghiệm thực tiễn tại đơn vị, với mong muốn cung cấp một gợi ý thực hành để các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể từng bước ứng dụng công nghệ phù hợp với nguồn lực và nhu cầu của mình.

Đoàn công tác Cục An toàn bức xạ và hạt nhân dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc tế về Điện hạt nhân năm 2026. (Ảnh: LAN ANH)

Việt Nam thúc đẩy hợp tác quốc tế, nâng cao năng lực pháp quy hạt nhân

Trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Quốc tế về Điện hạt nhân năm 2026, đoàn công tác Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã trao đổi kinh nghiệm xây dựng hệ thống pháp quy, thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm nâng cao năng lực bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân, phục vụ chương trình điện hạt nhân của Việt Nam.

Đoàn đại biểu hai Viện chụp ảnh lưu niệm. (Ảnh: VHL)

Tọa đàm khoa học “Xây dựng chủ nghĩa xã hội công nghệ số trong kỷ nguyên mới”

Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc của Đoàn đại biểu Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm) đến Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, ngày 28/10 vừa qua, tại Viện Khoa học xã hội tỉnh Quảng Đông, thành phố Quảng Châu đã diễn ra buổi Tọa đàm khoa học “Xây dựng chủ nghĩa xã hội công nghệ số trong kỷ nguyên mới”.