Nâng cao năng lực cảnh báo trượt lở đất

Trượt lở đất diễn biến ngày càng phức tạp tại các địa phương. (Ảnh: MINH TIỀN)
Trượt lở đất diễn biến ngày càng phức tạp tại các địa phương. (Ảnh: MINH TIỀN)

Sau thảm họa Làng Nủ (Lào Cai) năm 2024 và nhiều vụ trượt lở nghiêm trọng tại miền bắc, miền trung, yêu cầu nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai sớm ngày càng cấp thiết. Một nghiên cứu mới đã làm rõ cơ chế phát sinh, đồng thời lần đầu đề xuất phân loại trượt lở tại Việt Nam theo hệ thống quốc tế, góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho công tác phòng, chống thiên tai.

Những năm gần đây, dưới tác động của biến đổi khí hậu và các đợt mưa cực đoan gia tăng, trượt lở đất ở Việt Nam diễn biến ngày càng phức tạp, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Các sự kiện xảy ra trên diện rộng tại miền núi phía bắc, miền trung và Tây Nguyên cho thấy loại hình thiên tai này đang gia tăng cả về tần suất, quy mô, phạm vi ảnh hưởng, tác động tới nhiều địa phương...

Những năm gần đây, dưới tác động của biến đổi khí hậu và các đợt mưa cực đoan gia tăng, trượt lở đất ở Việt Nam diễn biến ngày càng phức tạp, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản.

Đáng chú ý, trượt lở ít khi xảy ra như một sự cố đơn lẻ, mà thường là sự cố khởi phát cho chuỗi dây chuyền như trượt lở-lũ bùn đá-lũ quét, trượt lở-sóng thần... làm gia tăng mức độ thiệt hại, khiến công tác ứng phó trở nên đặc biệt khó khăn.

Thực tiễn đó cho thấy cần tăng cường nghiên cứu một cách hệ thống về đặc điểm, cơ chế hình thành và các yếu tố ảnh hưởng tới hiện tượng trượt lở dưới tác động của những trận mưa cực đoan. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và xây dựng các giải pháp giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra.

Xuất phát từ thực tế thiên tai xảy ra ở Việt Nam, Tiến sĩ Phạm Văn Tiền cùng nhóm nghiên cứu thuộc Viện Các Khoa học Trái đất (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã triển khai đề tài “Nghiên cứu các loại hình trượt lở trong điều kiện mưa cực đoan ở vùng núi phía bắc và miền trung Việt Nam”. Kế thừa kết quả của nhiều nghiên cứu trước đây và nhiều năm khảo sát thực địa, đề tài tập trung nhận diện các loại hình trượt lở, làm rõ cơ chế, động lực phát sinh cũng như quy luật vận động của chúng trong điều kiện mưa cực đoan.

Tiến sĩ Phạm Văn Tiền cho biết: Trong những trận thiên tai gần đây, các dạng trượt lở xảy ra rất đa dạng ở cả diễn biến, quy mô, chiều sâu phá hủy, đặc điểm dịch trượt, vật liệu và tốc độ dịch chuyển. Nhiều sườn dốc ghi nhận trạng thái mất ổn định sau các đợt mưa lớn kéo dài, với diễn biến nhanh và phạm vi ảnh hưởng rộng hơn so với dự báo lý thuyết. Đáng lưu ý, nhiều loại hình trượt lở, trước đây ít gặp, có sức tàn phá đặc biệt lớn đã xuất hiện, như trượt lở hàng loạt trên diện rộng, trượt đá quy mô lớn và trượt dạng dòng chảy có khoảng vùi lấp rộng và xa. Tuy nhiên, đây đều là những hiện tượng chưa được nghiên cứu đầy đủ ở Việt Nam, khiến việc đánh giá nguy cơ, dự báo và xây dựng giải pháp ứng phó còn nhiều hạn chế.

Để làm rõ vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã thực hiện hơn 20 chuyến khảo sát thực địa và phân tích chi tiết các dữ liệu thu thập. Kết quả phân tích cho thấy mưa cực đoan là tác nhân chi phối, với ba yếu tố quyết định gồm cường độ mưa, tổng lượng mưa tích lũy và phạm vi phân bố không gian của mưa. Hai kịch bản dễ kích hoạt trượt lở nhất là trận mưa có cường độ rất lớn xảy ra trong thời gian ngắn và mưa kéo dài nhiều ngày với lượng tích lũy lớn. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng các ngưỡng mưa phục vụ dự báo và cảnh báo sớm.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Cao Minh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Địa chất (nay là Viện Các Khoa học Trái đất), tần suất xuất hiện trượt lở không chỉ gia tăng mà phạm vi tác động và mức độ thiệt hại ngày càng nghiêm trọng hơn trong vài năm trở lại đây. Quy mô các trận trượt lở phụ thuộc nhiều vào phạm vi phân bố lượng mưa, có thể trên một vài lưu vực nhỏ thuộc phạm vi một thôn bản hoặc một xã tới phạm vi rộng lớn lên tới hàng trăm km2.

Qua phân tích dữ liệu của hơn 20 trận trượt lở lớn, các nhà khoa học đã nhận diện và làm rõ cơ chế của các loại hình trượt lở chủ yếu, nhất là một số loại hình còn chưa được nhận diện rõ ràng ở Việt Nam như sạt đất đá, trượt đá cứng, trượt đá nửa cứng và trượt chảy dẻo. Trong đó, sạt đất đá là loại hình xuất hiện phổ biến nhất trong các trận trượt lở gần đây. Nhóm nghiên cứu đề xuất phân loại trượt lở ở Việt Nam dựa trên hệ thống phân loại quốc tế, tạo cơ sở khoa học cho nghiên cứu, đánh giá nguy cơ và phân vùng rủi ro trượt lở tại các địa phương.

Bên cạnh khảo sát thực địa, nhóm nghiên cứu đã ứng dụng mô hình mô phỏng máy tính để tái hiện quá trình phát sinh và lan truyền của các khối trượt do mưa lớn tại dốc Tả Mò (Tuyên Quang) và Trà Leng (Đà Nẵng). Kết quả mô phỏng giúp làm rõ cơ chế hình thành cũng như đánh giá chính xác hơn phạm vi tác động của dòng đất đá. Phương pháp này cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các kịch bản dự báo trượt lở trong tương lai, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro thiên tai.

Trên cơ sở nhận diện các loại hình trượt lở, nhóm đã đề xuất hệ thống giải pháp ứng phó theo hướng tổng hợp, ưu tiên các giải pháp phi công trình. Nhóm nhấn mạnh việc xây dựng bản đồ nguy cơ trượt lở chi tiết cho từng loại hình, tích hợp đánh giá đa tai biến và phát triển hệ thống cảnh báo sớm dựa trên dữ liệu quan trắc, công nghệ GIS và trí tuệ nhân tạo. Đáng chú ý, mô hình cảnh báo sớm cấp cơ sở dựa vào cộng đồng được đề xuất theo hướng kết hợp giữa dữ liệu khoa học và quan sát tại chỗ.

Đánh giá về kết quả nghiên cứu, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Phạm Hoàng Hải, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu đề tài khoa học cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam khẳng định, đề tài đã bổ sung những luận cứ khoa học quan trọng trong việc nhận diện đặc điểm và cơ chế hình thành của từng loại hình trượt lở. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng các hiện tượng mưa cực đoan, việc hiểu rõ cơ chế trượt lở phục vụ phân vùng nguy cơ và cảnh báo sớm không chỉ giúp giảm thiệt hại về người và tài sản mà còn góp phần bảo đảm phát triển bền vững cho các vùng núi của Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

Đội ngũ nhân viên của Vietnam Airlines luôn sẵn sàng hỗ trợ hành khách khi cần thiết.

Khách bay quốc tế tại Nội Bài có thể tự làm thủ tục và gửi hành lý tự động

Từ nay, hành khách đi các chuyến bay quốc tế của Vietnam Airlines tại Nhà ga T2, Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài có thể tự làm thủ tục và ký gửi hành lý qua hệ thống kiosk tự động, góp phần mang lại trải nghiệm mới thuận tiện, chủ động hơn cho hành khách, đồng thời nâng cao hiệu quả khai thác tại sân bay.

Lãnh đạo Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc chụp ảnh cùng đại diện các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam tham dự sự kiện. (Ảnh: VKBIA cung cấp)

Việt Nam-Hàn Quốc thúc đẩy hợp tác hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

Các chương trình kết nối đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp và thúc đẩy đổi mới sáng tạo được kỳ vọng sẽ mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước Việt Nam-Hàn Quốc; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, du lịch thông minh, công nghệ ứng dụng và hệ sinh thái khởi nghiệp mang tầm khu vực.

AI có thể hỗ trợ phân tích dữ liệu nguồn gene, đặc điểm sinh trưởng và chất lượng cây trồng, qua đó rút ngắn quá trình chọn tạo giống (Ảnh minh hoạ có sử dụng AI)

Bài 2: Hướng đi thực thi nghị quyết 57-NQ/TW cho “siêu thực phẩm” Việt

Các quốc gia Đông Nam Á đang đưa trí tuệ nhân tạo (AI) vào quản lý vùng trồng, cảnh báo sâu bệnh, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng nông sản. Từ kinh nghiệm này, Việt Nam có thể học hỏi, ứng dụng AI để đưa các “siêu thực phẩm” bản địa trở thành một thị trường lớn, mang lại thu nhập cao cho người nông dân.

Sử dụng UAV dân dụng cỡ nhỏ để quan trắc, giám sát hệ sinh thái tại đảo Bạch Long Vĩ (thành phố Hải Phòng). (Ảnh: HIẾU THẢO)

Sử dụng UAV giám sát hệ sinh thái ven biển

Trước sức ép từ biến đổi khí hậu và các hoạt động phát triển kinh tế, nhiều hệ sinh thái ven biển, đảo đang đứng trước nguy cơ suy giảm. Việc ứng dụng thiết bị bay không người lái giúp thu thập dữ liệu nhanh, chính xác, tiết kiệm chi phí, góp phần phục vụ giám sát, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế biển bền vững.

Doanh nghiệp công nghệ số tìm hiểu các giải pháp về hạ tầng số và dữ liệu tại Hội nghị Data Center & Cloud Infrastructure Summit (DCCI Summit) 2026.

AI định hình lại hạ tầng số quốc gia

Cuộc cạnh tranh trí tuệ nhân tạo (AI) đang chuyển từ thuật toán sang hạ tầng số. Trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và hạ tầng tính toán đang trở thành yếu tố quyết định năng lực phát triển AI, sức cạnh tranh và khả năng tự chủ công nghệ của mỗi quốc gia.

Sản xuất AI Camera của MK Vision tại Khu công nghiệp Thăng Long Vĩnh Phúc, Bình Xuyên, tỉnh Phú Thọ. (Ảnh: BÍCH LIÊN)

Khi chủ trương đi vào cuộc sống

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành một trong những ưu tiên của chiến lược phát triển đất nước. Hàng loạt luật, nghị định, chương trình và đề án quan trọng được ban hành, tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho quá trình phát triển.