Sử dụng UAV giám sát hệ sinh thái ven biển

Trước sức ép từ biến đổi khí hậu và các hoạt động phát triển kinh tế, nhiều hệ sinh thái ven biển, đảo đang đứng trước nguy cơ suy giảm. Việc ứng dụng thiết bị bay không người lái giúp thu thập dữ liệu nhanh, chính xác, tiết kiệm chi phí, góp phần phục vụ giám sát, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế biển bền vững.

Sử dụng UAV dân dụng cỡ nhỏ để quan trắc, giám sát hệ sinh thái tại đảo Bạch Long Vĩ (thành phố Hải Phòng). (Ảnh: HIẾU THẢO)
Sử dụng UAV dân dụng cỡ nhỏ để quan trắc, giám sát hệ sinh thái tại đảo Bạch Long Vĩ (thành phố Hải Phòng). (Ảnh: HIẾU THẢO)

Hiện nay, vùng ven biển thành phố Hải Phòng được xác định là một trong 10 khu vực chịu tác động mạnh nhất của biến đổi khí hậu ở châu Á-Thái Bình Dương. Các hoạt động như xây dựng, khai thác khoáng sản, nuôi trồng thủy sản, xây dựng khu công nghiệp ven biển,… đã khiến suy giảm chất lượng các hệ sinh thái (rừng ngập mặn, san hô, cỏ biển) ven bờ và các đảo. Trong khi đó, mục tiêu trọng tâm của thành phố là phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững gắn với phát triển mô hình kinh tế xanh, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, bảo tồn các hệ sinh thái.

Để có được các thông tin, dữ liệu quan trọng làm cơ sở đánh giá chính xác sự thay đổi của các hệ sinh thái và hiệu quả của công tác quản lý, nhiều phương pháp đã được ứng dụng như quan trắc định kỳ tại chỗ, quan trắc bằng dữ liệu viễn thám…

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, các giải pháp này đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập như: sử dụng nguồn nhân lực và vật lực lớn, tốn kém nhiều thời gian và kinh phí. Đặc biệt, việc sử dụng ảnh vệ tinh thương mại với độ phân giải cao thường không có sẵn, ảnh vệ tinh chủ yếu là ảnh quang học cho nên chất lượng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết. Trong khi đó dữ liệu ảnh thu từ máy bay có người lái thường có giá thành cao do các chi phí lớn trong việc vận hành máy bay.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, đồng thời để hoạt động giám sát và đánh giá hiện trạng các hệ sinh thái, nhất là hệ sinh thái ven biển, đảo đạt hiệu quả cao, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thảo, Phân viện Hải Dương học tại Hải Phòng (Viện Hải Dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chủ trì nhiệm vụ “Nghiên cứu ứng dụng thiết bị bay không người lái dân dụng cỡ nhỏ trong việc đánh giá hiện trạng hệ sinh thái ven biển và đảo Hải Phòng”.

Đây là nhiệm vụ khoa học, công nghệ cấp thành phố Hải Phòng được triển khai, thực hiện với mục đích xây dựng quy trình sử dụng hiệu quả thiết bị bay không người lái (UAV) dân dụng cỡ nhỏ để đánh giá hiện trạng các hệ sinh thái vùng ven biển và đảo.

Phạm vi nghiên cứu khảo sát là hệ sinh thái rừng ngập mặn Bàng La (phường Nam Đồ Sơn), rạn san hô ở đảo Bạch Long Vĩ (đặc khu Bạch Long Vĩ). Những khu vực này được đánh giá là điển hình của thành phố với thảm thực vật ngập mặn và hệ rạn san hô có độ bao phủ cao nhất.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Thảo, trong hoạt động giám sát, đánh giá các hệ sinh thái ven biển của thành phố, UAV thật sự là một công cụ hữu ích để thu thập số liệu, khảo sát các hệ sinh thái đặc trưng như rừng ngập mặn và rạn san hô. Bởi, nếu áp dụng những phương pháp truyền thống, các hệ sinh thái hoặc khu vực đã lựa chọn sẽ được khảo sát, quan trắc thủ công theo tuyến và mặt cắt để thu mẫu, đo đạc ngoài hiện trường và phân tích trong phòng thí nghiệm.

Kết quả khảo sát thực địa được kết hợp giải đoán ảnh vệ tinh để đưa ra kết quả cho cả khu vực. Với phương pháp này, kết quả thu được thường có độ chính xác không như mong muốn bởi hạn chế về độ phân giải không gian của ảnh vệ tinh và số lượng trạm khảo sát, sự không trùng khớp về mặt thời gian giữa thu ảnh vệ tinh và khảo sát thực địa.

Trong khi đó, các chuyên gia cho rằng, nếu ứng dụng UAV cỡ nhỏ gắn máy ảnh đa phổ để quan trắc môi trường và các hệ sinh thái ven biển sẽ cho phép giám sát, đánh giá đạt độ chính xác cao, chi phí kinh tế thấp và chủ động về thời gian, không gian thu ảnh so với phương pháp truyền thống.

Cùng với đó, kỹ thuật dẫn đường sử dụng các hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu như GPS, Galileo, GLONASS giúp UAV có thể bay với nhiều chế độ, địa hình khác nhau để định kỳ quan trắc, giám sát và ghi nhận hình ảnh hoặc đoạn phim chất lượng cao về các hệ sinh thái.

Đặc biệt, đối với hệ sinh thái rạn san hô, việc khảo sát, quan trắc gặp rất nhiều khó khăn do hạn chế về tầm nhìn và phân biệt các nhóm đối tượng có phổ tương tự nhau. Trong trường hợp này, dữ liệu thu được từ UAV có thể sử dụng để phân biệt san hô, rong biển…, từ đó giúp các ban, ngành kịp thời phát hiện những biến động tiêu cực về diện tích phân bố, độ bao phủ, thành phần loài, môi trường nước và trầm tích để đề ra những biện pháp bảo vệ các hệ sinh thái ven biển, đảo. Những ưu thế này cho thấy UAV có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong giám sát các hệ sinh thái ven biển, đảo tại nhiều khu vực của Việt Nam.

Từ kết quả khảo sát tại rừng ngập mặn Bàng La và vùng nước nông quanh đảo Bạch Long Vĩ, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Tuấn, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp thành phố cho rằng, UAV dân dụng cỡ nhỏ gắn máy ảnh đa phổ có thể cung cấp nguồn dữ liệu chi tiết, phục vụ hiệu quả việc xác định hiện trạng và theo dõi biến động của các hệ sinh thái ven biển.

Thông qua dữ liệu ảnh thu nhận ở độ cao thấp, các nhà khoa học đã xây dựng quy trình khảo sát, xử lý hình ảnh và hoàn thiện bản đồ phân bố rừng ngập mặn, rạn san hô với tỷ lệ 1/5.000. Các kết quả này tạo cơ sở để cơ quan quản lý theo dõi sự thay đổi về diện tích, độ bao phủ và hiện trạng phân bố của từng hệ sinh thái, nhờ đó kịp thời phát hiện những khu vực có dấu hiệu suy giảm. Quy trình và dữ liệu thu được đã được chuyển giao cho Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Bạch Long Vĩ để phục vụ công tác quản lý, giám sát thực tế; đồng thời có thể tiếp tục mở rộng ứng dụng...

Việc ứng dụng UAV dân dụng cỡ nhỏ gắn máy ảnh đa phổ cho thấy nhiều ưu thế về độ chính xác, chi phí và khả năng chủ động so với phương pháp khảo sát truyền thống. Đây là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện, mở rộng công nghệ trong giám sát môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý bền vững tài nguyên biển, đảo.

Có thể bạn quan tâm

Doanh nghiệp công nghệ số tìm hiểu các giải pháp về hạ tầng số và dữ liệu tại Hội nghị Data Center & Cloud Infrastructure Summit (DCCI Summit) 2026.

AI định hình lại hạ tầng số quốc gia

Cuộc cạnh tranh trí tuệ nhân tạo (AI) đang chuyển từ thuật toán sang hạ tầng số. Trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và hạ tầng tính toán đang trở thành yếu tố quyết định năng lực phát triển AI, sức cạnh tranh và khả năng tự chủ công nghệ của mỗi quốc gia.

Sản xuất AI Camera của MK Vision tại Khu công nghiệp Thăng Long Vĩnh Phúc, Bình Xuyên, tỉnh Phú Thọ. (Ảnh: BÍCH LIÊN)

Khi chủ trương đi vào cuộc sống

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành một trong những ưu tiên của chiến lược phát triển đất nước. Hàng loạt luật, nghị định, chương trình và đề án quan trọng được ban hành, tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho quá trình phát triển.

Vinh danh giải Nhất. (Ảnh: HNV)

Vinh danh thế hệ các nhà kiến tạo AI đưa tri thức toàn cầu giải bài toán thực tế Việt Nam 2026

Thành công của VAIC 2026 có được nhờ sự phối hợp chặt chẽ và đồng hành của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Đây là tiền đề quan trọng để xây dựng hệ sinh thái AI mở, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong kỷ nguyên số.

Các đại biểu tham dự Hội nghị Mã hóa tài sản thực Việt Nam 2026.

Thúc đẩy xây dựng hệ sinh thái an toàn tài sản số

Chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ. Dữ liệu, nền tảng số và các hệ thống thông tin đã trở thành tài sản quan trọng của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Bảo đảm an toàn tài sản số không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật mà còn là yếu tố cốt lõi để bảo vệ chủ quyền số, bảo đảm an ninh quốc gia, củng cố niềm tin số.

 Công an tỉnh Khánh Hòa bắt giữ các đối tượng để điều tra hành vi lừa đảo tiền mã hóa. Ảnh: Công an tỉnh Khánh Hòa

Cần chủ động dựng “lá chắn” trước tội phạm mạng

Tội phạm trên không gian mạng đang ngày càng chuyên nghiệp, có tổ chức và tận dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo để thực hiện các hành vi lừa đảo. Thực tế này đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực điều tra số, tăng cường phối hợp liên ngành và chủ động xây dựng “lá chắn an ninh mạng từ cơ sở”.

Thượng tá Nguyễn Thành Chung, Cục A05, Bộ Công an phát biểu tại Hội nghị Mã hóa tài sản thực Việt Nam 2026 (Vietnam RWA Summit 2026).

Thách thức mới về phòng, chống rửa tiền và an ninh mạng trong thị trường tài sản mã hóa

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đang tăng trưởng mạnh mẽ cả về quy mô, số lượng giao dịch, cũng như mức độ phổ biến, yêu cầu về phòng, chống rửa tiền và bảo đảm an ninh mạng trong lĩnh vực tài sản mã hóa đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Cảnh báo thời tiết theo thời gian thực trên hệ thống biển báo điện tử.

Cảnh báo thời tiết theo thời gian thực trên biển báo điện tử, hỗ trợ lái xe chủ động lưu thông an toàn

Trước diễn biến thời tiết ngày càng phức tạp, Trung tâm Kỹ thuật và Công nghệ đường bộ phía bắc (Cục Đường bộ Việt Nam) đã triển khai chức năng cảnh báo thời tiết theo thời gian thực trên hệ thống biển báo điện tử, giúp người lái xe chủ động nắm bắt thông tin, điều chỉnh hành trình và bảo đảm an toàn khi lưu thông.

Khai mạc chương trình “Thách thức Đổi mới sáng tạo Việt Nam”(Vietnam AI Inovation Challenge 2026) và phát động “Cuộc thi Olympic Trí tuệ nhân tạo Quốc tế 2027” (International Artificial Intelligence Olympiad-IAIO 2027). (Ảnh: HNV)

Định hình năng lực cạnh tranh, tạo bệ phóng mới cho AI Việt Nam

Chương trình “Thách thức Đổi mới sáng tạo Việt Nam” bước sang năm thứ năm (2022-nay). Năm nay, thêm điểm mới, lần đầu tiên, Việt Nam đăng cai một kỳ thi Olympic quốc tế chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo, đánh dấu bước tiến quan trọng trong hội nhập, khẳng định vị thế của Việt Nam trong hệ sinh thái AI toàn cầu.