Với nền tảng thể chế từng bước được hoàn thiện, yêu cầu đặt ra là đưa các chủ trương vào cuộc sống bằng những kết quả cụ thể. Trong bối cảnh đó, Chỉ thị số 29/CT-TTg vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các nhiệm vụ khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026.
Điều đáng chú ý là Chỉ thị số 29 nhìn thẳng vào những điểm nghẽn trong quá trình đưa chủ trương vào cuộc sống. Nhiều nhiệm vụ còn chậm tiến độ, quá hạn hoặc chưa bảo đảm chất lượng đầu ra, tỷ lệ giải ngân vốn cho lĩnh vực này vẫn thấp, nhất là đối với chuyển đổi số.
Đặc biệt, Chỉ thị số 29 chỉ rõ nguyên nhân không chỉ nằm ở cơ chế, chính sách chưa đồng bộ mà còn ở công tác tổ chức thực hiện, năng lực triển khai ở cơ sở và tâm lý e ngại, thiếu quyết liệt của người đứng đầu tại một số nơi.
Nhìn rộng hơn, đây không phải câu chuyện riêng của ngành khoa học-công nghệ. Nhiều nút thắt về thể chế đang từng bước được tháo gỡ. Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Công nghiệp công nghệ số, Luật Dữ liệu cùng nhiều cơ chế mới đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đó cũng là điểm đáng chú ý trong tư duy điều hành của Chỉ thị số 29.
Lần này, yêu cầu không dừng ở việc ban hành thêm chính sách mà chuyển trọng tâm sang tổ chức thực hiện. Người đứng đầu các bộ, ngành và địa phương được yêu cầu trực tiếp chỉ đạo, trực tiếp chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng triển khai và hiệu quả giải ngân. Bởi một trung tâm nghiên cứu hoàn thành chậm có thể làm lỡ cơ hội tiếp cận công nghệ mới. Cơ sở dữ liệu kết nối chậm sẽ ảnh hưởng tới nhiều dịch vụ công; dự án chuyển đổi số kéo dài làm giảm hiệu quả đầu tư. Trong lĩnh vực công nghệ, thời gian cũng là năng lực cạnh tranh...
Chỉ thị số 29 cũng nhấn mạnh yêu cầu rà soát toàn bộ danh mục nhiệm vụ, phân loại rõ việc nào đủ điều kiện triển khai, việc nào còn vướng mắc cần tháo gỡ và việc nào không còn khả năng thực hiện. Đây là cách tiếp cận thực chất, bởi trong quản trị hiện đại, điều quan trọng không phải duy trì mọi dự án bằng mọi giá, mà là lựa chọn đúng nhiệm vụ để tập trung nguồn lực và tổ chức thực hiện hiệu quả.
Tinh thần đó được thể hiện xuyên suốt trong nguyên tắc phân bổ và sử dụng vốn. Nguồn lực phải được dành cho những nhiệm vụ có tính chiến lược, tạo sức lan tỏa và tác động trực tiếp đến tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia cũng như hiệu quả quản trị.
Theo đó, nguồn lực được ưu tiên cho phát triển công nghệ chiến lược, đầu tư các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm, hạ tầng nghiên cứu hiện đại, đồng thời xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia, các cơ sở dữ liệu lớn, nền tảng số dùng chung và các dự án chuyển đổi số phục vụ mô hình chính quyền địa phương hai cấp…
Có thể nói, sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, trọng tâm đang chuyển từ hoàn thiện thể chế sang tổ chức thực hiện hiệu quả. Suy cho cùng, thước đo của một chủ trương không phải là số lượng văn bản được ban hành, mà là những chuyển biến thực chất trong đời sống kinh tế-xã hội. Khi các chủ trương được triển khai hiệu quả, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ trở thành động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới.