Nghiên cứu hệ gene người Việt toàn diện nhất được công bố trên Nature Communications

Sau 8 năm triển khai, dự án Giải mã 1.000 hệ gene người Việt đã công bố những kết quả đầu tiên trên Nature Communications, đánh dấu bước tiến quan trọng trong nghiên cứu di truyền học Việt Nam.

Giáo sư Vũ Hà Văn (bên trái) và Tiến sĩ Võ Sỹ Nam là hai tác giả chính của bài báo.
Giáo sư Vũ Hà Văn (bên trái) và Tiến sĩ Võ Sỹ Nam là hai tác giả chính của bài báo.

Nhóm các nhà khoa học dẫn dắt bởi Tiến sĩ Võ Sỹ Nam, Giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu dữ liệu lớn, Trường đại học VinUni và Giáo sư Vũ Hà Văn, Giám đốc khoa học của Viện vừa công bố nghiên cứu "VN1K is a pangenome-informed multi-omics and phenomics resource for the Vietnamese population" trên Nature Communications - một trong những tạp chí khoa học uy tín hàng đầu thế giới.

Công trình giới thiệu nguồn dữ liệu hệ gene, đa omics và kiểu hình toàn diện đầu tiên ở quy mô lớn của người Việt, đồng thời xây dựng thành công Vietnamese PanGenome Reference (VPR) - hệ gene tham chiếu quần thể đầu tiên dành riêng cho người Việt. Đây được xem là nền tảng khoa học quan trọng cho các nghiên cứu di truyền học và nhiều ứng dụng trong y học chính xác, y học dự phòng cũng như các giải mã gene phục vụ người Việt.

Công trình do nhóm nghiên cứu gồm hơn 40 nhà khoa học Việt Nam thực hiện, dưới sự dẫn dắt của Tiến sĩ Võ Sỹ Nam và Giáo sư Vũ Hà Văn: Phó Giáo sư Lê Đức Hậu (Đại học Bách Khoa Hà Nội), Phó Giáo sư Nguyễn Thùy Dương (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Phó Giáo sư Lê Thị Lý (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), Giáo sư Lê Sỹ Vinh (Đại học Quốc gia Hà Nội), Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm (Đại học VinUni), Giáo sư Trần Huy Thịnh (Trường đại học Y Hà Nội), Phó Giáo sư Nguyễn Hoàng Quân (Đại học Queensland, Australia), Phó Giáo sư Lưu Nguyên Hưng (Viện Nghiên cứu Houston Methodist và Đại học Cornell, Mỹ) và nhiều nhà khoa học trẻ tài năng khác.

Dự án được khởi xướng từ năm 2018 tại Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn (nay thuộc Trường đại học VinUni), với mục tiêu xây dựng nguồn dữ liệu hệ gene quy mô lớn dành riêng cho người Việt và thúc đẩy các ứng dụng của di truyền học trong chăm sóc sức khỏe cũng như các lĩnh vực phục vụ cộng đồng.

VN1K được xây dựng trên cơ sở phân tích dữ liệu của 1.011 người Việt có nguồn gốc từ 53/63 tỉnh, thành phố (theo địa giới hành chính tại thời điểm lấy mẫu), ghi nhận hơn 42 triệu biến thể di truyền, trong đó khoảng 8,5 triệu biến thể chưa từng được ghi nhận trong các cơ sở dữ liệu quốc tế phổ biến.

Từ nguồn dữ liệu này, nhóm nghiên cứu đã phát triển Vietnamese PanGenome Reference (VPR) - hệ gene tham chiếu quần thể quy mô lớn đầu tiên của Việt Nam, giúp nâng cao độ chính xác trong phân tích và diễn giải các biến thể di truyền so với việc sử dụng các hệ gene tham chiếu được xây dựng chủ yếu từ quần thể người châu Âu.

Trước đây, dữ liệu di truyền của người Việt trong các nghiên cứu quốc tế còn rất hạn chế. Khoảng trống này khiến nhiều nghiên cứu về bệnh học, đáp ứng thuốc và các ứng dụng y học chính xác chưa phản ánh đầy đủ đặc điểm di truyền của người Việt. Việc xây dựng thành công VN1K không chỉ bổ sung dữ liệu còn thiếu của Việt Nam trên bản đồ gene thế giới mà còn đóng góp thêm một nguồn dữ liệu quy mô lớn cho khu vực Đông Nam Á - một trong những khu vực còn thiếu dữ liệu di truyền nhất hiện nay.

Ngay từ khi khởi động vào năm 2018, dự án "Giải mã 1.000 hệ gene người Việt" không chỉ hướng tới xây dựng một cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu cơ bản mà còn đặt mục tiêu tạo nền tảng cho các ứng dụng y sinh học phù hợp với đặc điểm di truyền của người Việt.

vingenchip-do-cong-ty-genstory-phat-trien-dua-tren-nen-tang-vn1k-hien-la-mot-trong-nhung-cong-nghe-dang-duoc-su-dung-trong-du-an-ngan-hang-gen-liet-sy-va-than-nhan-do-nha-nuoc.jpg
VinGenChip do công ty Genstory phát triển dựa trên nền tảng VN1K hiện là một trong những công nghệ đang được sử dụng trong Dự án Ngân hàng Gene liệt sĩ và thân nhân.

Từ dữ liệu VN1K, các nhà khoa học đã xác định nhiều biến thể gene liên quan đến phản ứng có hại với một số loại thuốc phổ biến như carbamazepine, allopurinol hay clopidogrel. Trên cơ sở đó, các mô hình dự đoán đáp ứng thuốc theo đặc điểm di truyền đã được phát triển cho khoảng 150 nhóm dược chất, hỗ trợ bác sĩ lựa chọn thuốc và điều chỉnh liều điều trị phù hợp hơn với từng bệnh nhân.

Một trong những ứng dụng đã được triển khai là dự án "Thuốc đúng cho em", giúp hàng nghìn trẻ em mắc động kinh có hoàn cảnh khó khăn được xét nghiệm di truyền trước điều trị, qua đó giảm nguy cơ gặp các phản ứng thuốc nghiêm trọng và nâng cao hiệu quả điều trị.

Một trong những thành quả ứng dụng nổi bật của VN1K là VinGenChip - con chip sinh học đầu tiên được thiết kế dựa trên dữ liệu hệ gene người Việt. Sản phẩm do GeneStory phát triển trên nền tảng các kết quả nghiên cứu từ VN1K, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc làm chủ công nghệ lõi về phân tích dữ liệu di truyền và thiết kế chip sinh học tại Việt Nam.

VinGenChip có khả năng phân tích đồng thời hàng chục nghìn biến thể di truyền đặc trưng của người Việt, phục vụ nhiều mục đích như định danh cá thể, dự đoán đáp ứng thuốc, sàng lọc nguy cơ bệnh và các nghiên cứu di truyền quần thể. Việc tối ưu hóa trên dữ liệu hệ gene người Việt giúp nâng cao độ chính xác khi ứng dụng trong thực tiễn, đồng thời tạo tiền đề để các công nghệ giải mã gene trở nên dễ tiếp cận hơn đối với người dân.

Hiện nay, VinGenChip là một trong những công nghệ đang được sử dụng trong Dự án Ngân hàng gen liệt sĩ và thân nhân cũng như Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ do Nhà nước triển khai với quy mô lên tới hàng triệu mẫu ADN. Với khả năng đọc đồng thời số lượng lớn biến thể di truyền có giá trị định danh, công nghệ này góp phần nâng cao độ chính xác trong đối sánh dữ liệu giữa mẫu ADN thân nhân và hài cốt, đồng thời giảm đáng kể chi phí so với nhiều giải pháp nhập khẩu.

Việc ứng dụng VinGenChip trên nền tảng dữ liệu hệ gene người Việt được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin, phục vụ một nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt về lịch sử, chính trị và nhân văn. Đây cũng là minh chứng cho khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu khoa học thành các công nghệ phục vụ những nhu cầu thực tiễn của đất nước.

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu kỳ vọng VN1K sẽ tiếp tục là nền tảng cho nhiều ứng dụng mới trong y học chính xác, y học dự phòng và chăm sóc sức khỏe cá thể hóa, góp phần đưa các thành tựu của di truyền học đến gần hơn với hệ thống y tế và người dân Việt Nam.

Giáo sư Vũ Hà Văn, người khởi xướng dự án, cho biết: “Đây là công trình hoàn toàn do các chuyên gia người Việt thực hiện tại Việt Nam, cho người Việt, có tính chất tiên phong và làm nền móng cho các nghiên cứu toàn diện về hệ gene người Việt. Hy vọng đây sẽ là bước đầu trong một loạt công trình kế tiếp có giá trị hàn lâm đáng kể”.

Tiến sĩ Võ Sỹ Nam, người lãnh đạo chuyên môn và là tác giả liên hệ chính của công bố, chia sẻ: "Ngay từ đầu, mục tiêu của chúng tôi không chỉ là xây dựng một cơ sở dữ liệu lớn và các công cụ thống kê, AI hiệu quả cho dữ liệu gene của người Việt mà còn tạo ra nền tảng để các kết quả nghiên cứu có thể được chuyển hóa thành những ứng dụng phục vụ cộng đồng. Chúng tôi kỳ vọng VN1K sẽ góp phần thúc đẩy các ứng dụng y học dự phòng và y học chính xác mạnh mẽ hơn tại Việt Nam và mang lại lợi ích thiết thực cho người Việt”.

Có thể bạn quan tâm

Sở Y tế tỉnh Vĩnh Long ký kết hợp tác với Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: BÁ DŨNG)

Vĩnh Long ký kết hợp tác nâng cao năng lực y tế với Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 15/9, Sở Y tế tỉnh Vĩnh Long đã tổ chức Lễ ký kết thỏa thuận nguyên tắc hợp tác với Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn đến năm 2030. Đây là sự kiện quan trọng nhằm nâng cao năng lực khám, chữa bệnh, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và từng bước hiện đại hóa hệ thống y tế địa phương.

Bác sĩ chuyên khoa I Tôn Nữ Phương Duyên thực hiện phẫu thuật cho người bệnh. (Ảnh: Bệnh viện cung cấp)

Đừng chủ quan với bướu giáp khi còn trẻ

Ung thư tuyến giáp có thể xuất hiện ở người trẻ và trong một số trường hợp được phát hiện khi chưa có biểu hiện rõ ràng. Vì vậy, khi có bất thường ở vùng cổ hoặc phát hiện nhân tuyến giáp, người bệnh nên thăm khám để được đánh giá đúng tình trạng, thay vì chủ quan vì tuổi còn trẻ hoặc quá lo lắng trước mọi tổn thương.

Cán bộ y tế, giáo viên Trường mầm non Tân Ước (xã Dân Hòa, Thành phố Hà Nội) thực hiện vệ sinh đồ chơi trước khi đón trẻ trên địa bàn bước vào năm học mới 2026-2027. Ảnh: VÂN SƠN

Phòng bệnh tay chân miệng trong trường học

Bệnh tay chân miệng lưu hành quanh năm, nhưng có xu hướng tăng cao vào tháng 9, tháng 10. Đây cũng là thời điểm trẻ bắt đầu bước vào năm học mới, gia tăng tiếp xúc trực tiếp giữa các học sinh, làm tăng nguy cơ lây lan bệnh nếu không thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh cũng như chậm phát hiện sớm trẻ mắc bệnh.

Các chuyên gia hàng đầu từ tuyến Trung ương đã trực tiếp phối hợp cùng ê-kíp địa phương thực hiện thành công ca phẫu thuật nội soi kéo dài 2 giờ. (Ảnh: Bệnh viện cung cấp)

Chuyển giao kỹ thuật Ngoại lồng ngực, thêm cơ hội điều trị bệnh phổi ngay tại tuyến tỉnh

Bệnh viện Phổi Trung ương vừa chuyển giao kỹ thuật Ngoại lồng ngực cho Bệnh viện Phổi Nghệ An theo định hướng phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh giai đoạn 2026-2030. Ngay tại phòng mổ, các chuyên gia cùng ê-kíp địa phương thực hiện thành công ca phẫu thuật nội soi cắt khâu kén khí cho người bệnh tràn khí màng phổi.

(Ảnh minh họa: Thế Anh)

Chiến lược và lộ trình cho hệ thống y tế bền vững

Ngành y tế đang bước vào giai đoạn phát triển mới, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng cao; mô hình bệnh tật thay đổi nhanh chóng, bệnh không lây nhiễm gia tăng, già hóa dân số nhanh, các vấn đề sức khỏe tâm thần, môi trường, dinh dưỡng... đang đặt ra nhiều yêu cầu chưa từng có.

Các chuyên gia cập nhật những tiến bộ mới trong lĩnh vực nội tiết-chuyển hóa. (Ảnh: Anh Ngọc)

Ứng dụng công nghệ tiên tiến và trí tuệ nhân tạo trong quản lý bệnh nội tiết-chuyển hóa

Nhân kỷ niệm 57 năm thành lập (1969-2026), ngày 12/9, Bệnh viện Nội tiết Trung ương tổ chức Hội nghị khoa học nhằm cập nhật những tiến bộ mới trong lĩnh vực nội tiết-chuyển hóa, đồng thời trao đổi về khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến và trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán, điều trị, theo dõi và quản lý bệnh mạn tính.

Người bệnh Phan Văn Quân phục hồi sau phẫu thuật (Ảnh: Hồ Thu)

Mổ trượt đốt sống nhờ nội soi một cổng

Kỹ thuật phẫu thuật nội soi một cổng, giải phóng chèn ép, hàn xương liên thân đốt và nẹp vít cố định do Tiến sĩ, bác sĩ Võ Văn Thanh thực hiện đang mở ra bước tiến mới: vừa loại bỏ triệt để tổn thương cột sống, vừa giúp bệnh nhân phục hồi vận động nhanh chóng với mức độ xâm lấn tối thiểu nhất.

Các chuyên gia thảo luận về nhu cầu bảo vệ người cao tuổi có bệnh nền bằng dự phòng chủ động (Ảnh: Anh Thư)

Bảo vệ người cao tuổi có bệnh nền bằng dự phòng chủ động

Theo tuổi tác, hệ miễn dịch suy giảm dần do quá trình lão hóa miễn dịch, khiến người cao tuổi dễ mắc các bệnh truyền nhiễm hơn và có nguy cơ đối mặt với các biến chứng nghiêm trọng, nhất là khi có bệnh lý nền đi kèm. Chính vì vậy, việc dự phòng chủ động đóng vai trò quan trọng đối với người cao tuổi có bệnh nền.

Bác sĩ tiến hành phẫu thuật cho bệnh nhân. (Ảnh: Bệnh viện cung cấp)

Trì hoãn điều trị ung thư khi mang thai, người phụ nữ đối mặt ca mổ trực tràng đầy thách thức

Một phụ nữ 38 tuổi phát hiện ung thư trực tràng khi mang thai tháng thứ năm và quyết định trì hoãn điều trị vì lo ảnh hưởng đến thai nhi. Sau khi sinh con, bệnh tiếp tục tiến triển, khối u xâm lấn tổ chức xung quanh, buộc các bác sĩ phải thực hiện ca phẫu thuật phức tạp để loại bỏ tổn thương.