Ngược thượng nguồn

Một mảnh hồn quê Cái Tàu

Tôi đã từng đi qua nhiều dòng sông đẹp trên khắp đất nước. Một chiều mưa qua con sông Bến Hải (Quảng Trị)-vĩ tuyến 17, nơi chia cách đất nước những 20 năm trời; một sớm mùa xuân tôi đứng trên cầu Trường Tiền nhìn dòng Hương (Huế) lững lờ trôi; hay một đêm tháng 3 những năm trước tôi đi du thuyền trên sông Hàn (Đà Nẵng) để cảm nhận hết nét đẹp từ sông nhìn lên của một thành phố được mệnh danh là “đáng sống nhất Việt Nam”… Tuy nhiên, dù đi đến dòng sông nào thì lòng tôi cũng đau đáu về một dòng sông chảy ngang qua mảnh đất nơi tôi sinh ra và lớn lên, dòng sông của cội nguồn, dòng sông của thời ấu thơ không thể nào phai lạt: sông Cái Tàu ở xứ “muỗi mòng, đỉa vắt”-U Minh (Cà Mau).

Trên dòng Cái Tàu.
Trên dòng Cái Tàu.

Sông Cái Tàu thuộc địa phận huyện U Minh (Cà Mau). Dòng sông này bắt nguồn từ sông Trẹm (chặng Tắc Thủ) và chảy dài đến tận ngã tư rạch Tiểu Dừa, tiếp giáp với huyện An Minh (Kiên Giang) rồi đổ ra Vịnh Thailand. Sông Cái Tàu có chiều dài 42 km, chảy qua các xã: Khánh An, Nguyễn Phích, thị trấn U Minh, Khánh Thuận và Khánh Tiến. Mặc dù dòng sông này chảy ngang qua nhiều xã, song người xứ khác có lẽ không nhớ hết tên các xã cụ thể, chỉ nhớ mỗi tên sông Cái Tàu. Bởi vậy, họ gọi người dân sống ở hai bên bờ sông Cái Tàu là dân Cái Tàu, người Cái Tàu; cả những loại trái cây, đồ thủ công mỹ nghệ phổ biến có xuất xứ từ U Minh cũng được gán ghép bằng cái tên Cái Tàu, dần trở thành thương hiệu như: dâu Cái Tàu, thúng rổ Cái Tàu,… Thậm chí, những cô gái hiền lành, chân chất xứ này trở thành gái Cái Tàu trong cách gọi của người xứ khác.

Nỗi nhớ thương ký ức

Ngồi trên chiếc đò dọc xuất phát từ bến tàu A (cũ) ở phường 1 (TP Cà Mau) xuôi dòng về sông Cái Tàu, đi được một đoạn, đò đến Vàm Cái Tàu, nơi có một cái chợ nhỏ xíu trên bờ. Ngày trước, mỗi lần đi ngang qua đây người ta đều thấy ghe xuồng tấp nập, tàu bè dập dìu không ngớt. Trên sông, hàng chục chiếc xuồng chèo bán mấy loại bánh trái, những món đồ đặc trưng của xứ Cái Tàu cho khách qua đường (thường là khách du lịch). Đây là lần hiếm hoi tôi đi đò dọc về U Minh sau bao nhiêu năm quê mình thay da đổi thịt. Từ hồi có đường nhựa (tuyến Cà Mau-U Minh) chạy dài từ TP Cà Mau đến tận xã Khánh Hội (U Minh), tôi không có dịp đi tàu nữa. Trong chuyến trở về cùng vài anh/chị nhà báo, nhà văn, nhạc sĩ… lần này, tôi chọn thuê hẳn một chiếc đò dọc để mọi người có thể ngắm cảnh U Minh từ phía sông, ngắm trọn vẹn dòng sông huyền thoại đã từng đi vào câu thơ khắc cốt ghi tâm của người dân xứ này: “Rừng U Minh muôn đời ghi nghĩa lớn-Sông Cái Tàu vạn thuở nhớ ơn sâu”. Ngang qua vàm Cái Tàu, tôi bàng hoàng khi nhận ra cảnh tượng tấp nập ngày trước giờ đã không còn nữa. Những chiếc xuồng chèo bán bánh ú lá tre nếp ngâm nước tro trong vắt, bánh mì nóng hổi, thúng tre, rổ tre khéo léo của người Cái Tàu,… đã vắng biệt, chỉ còn lại nơi này vài chiếc xà-lan cát nằm tư lự ven bờ. Một nỗi nhớ thương ký ức và niềm tiếc nuối len lỏi trong tôi.

Càng đi sâu vào hướng thị trấn U Minh, phong cảnh càng trù phú, tốt tươi. Hai bên bờ sông Cái Tàu là những rặng dừa nước ngả nghiêng soi bóng. Tôi không biết ai, đôi bàn tay bao dung nào đã gieo mầm để trăm năm dừa nước vẫn sinh sôi phát triển ở vùng sông nước này, lớp dừa nước này gục xuống thì chồi non khác mọc lên, khỏe khoắn che kín đôi bờ sông, điểm tô một mầu xanh mướt. Ngày tôi về, bầu trời trong xanh, nước sông cũng trong vắt một mầu. Vườn dâu da thấp thoáng bên sông, tôi chỉ bạn tôi, bạn tôi thu ống kính lại gần để quan sát được rõ. Đó là một trong những vườn dâu còn sót lại sau một thời gian nước mặn tràn về, dâu không có trái, hoặc có trái nhưng không có ruột  (xứ này gọi là dâu đẹt, dâu lép), người dân bấm bụng đốn đi để trồng cây khác hoặc phá đất làm vuông tôm. Vài vườn dâu bên bờ sông còn sót lại còng lưng gánh thương hiệu dâu Cái Tàu để người ta không quên lãng.

Đi qua những bến sông, đò dọc lướt trôi giữa mầu xanh dừa nước và cây trái, đò chúng tôi về đến thị trấn U Minh. Từ điểm nhìn trên đò dọc, tôi thấy trung tâm thị trấn U Minh chia làm hai nửa, một bên là khu hành chính, một bên là chợ dân sinh. Chợ giờ cũng khang trang, cao ráo và sạch sẽ hơn xưa. Dường như chợ U Minh, cầu U Minh,… hay bất kỳ hình ảnh nào của đất U Minh cũng trở thành mảnh hồn quê, để nhớ để thương trong tâm khảm của những người con xa xứ. Đò chạy chầm chậm, rẽ sóng vào sâu trong rừng để chúng tôi ngắm nhìn. Những nhánh lẻ mang nước sông Cái Tàu đi sâu vào từng ngóc ngách, nuôi lớn những cánh rừng tràm để bầy ong mật bay về làm tổ, hình thành nên thương hiệu Mật ong rừng tràm U Minh nức tiếng từ bao đời nay. 

Những chuyến tàu xuôi ngược

Hơn mười năm về trước, sông Cái Tàu chính là tuyến giao thông huyết mạch nối liền huyện U Minh với thành phố Cà Mau. Khi đó đường nhựa còn hẹp và chưa được nâng cấp, muốn ra thành phố Cà Mau phải đi bằng tàu, đò dọc. Những cái tên tàu như Minh Tân, Phú Hưng, Bưu điện,… đã trở thành kỷ niệm của người U Minh, trong đó có tôi. Ngày nhỏ, thoảng vài tháng tôi lại theo bà ra chợ tỉnh bán mấy loại đồ đan lát như thúng, rổ, nia-nghề truyền thống của xứ Cái Tàu. Mỗi lần đi chợ bà cháu tôi phải thức dậy thật sớm để đón tàu từ huyện U Minh chạy ra chợ tỉnh. Trong khoang tàu gỗ chia làm hai dãy, những người lạ ngồi đâu mặt lại với nhau, ngồi kề bên nhau, chuyện trò đôi ba câu mà thành người quen của nhau, để rồi khi lên tàu lại thấy luyến lưu bịn rịn. 

Những chuyến tàu cứ xuôi ngược trên dòng sông. Những chuyến tàu chở người đi xa, đón người trở lại. Tôi nhớ cái không khí của những buổi chiều quê trên bến sông, người ở quê rộn rã đứng trên bến tàu đón người phương xa về trong niềm nhớ mong da diết. Tôi nhớ những sớm mai đầy nắng, trên dòng Cái Tàu, những chiếc ghe câu tư lự, vài bóng người ngồi trên mũi ghe thả dây câu, quăng chài, giăng lưới trên sông,… Đó là những hình ảnh, những mảng màu góp phần làm cho bức tranh sông quê thêm đẹp.

Hiện nay, đã có nhiều cây cầu khang trang, vững chãi bắc qua sông Cái Tàu như cầu Khánh An (xã Khánh An), cầu Khai hoang (xã Nguyễn Phích), cầu thị trấn U Minh,… Dòng Cái Tàu năm xưa mỗi lần muốn qua sông phải đón đò, bởi xuồng tròng trành hiểm trở giờ đã có những chiếc cầu nối bờ vui, nối “bên này” - “bên ấy”. Tuy vậy, những bến phà trên sông với những cái tên lạ lùng mộc mạc như phà Nàng Chăng, phà Phố Nguyên, phà Ổ Ó,… vẫn còn hoạt động vì cầu được bố trí xa nhau. Mấy lần về quê, qua phà, tôi tự hỏi đã bao lần phà đưa mình qua lại trên sông, những chiếc phà gỗ mầu nâu trầm ngấm nước, những người chạy phà khuôn mặt hiền lành, dù nắng hay mưa vẫn cần mẫn qua lại trên sông. Tôi thầm cảm ơn họ vì đã đưa tôi trên dòng sông để tôi được trở về với xóm nhỏ êm đềm nép mình bên dòng Cái Tàu xanh mướt.

“Có một dòng sông chảy tràn trong trí nhớ…”

Đứng trên cầu thị trấn U Minh trong một chiều lộng gió, vài ba đứa trẻ đứng trên cầu thả diều (dưới sự giám sát của ba má chúng) cười tíu tít vui tai. Tôi nhìn dòng Cái Tàu uốn lượn, lặng lờ trôi, những chiếc xuồng, chiếc vỏ lãi chỉ bé bằng bàn tay luồn qua chân cầu rồi xé sóng chạy về phía chợ U Minh tấp nập, sôi động. Tôi thấy sông quê mình đẹp quá, dẫu có đi đâu, có ngắm nhìn những dòng sông đẹp nào khác trên đất nước mình thì dòng Cái Tàu vẫn chiếm một vị trí không đổi trong trái tim tôi.

Sông Cái Tàu-mảnh hồn của đất U Minh, dòng sông oằn mình trong lịch sử đấu tranh của người U Minh, dòng sông đã cưu mang, nuôi dưỡng con người xứ “muỗi mòng, đỉa vắt”. Và, dòng sông Cái Tàu đã nuôi lớn tâm hồn tôi để từ đó tôi thấy lòng mình gắn chặt với vùng sông nước mênh mang, gắn chặt với nơi này, dù có đi đâu cũng đau đáu hướng về U Minh bốn mùa tràm thơm, sông chảy. Tôi không hiểu rõ ngọn nguồn của cái tên Cái Tàu, cái tên dung dị, mộc mạc, chân chất; nhưng tôi lại tự hào mỗi khi đi xa và giới thiệu với bạn bè rằng: Tôi là người Cái Tàu, người con của mảnh đất anh hùng, của những cánh rừng tràm bạt ngàn và bầy ong làm nên thương hiệu của quê hương xứ sở…

Có thể bạn quan tâm

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Những người thân của Ma Oanh đón bố mẹ chồng của cô sang thăm.

Chàng kỹ sư Úc ở rể buôn làng Chu Ru

Chàng trai ấy cùng lên rẫy chăm sóc cà-phê, lội ruộng nhổ cỏ lúa với mọi người, ghé thăm rồi tặng chút quà cho các gia đình khó khăn. Anh là Congerton Matthew, một kỹ sư xây dựng từ nước Úc (Australia) xa xôi về plei Tounéh làm con rể của bà Ma Thiêu giữa cộng đồng tộc người Chu Ru.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Vị trí tìm kiếm ở sâu trong rừng nguyên sinh.

Hãy về đồng đội ơi! (Kỳ 1)

Chúng ta đang vào trong giai đoạn cao điểm của chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Đó là một cuộc ra quân thần tốc trên mọi mặt trận, với quyết tâm cao nhất đưa nhiều nhất có thể những người con nằm lại chiến trường năm xưa được trở về. Những ngày này, phóng viên Báo Thời Nay đã theo chân Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) K72 (Bộ CHQS TP Đồng Nai), theo hành trình đưa những người lính nằm dưới đất sâu hơn nửa thế kỷ, được về với quê hương.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.