Tối 11/8, Phòng điều khiển không lưu Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất tràn ngập màu của những cảnh báo. Hai đợt UAV (Unmanned Aerial Vehicle - phương tiện bay không người lái) được phát hiện xâm nhập vùng cấm bay của sân bay. Hơn 100 chuyến bay bị gián đoạn, hàng nghìn hành khách lâm vào cảnh trễ chuyến. Những sự cố như vậy liệu có phải lần đầu hay không có cách nào tránh được?
Trong nhiều năm gần đây, các phương tiện này không còn là thứ hàng xa xỉ và hiếm gặp. Nó phổ biến tới mức rất nhiều bạn trẻ thậm chí sắm cho riêng mình một chiếc flycam để chụp ảnh hay quay video từ trên cao. Nhiều cửa hàng điện tử bày bán công khai các loại phương tiện bay không người lái, từ vài trăm nghìn cho đến vài chục triệu đồng.
17 giờ 34 phút, đài chỉ huy sân bay nhận cảnh báo đầu tiên của một chuyến bay. UAV xuất hiện cách sân bay khoảng 16 km, ở độ cao 900m. Tuy khoảng cách khá xa nhưng nó đã uy hiếp hành lang hạ cánh máy bay. Đây cũng là lần đầu tiên UAV xâm phạm khu vực cấm bay của Sân bay Tân Sơn Nhất.
Tại Việt Nam, việc quản lý và kiểm soát UAV được thực hiện theo Nghị định 288/2025/NĐ-CP. Theo đó, phương tiện bay thuộc diện khai thác, sử dụng phải có giấy chứng nhận đăng ký hoặc đăng ký tạm thời còn hiệu lực. Từ ngày 20/7/2026, Thông tư 78/2026/TT-BCA đã thiết lập hệ thống đăng ký, quản lý phương tiện bay do Bộ Công an chủ trì. Một khi các phương tiện bay đăng ký sẽ được cấp mã định danh phương tiện bay, nhằm xác định chủ sở hữu. Nói một cách khác, phương tiện thuộc diện phải đăng ký còn phải đăng ký và gắn thiết bị quản lý hoạt động bay trước khi đưa vào khai thác, sử dụng. Thế nhưng để xác định tính hợp pháp một chiếc UAV đang bay, đôi khi chỉ như một chấm đen trên nền trời, lại là cả một câu chuyện khác.
Đó là chưa tính đến khoảng thời gian chiếc UAV đã rời khỏi cửa hàng nhưng chưa bước vào hệ thống định danh của Nhà nước. Ở Việt Nam, người dùng muốn mua một chiếc sim điện thoại. Họ bắt buộc phải xuất trình căn cước công dân. Danh tính người sử dụng gắn liền với số thuê bao ngay từ đầu. Với UAV, thiết bị được bán ra thị trường trước, còn việc đăng ký với cơ quan quản lý là một thủ tục riêng. Hoàn toàn có thể diễn ra việc một người mua, sau đó không đăng ký nhưng vẫn sử dụng.
Hàng trăm chuyến bay đã bị trì hoãn không đáng có. Nhưng điều đáng lo hơn nằm ở chính chiếc UAV nhỏ bé đang lơ lửng trên đầu. Một thiết bị vốn được mua để quay vài tấm ảnh có thể trở thành vật thể va chạm với máy bay, rơi xuống khu dân cư hoặc mang theo những thứ mà người dưới mặt đất không thể kiểm soát. Trên thế giới, UAV đã được sử dụng cho những mục đích nguy hiểm hơn nhiều, từ do thám, phá hoại đến mang chất nổ. Một chiếc UAV bay trái phép trong vùng cấm không nên chỉ được nhìn như một hành vi nghịch dại.
Sự cố tại Sân bay Tân Sơn Nhất không phải là hy hữu nếu xét tới phạm vi cả nước. Hồi đầu năm nay, 54 chuyến bay tại sân bay Đà Nẵng đã bị ảnh hưởng vì UAV. Một hành vi có thể khiến cả sân bay phải dừng hoạt động, đẩy hàng nghìn người vào tình trạng bị động và trong kịch bản xấu nhất đe dọa an toàn tính mạng, liệu chỉ nên được nhìn nhận như một vi phạm hành chính? Khi UAV đã trở thành hàng hóa phổ biến, quản lý không thể chỉ bắt đầu từ lúc nó bay lên trời.