Gỡ... tư duy ăn xổi

Thủ tướng Chính phủ đã nhiều lần chỉ đạo, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương phải "tuyên chiến" với khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU).

Cần nhiều biện pháp để phát triển nghề cá theo hướng chuyên nghiệp, giảm cường lực khai thác, tăng cường nuôi biển. (Ảnh LÊ VĂN CHƯƠNG)
Cần nhiều biện pháp để phát triển nghề cá theo hướng chuyên nghiệp, giảm cường lực khai thác, tăng cường nuôi biển. (Ảnh LÊ VĂN CHƯƠNG)

Đoàn thanh tra của Ủy ban châu Âu (EC) chuẩn bị sang Việt Nam, do đó chúng ta càng cần quyết tâm hành động trên tinh thần "6 rõ: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả".

Còn hiện tượng "trên nóng dưới lạnh"

Đoàn thanh tra của EC sẽ sang Việt Nam kiểm tra lần thứ 5 là cơ hội để Việt Nam gỡ "thẻ vàng" IUU đã được cảnh báo từ năm 2017. Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác IUU đặt mục tiêu, đến ngày 15/11/2025, phải xử lý dứt điểm bốn vấn đề tồn tại, bất cập, gồm: quản lý đội tàu; theo dõi, kiểm soát, giám sát hoạt động tàu cá; truy xuất nguồn gốc thủy sản; thực thi pháp luật, xử lý vi phạm. Điều này càng cho thấy quyết tâm thiết lập lại trật tự quản lý đội tàu cá đúng luật, chặt chẽ, nghiêm minh, phát triển ngành thủy sản, nghề cá đánh bắt xa bờ bền vững, an toàn.

Cũng phải khẳng định, từ khi bị cảnh báo "thẻ vàng", các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều nỗ lực, cố gắng thực hiện các chỉ đạo của Ban Bí thư, Chính phủ, tuy nhiên công tác này vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, chưa bảo đảm tiến độ theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác IUU. Từ năm 2018 đến 2023, việc kiểm soát, xác nhận, chứng nhận và truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác còn nhiều tồn tại, gây ảnh hưởng lớn đến ngành thủy sản.

Trên thực tế, vẫn có tình trạng "trên nóng dưới lạnh", nhiều địa phương chưa quản lý, kiểm soát loại tàu cá "3 không" (không đăng ký, không đăng kiểm, không được cấp phép), cơ quan chức năng chưa thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ trong điều tra, xác minh, xử phạt các hành vi khai thác IUU. Ngoài ra, việc chấp hành pháp luật của một bộ phận nhân dân, doanh nghiệp còn chưa nghiêm, coi việc gỡ "thẻ vàng" là nhiệm vụ của cơ quan chức năng; hệ thống cảng cá, dịch vụ hậu cần nghề cá chưa được đầu tư đồng bộ, còn xảy ra ô nhiễm môi trường, bồi lắng cảng…

Việt Nam có thể phối hợp hoạt động nuôi biển với du lịch, điện gió và các ngành kinh tế biển khác. Tuy nhiên, cần giao khu vực biển 30 năm hoặc lâu hơn để doanh nghiệp, người dân có kế hoạch đầu tư lâu dài, bài bản. Và cần tạo điều kiện, hỗ trợ người nuôi biển vay vốn, hợp tác kinh doanh và tham gia bảo hiểm.

Giải pháp phát triển bền vững

Để gỡ được "thẻ vàng", các bộ, ngành phải phối hợp chặt chẽ trong chia sẻ thông tin, dữ liệu, kết nối dữ liệu. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cần thúc đẩy kết nối với cơ sở dữ liệu dân cư, tiến tới số hóa. Bộ Khoa học và Công nghệ cần phối hợp các lực lượng chức năng để kiểm tra được các tàu cá ra-vào cảng, hoạt động trên biển hoặc tàu cá vi phạm. Đồng thời, tuyên truyền, vận động ngư dân chấp hành pháp luật, tạo điều kiện chuyển đổi nghề bền vững cho ngư dân.

Tiếp theo, cần xây dựng hệ sinh thái truy xuất nguồn gốc điện tử xuyên suốt từ ngư dân, cảng cá, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Nếu chỉ làm truy xuất trên giấy hoặc tách rời từng khâu sẽ không tạo được sự tin cậy với thị trường quốc tế. Cụ thể, việc bắt buộc lắp đặt và duy trì hoạt động liên tục của thiết bị giám sát hành trình với tất cả tàu cá có chiều dài từ 15m trở lên là điều kiện tiên quyết. Đồng thời, các địa phương cần có cơ chế hỗ trợ tài chính cho ngư dân khi lắp thiết bị.

Song song đó, cần triển khai ứng dụng nhật ký khai thác điện tử trên thiết bị di động để ngư dân cập nhật sản lượng, vị trí, loài cá khai thác theo thời gian thực. Dữ liệu này sẽ liên kết với hệ thống kiểm soát tại cảng cá và doanh nghiệp để tạo ra chuỗi truy xuất liên tục và minh bạch.

Gỡ "thẻ vàng" là việc khó, nhưng phải thực hiện bền bỉ, giải quyết dứt điểm bất cập, đó là nguồn lợi hải sản trong vùng biển chủ quyền của ta đang có xu hướng suy giảm và ngày càng cạn kiệt. Nguồn hải sản dần cạn kiệt, việc khai thác gặp nhiều khó khăn, khi ngư dân đi khai thác mà không được cá, họ sẽ làm liều, đi đánh bắt ở vùng biển khác.

Vì vậy, song song với việc giảm cường lực khai thác hải sản trên vùng biển gần bờ và triệt phá các phương thức, phương tiện khai thác tận diệt, cần phát triển mạnh nuôi trồng hải sản trên biển. Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 11/3/2021, đã nêu rõ: "Phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển thành một lĩnh vực sản xuất hàng hóa, khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản quy mô công nghiệp ở các vùng biển mở; tạo khối lượng sản phẩm lớn phục vụ chế biến xuất khẩu và tiêu thụ nội địa".

PGS,TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam, rất có lý khi cho rằng: "Việt Nam có tiềm năng nuôi biển rất lớn, có nhiều điểm lý tưởng nhờ bờ biển khúc khuỷu, nhiều eo vịnh kín gió, yên tĩnh và gần bờ. Điều kiện này giúp nuôi biển hiệu quả, giảm rủi ro hơn so các vùng biển hở. Một khi nuôi biển phát triển tốt, ngư dân có việc làm ổn định, áp lực khai thác tự nhiên sẽ giảm, cũng giảm hành vi vi phạm vùng khai thác, từ đó góp phần giải quyết bài toán IUU và hướng đến nghề cá bền vững, có trách nhiệm".

Trong dài hạn, Việt Nam cần xây dựng các cụm công nghiệp nuôi biển, bởi đó chính là phương thức tổ chức sản xuất mới và giải pháp đột phá. Để phát triển nuôi biển thành ngành kinh tế sản xuất hàng hóa quy mô lớn, doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt, đóng góp quan trọng về sản lượng, giá trị và việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong toàn ngành thủy sản, thu hút đầu tư phát triển nuôi biển ở vùng biển xa bờ, phục vụ xuất khẩu. Ngoài ra, công tác cải tạo luồng lạch, bến bãi, các khu dịch vụ hậu cần nghề cá cũng phải được làm tốt hơn nữa.

Tài nguyên biển là hữu hạn, muốn tham gia sâu vào sân chơi lớn, chúng ta phải thay đổi tư duy "ăn xổi", bỏ các hoạt động khai thác tự phát, manh mún và tư duy hành động đối phó. Gỡ "thẻ vàng" chỉ là một mục tiêu trước mắt, xa hơn là phát triển ngành thủy sản lớn mạnh, bền vững, góp phần phát triển kinh tế gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia ■

CHUYỂN HÓA QUYẾT TÂM THÀNH HÀNH ĐỘNG

• Các bộ, ngành, địa phương báo cáo tiến độ hằng tuần về chống khai thác IUU; nếu 3-4 tuần không chuyển biến phải có văn bản báo cáo cấp có thẩm quyền. Địa phương nào không làm tốt, Bí thư và Chủ tịch phải chịu trách nhiệm.

• Bộ Công an tập trung điều tra, truy tố, xét xử những vụ án IUU, nhất là đường dây tổ chức đưa tàu cá vượt ranh giới; phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương triển khai VNeID quản lý ngư dân, tàu cá; tiếp tục khởi tố các vụ án liên quan IUU.

• Các địa phương phải hoàn thành cấp phép, lắp thiết bị giám sát hành trình; không để tàu không phép ra khơi; đồng thời tập trung tuyên truyền sâu rộng, hỗ trợ chuyển đổi nghề, hoàn thiện hạ tầng cảng cá.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chỉ đạo tại phiên họp lần thứ 18 của Ban Chỉ đạo Quốc gia về chống khai thác IUU

Có thể bạn quan tâm

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.